mở đầu là truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Ở thể loại tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh là nhà văn đầu tiên quan tâm sâu sắc đến nông thôn, nông dân với các tác phẩm như: Nhân tình ấm lạnh (1925), Thầy thông ngôn (1926), Cha con nghĩa nặng (1929), Khóc thầm (1929), Con nhà nghèo (1930). Có thể khẳng định rằng, Hồ Biểu Chánh là nhà văn chuyên tâm và có nhiều thành tựu nhất khi viết về nông thôn trong 30 năm đầu thế kỷ XX. Bước sang giai đoạn 1930 - 1945, vấn đề nông thôn, nông dân cũng được các nhà văn thuộc cả trào lưu văn học 14 hiện thực và văn học lãng mạn phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp.
Những tiểu thuyết thành công khi viết về nông thôn và nông dân ở trào lưu văn học hiện thực có Giông tố, Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Làm lẽ (Mạnh Phú Tư), Quê người (Tô Hoài), Con trâu (Trần Tiêu). Ngoài ra, các tác giả Nam Cao, Bùi Hiển, Kim Lân… đều được coi là đỉnh cao của trào lưu văn học hiện thực nói chung, đề tài về nông thôn nói riêng, song lại thiên về sáng tác truyện ngắn. Ở trào lưu văn học lãng mạn, các tác phẩm của các nhà văn Tự lực văn đoàn như Tối tăm (Nhất Linh), Gia đình (Khái Hưng), Con đường sáng (Hoàng Đạo). đều ít nhiều đề cập đến nông thôn và người nông dân.
Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám 1945, nông thôn đã là đề tài được nhiều nhà văn quan tâm với nhiều tác phẩm đặc sắc góp phần đáng kể vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi dân tộc. Tuy nhiên, bấy giờ chưa có công trình nào dành riêng nghiên cứu văn học về đề tài nông thôn. Vấn đề nông thôn và người nông dân cũng chưa được đề cập đến một cách trực diện trong các bài phê bình. Các tác phẩm viết về nông thôn của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… chủ yếu được giới thiệu, bình giá khái quát trong một số bài viết đăng trên báo hoặc tạp chí.
Tiêu biểu như bài viết “Kép Tư Bền, một tác phẩm thuộc về cái trào lưu “nghệ thuật vị dân sinh” ở nước ta” (Hải Triều) [254]; “Tắt đèn của Ngô Tất Tố” (Vũ Trọng Phụng); “Một nhà văn của dân quê, Ngô Tất Tố trong Tắt đèn” (Trần Minh Tước); “Tắt đèn - tiểu thuyết của Ngô Tất Tố” (Phú Hương) [211]. các nhà phê bình đều đánh giá cao giá trị hiện thực trong các tác phẩm được đề cập. Riêng tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan vừa ra đời, đã bị nhà cầm quyền cấm lưu hành. Hai tiểu thuyết về nông thôn của Vũ Trọng Phụng là Giông tố, Vỡ đê xuất bản cùng hai cuốn Số đỏ, Làm đĩ và phóng sự Cơm thầy cơm cô (1936) đã trở thành hiện tượng gây chấn động dư luận, làm dấy lên những cuộc bút chiến gay gắt.
Tiêu điểm là cuộc bút chiến “dâm hay không dâm” được mở đầu bằng bài viết “Văn chương dâm uế” của Thái Phỉ đăng trên tờ Tin văn số 25 ngày 1/9/1936. Trương Chính dù nhận xét “văn ông là khiêu dâm” nhưng vẫn khách quan đánh giá: “Giông tố là một cuốn phim tài liệu cần cho các nhà sử học muốn tái thiết xã hội Việt Nam vào thế kỷ XX” [245; 547]. Nguyên nhân đầu thế kỷ XX chưa có công trình dành riêng nghiên cứu văn học về đề tài nông thôn phần nào do hạn chế của thời đại. Đây là giai đoạn các tư tưởng văn nghệ nước ngoài mới bắt đầu du nhập vào Việt Nam, khoa nghiên cứu, phê bình văn học cũng mới manh nha hình thành.
Trong số các công trình nghiên cứu, phê bình văn học tiêu biểu trước Cách 15 mạng tháng Tám như Khảo về tiểu thuyết (1921) của Phạm Quỳnh, Lược khảo về tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết (1932) của Trúc Hà, Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Dưới mắt tôi (1939) của Trương Chính, Ba mươi năm văn học (1941) của Mộc Khuê, Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1944) của Dương Quảng Hàm. thì Phê bình và cảo luận và Nhà văn hiện đại là hai công trình đề cập nhiều nhất đến các tiểu thuyết gia viết về nông thôn. Cuốn Phê bình và cảo luận được Thiếu Sơn bố cục thành ba phần chính: phê bình tác giả, phê bình tác phẩm và cảo luận (đề cập đến những vấn đề gây xôn xao dư luận đương thời). Ở phần phê bình tác giả, mặc dù chỉ là những nét phác vẽ về sự nghiệp, vị trí, phong cách của từng nhà văn, song tác giả cuốn sách đã đánh giá hết sức khách quan về những tác giả đương thời trong đó có Hồ Biểu Chánh.
