Tổng quan luận án

Đề tài nông thôn và hình tượng người nông dân giữ vị trí trung tâm, xuyên suốt tiến trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Việc tìm hiểu nông thôn và làng xã từ lâu đã được xem là phương thức tiếp cận cơ bản để nhận diện cấu trúc văn hóa, đời sống xã hội và tâm tính con người Việt Nam. Các công trình nghiên cứu nhân học, dân tộc học và địa lý nhân văn của các học giả phương Tây như Pierre Gourou (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ), G. Condominas (Chúng tôi ăn rừng), Olivier (“Giúp đỡ” và tương trợ trong cộng đồng làng quê ở miền Bắc Việt Nam: Quan hệ giữa tình đoàn kết và sự phụ thuộc), Oscar Salemink (Tìm kiếm an toàn tinh thần trong xã hội Việt Nam đương đại), Suenari Michio (Tổ tiên được hình tượng ra như thế nào trên bàn thờ: Phân tích so sánh với các xã hội Đông Á khác) cùng nhiều nghiên cứu chuyên ngành trong nước đã xác lập nền tảng nhận thức về không gian làng xã truyền thống và những biến đổi lịch sử.

Bước sang đầu thế kỷ XXI, những biến chuyển kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật và làn sóng đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo nông thôn. Văn học thời kỳ này có những bước chuyển mình từ tư duy nghệ thuật đến phương thức biểu hiện nhằm phản ánh hiện thực đa chiều và khám phá đời sống tinh thần, tâm linh của con người. Thể loại tiểu thuyết với đặc tính mềm dẻo và dung hợp nhiều phương thức biểu đạt trở thành công cụ đắc lực để nắm bắt hiện thực mới. Tuy nhiên, tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ một khoảng trống nghiên cứu rõ rệt: tiểu thuyết về đề tài nông thôn xuất bản trong những năm đầu thế kỷ XXI vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống như một giai đoạn độc lập mở ra chặng đường mới cho tiểu thuyết nông thôn đương đại. Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Hoàng Thị Kim Oanh với đề tài Tiểu thuyết về đề tài nông thôn Việt Nam đầu thế kỷ XXI (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 9.21, thực hiện tại Trường Đại học Hồng Đức dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn Nguyễn Thanh Tâm) được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục đích nghiên cứu của luận án hướng tới việc nhận diện, lý giải các đặc điểm nổi bật về nội dung và lối viết của tiểu thuyết viết về nông thôn đầu thế kỷ XXI, chỉ ra những đóng góp của thể loại này trong tiến trình văn học dân tộc cũng như những giới hạn cần vượt qua. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về đề tài nông thôn trong văn học Việt Nam, tiến trình vận động của tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam và những yếu tố tác động đối với sự phát triển của tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI.
  2. Nhận diện, phân tích và lý giải về hiện thực nông thôn được thể hiện trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ những góc nhìn mới (trên các bình diện lịch sử, văn hóa, sinh thái học).
  3. Phân tích hình tượng nhân vật người nông dân trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ những góc nhìn mới (trên các bình diện nhân học xã hội, văn hóa học, sinh thái học).
  4. Nhận diện, phân tích những đặc điểm của lối viết trong tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam đầu thế kỷ XXI.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án khảo sát thể loại tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn Việt Nam xuất bản đầu thế kỷ XXI. Phạm vi nội dung tập trung vào các đặc điểm nội dung phản ánh và nghệ thuật lối viết. Phạm vi tư liệu bao quát các tiểu thuyết xuất bản trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ XXI đã nhận được sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình. Tư liệu khảo sát chủ yếu gồm các tác phẩm của Tô Hoài, Võ Văn Trực, Nguyễn Hữu Nhàn, Trần Quốc Tiến, Trịnh Thanh Phong, Dương Hướng, Nguyễn Phan Hách, Tạ Duy Anh, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường, Đỗ Minh Tuấn, Bùi Thanh Minh, Nguyễn Thế Hùng, Dương Duy Ngữ, Thu Loan, Đỗ Tiến Thụy, Đỗ Bích Thúy (chi tiết tại Phụ lục 1). Luận án tập trung nhiều vào tiểu thuyết viết về nông thôn miền Bắc, có mở rộng đến nông thôn miền Nam và miền núi khi phân tích sự biến đổi không gian do đô thị hóa. Đồng thời, luận án thực hiện so sánh đối chiếu với các tác phẩm cùng đề tài trong thế kỷ XX (thống kê tại Phụ lục 2) để làm rõ tính kế thừa và sự vận động của thể loại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện điểm lại có hệ thống toàn bộ tiến trình sáng tác và tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về đề tài nông thôn trong văn học Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử:

Ở giai đoạn trước năm 1945, tác phẩm truyện Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn trên tạp chí Nam Phong được xác định là tác phẩm đặt nền móng. Tiếp đó, Hồ Biểu Chánh là nhà văn tiêu biểu định hình thể loại qua hàng loạt tiểu thuyết: Nhân tình ấm lạnh (1925), Thầy thông ngôn (1926), Cha con nghĩa nặng (1929), Khóc thầm (1929), Con nhà nghèo (1930). Giai đoạn 1930 - 1945 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của dòng văn học hiện thực với các tác phẩm: Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Giông tố, Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Làm lẽ (Mạnh Phú Tư), Quê người (Tô Hoài), Con trâu (Trần Tiêu), cùng các sáng tác của Tự lực văn đoàn như Tối tăm (Nhất Linh), Gia đình (Khái Hưng), Con đường sáng (Hoàng Đạo). Về mặt nghiên cứu phê bình, các công trình và bài viết tiêu biểu thời kỳ này gồm: bài phê bình của Hải Triều về Kép Tư Bền; bài viết của Vũ Trọng Phụng, Trần Minh Tước, Phú Hương về Tắt đèn; cuộc tranh luận về Giông tố, Vỡ đê với ý kiến của Thái Phỉ và Trương Chính; các công trình chuyên luận như Khảo về tiểu thuyết (1921) của Phạm Quỳnh, Lược khảo về tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết (1932) của Trúc Hà, Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Dưới mắt tôi (1939) của Trương Chính, Ba mươi năm văn học (1941) của Mộc Khuê, Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1944) của Dương Quảng Hàm.

Giai đoạn 1945 - 1975, tiểu thuyết nông thôn hòa vào dòng văn xuôi cách mạng với các tác giả và tác phẩm: Con trâu, Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Xung đột, Chủ tịch huyện, Tầm nhìn xa (Nguyễn Khải), Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Bão biển, Đất mặn (Chu Văn), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên), Ao làng (Ngô Ngọc Bội), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Đất nước đứng lên, Đất Quảng (Nguyên Ngọc), Hòn Đất (Anh Đức), Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh), Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi (Phan Tứ). Các nghiên cứu giai đoạn này được ghi nhận qua các công trình lịch sử văn học của Nghiêm Toản (1949), Nguyễn Đình Chú (1962), Phạm Thế Ngũ (1965), Thanh Lãng (1967), Bùi Đức Tịnh (1967, 1974), Phong Lê (Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945 - 1970, 1972), Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, 1974), Lê Huy Oanh (1974), Doãn Quốc Sỹ (1974), chuyên luận Chân dung Hồ Biểu Chánh của Nguyễn Khuê, các bài viết của Huệ Chi, Phong Lê, Trương Chính, Nam Mộc, Lê Thị Đức Hạnh, Phan Nhân, Hoài Thanh, Thành Duy, Trần Trọng Đăng Đàn.

Giai đoạn từ sau 1975 đến hết thế kỷ XX, tiểu thuyết có bước chuyển từ chặng tiền đổi mới (1975 - 1985) với Sao đổi ngôi (Chu Văn), Cha và con và… (Nguyễn Khải), Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn) sang thời kỳ đổi mới (từ 1986) với hàng loạt tác phẩm: Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Kẻ ám sát cánh đồng (Nguyễn Quang Thiều), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường). Nghiên cứu phê bình giai đoạn này ghi nhận Hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh tại Tiền Giang (1988), các công trình của Phan Thị Ngọc Lan, Trần Xuân Phong, Huỳnh Thị Lành, Trang Quan Sen, Nguyễn Văn Nở, Phan Tấn Tài; các sách nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng của Trần Hữu Tá, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hoành Khung; giáo trình của Phan Cự Đệ và Trần Đình Hượu; các bài viết của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Phong Lê, Thành Duy, Trần Cương, Duy Lập, Lê Thị Đức Hạnh, Lâm Tùng, Dương Trọng Dật, Lê Thành Nghị, Mai Huy Bích, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Hòa, Trung Trung Đỉnh, Nguyên Ngọc, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Ngô Thảo, Thiếu Mai, Hồ Phương. Cấp độ luận án có công trình của Lã Duy Lan, Nguyễn Thị Hương Lan, Nguyễn Thị Huệ.