Có lẽ, ông là người đầu tiên xác định đúng vị trí của Hồ Biểu Chánh trong lịch sử văn học Việt Nam khi gọi nhà văn là “Nhân vật đúng đắn trong cái làng đông người mà lại lộn xộn hơn hết thảy” [187; 45]. Ở Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã khảo sát giá trị nội dung, nghệ thuật cũng như đánh giá vị trí của 79 nhà văn hiện đại Việt Nam từ khi có chữ quốc ngữ đến những tác giả mới xuất hiện từ đầu thập kỷ 40. Biên độ khảo sát của nhà phê bình tương đối rộng, thuộc nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, ký, khảo cứu phê bình. Đối với thể loại tiểu thuyết, ông phân chia thành nhiều dòng khác nhau, mỗi dòng đều có những đại diện tiêu biểu.
Tuy nhiên lại chưa có sự phân loại tiểu thuyết về đề tài nông thôn. Chẳng hạn, nghiên cứu theo dòng tiểu thuyết tả chân có Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Tô Hoài…; thuộc dòng tiểu thuyết xã hội có Nguyên Hồng, Thạch Lam… Đối với Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan lại nghiên cứu dưới góc độ là các nhà văn viết thể loại phóng sự. Riêng Hồ Biểu Chánh, tác giả của Nhà văn hiện đại nghiên cứu với tư cách là một tiểu thuyết gia. Đáng tiếc rằng, trong công trình của mình, Vũ Ngọc Phan không giới thiệu Hồ Biểu Chánh như một đại diện tiêu biểu và tiên phong khi viết về đề tài nông thôn, mà mới chỉ dừng lại ở việc “điểm” qua nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn.
Bên cạnh đó, Nhà văn hiện đại cũng không có tên của Nam Cao - nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn. Mặc dù còn một vài hạn chế nhất định, song những tư liệu về tác giả, tác phẩm mà Vũ Ngọc Phan cung cấp trong Nhà văn hiện đại đến nay đã trở thành một cuốn cẩm nang không thể thiếu cho những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 16 Sau cách mạng tháng Tám từ 1945 đến 1975, nhiều công trình nghiên cứu vẫn tiếp tục quan tâm đến tiểu thuyết về nông thôn ra đời trước 1945. Trong số các công trình nghiên cứu, phê bình văn học tiêu biểu như Việt Nam văn học sử trích yếu (Nghiêm Toản, 1949); Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập IV (Nguyễn Đình Chú, 1962); Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ, 1965); Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Thanh Lãng, 1967); Việt Nam văn học sử (1967) và Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (Bùi Đức Tịnh, 1974); Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945 - 1970 (Phong Lê, 1972); Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Phan Cự Đệ, 1974); Lịch sử tiểu thuyết Việt Nam và hàng ngũ các tiểu thuyết gia Việt Nam qua các thời đại (Lê Huy Oanh, 1974); Từ truyện đến tiểu thuyết Việt Nam và một quan điểm văn học (Doãn Quốc Sỹ, 1974).
nhiều nghiên cứu có nhắc đến Hồ Biểu Chánh, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Trong cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh (Nguyễn Khuê) [110], nhà nghiên cứu đã phác họa “bức chân dung” khá trọn vẹn về cuộc đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh. Đây là công trình quan trọng khi nghiên cứu nhà văn tiêu biểu nhất viết về nông thôn trong văn học Việt Nam. Các bài viết “Ngô Tất Tố - một cây bút chiến đấu xuất sắc trong văn học Việt Nam” (Huệ Chi - Phong Lê) [33]; “Những đóng góp của Ngô Tất Tố trong Tắt đèn” (Phong Lê) [119].
tiếp tục đánh giá cao giá trị các tác phẩm của Ngô Tất Tố. Chuyên luận Vũ Trọng Phụng với chúng ta tập hợp nhiều bài viết ca ngợi tài năng và văn nghiệp của Vũ Trọng Phụng. Trong đó, Trương Tửu cho rằng: “Cuốn Vỡ đê đã tố cáo và lên án cả xã hội thống trị độc ác, dâm ô, xảo trá. Đáng tiếc rằng, chưa có bài viết, công trình nào nghiên cứu tiểu thuyết về nông thôn của Vũ Trọng Phụng.
Đối với các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, đáng lưu ý là các bài viết: “Bước đường cùng tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan” (Trương Chính) [35]; “Đọc lại Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan” (Nam Mộc) [148]; “Vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn trong truyện của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng” (Lê Thị Đức Hạnh) [85]. Trong số đó, Trương Chính đã khẳng định: “Nguyễn Công Hoan là nhà văn đàn anh dẫn đầu trong việc đi sâu vào nông thôn” [35]. Ở giai đoạn này, những sáng tác về nông thôn, nông dân tiếp tục xuất hiện ngày càng nhiều và có nhiều thành tựu mới trong cách tiếp cận hiện thực. Những tác phẩm như Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan), Xung đột (Nguyễn Khải), Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Tầm nhìn xa (Nguyễn Khải), Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Cửa sông (Nguyễn 17 Minh Châu), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên), Ao làng (Ngô Ngọc Bội)… đã phản ánh nhiều vấn đề lớn của dân tộc như đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa, không khí sôi nổi trong sản xuất và chiến đấu, khẳng định con đường đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa… Đặc biệt các tác phẩm Bão biển (Chu Văn), Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải) đã có cái nhìn khá sâu sắc về người nông dân.
Ở miền Nam, các tác phẩm Đất nước đứng lên, Đất Quảng (Nguyên Ngọc), Hòn Đất (Anh Đức), Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh), Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi (Phan Tứ). đã thể hiện được hình tượng người nông dân tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng vĩ đại của dân tộc. Nghiên cứu sáng tác về nông thôn giai đoạn này có một số bài viết đáng chú ý.