Giai đoạn đầu thế kỷ XXI, các công trình nhìn lại thế kỷ XX và nghiên cứu tác phẩm mới gồm: Văn xuôi viết về nông thôn - tiến trình và đổi mới (Lã Duy Lan), Văn chương và cảm nhận (Tôn Phương Lan, 2005), Tiểu thuyết Việt Nam 1900 – 1930 (Lê Tú Anh), Hồ Biểu Chánh, người mở đường cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam (Trang Quan Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở), các bài viết của Phong Lê, Huỳnh Thị Lan Phương, Vương Trí Nhàn, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Hà, Hoàng Minh Tường.

Giai đoạn lịch sử Tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu Tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu
Đầu thế kỷ XX - 1945 Sống chết mặc bay, Con nhà nghèo, Bước đường cùng, Giông tố, Vỡ đê, Tắt đèn, Quê người, Con trâu Hải Triều, Vũ Trọng Phụng, Trương Chính, Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại), Dương Quảng Hàm
1945 - 1975 Con trâu, Xung đột, Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm, Đất làng, Bão biển, Vỡ bờ, Hòn Đất, Mẫn và tôi Phong Lê, Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại), Nguyễn Khuê, Phan Nhân, Hoài Thanh, Thành Duy, Trần Trọng Đăng Đàn
1975 - hết thế kỷ XX Cù lao Tràm, Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Lão Khổ, Chuyện làng ngày ấy Hội thảo Hồ Biểu Chánh (1988), Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Vương Trí Nhàn, luận án của Lã Duy Lan, Nguyễn Thị Hương Lan
Đầu thế kỷ XXI Ma làng, Dòng sông Mía, Ba người khác, Màu rừng ruộng, Dưới chín tầng trời, Gia phả của đất Lã Duy Lan (Văn xuôi viết về nông thôn - tiến trình và đổi mới), Tôn Phương Lan (2005), Lê Tú Anh, Bùi Việt Thắng

Luận án xác định rõ khoảng trống nghiên cứu: phần lớn các công trình đầu thế kỷ XXI chỉ tiếp cận một tác giả, một tác phẩm hoặc một khía cạnh riêng lẻ. Chưa có công trình nào khảo sát và đánh giá tiểu thuyết về đề tài nông thôn giai đoạn này như một chỉnh thể vận động độc lập trong mối liên hệ với toàn bộ tiến trình lịch sử văn học. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống đó.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu dựa trên các trụ cột học thuật sau:

  • Lý thuyết thể loại tiểu thuyết: Vận dụng hệ thống lý thuyết về thể loại tiểu thuyết của M. Bakhtin để làm công cụ phân tích bản chất thể loại, tính chất đa thanh, cấu trúc đối thoại và khả năng bao chứa hiện thực của tiểu thuyết.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học với văn hóa học, xã hội học và đặc biệt là phê bình sinh thái học. Cách tiếp cận này giúp xem xét các hiện tượng văn học trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường tự nhiên, đời sống văn hóa làng xã và các biến động cấu trúc xã hội.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt đối tượng nghiên cứu trong tổng thể tiến trình vận động của tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, xác định mối quan hệ kế thừa và phát triển qua từng chặng đường.
  • Phương pháp so sánh: Tiến hành so sánh lịch đại (đối chiếu tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI với các thời kỳ trước 1945, 1945 - 1975, 1975 - 2000) và so sánh đồng đại (đối chiếu các tác phẩm, thế giới nhân vật và bút pháp giữa các tác giả trong cùng giai đoạn đầu thế kỷ XXI).
  • Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Thao tác phân tích văn bản cụ thể từ cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn, ngôn ngữ, kết cấu của từng tác phẩm để tổng hợp, khái quát thành những đặc trưng loại hình.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu: Hệ thống văn bản tác phẩm văn học xuất bản trong 20 năm đầu thế kỷ XXI của các tác giả Tô Hoài, Võ Văn Trực, Nguyễn Hữu Nhàn, Trần Quốc Tiến, Trịnh Thanh Phong, Dương Hướng, Nguyễn Phan Hách, Tạ Duy Anh, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường, Đỗ Minh Tuấn, Bùi Thanh Minh, Nguyễn Thế Hùng, Dương Duy Ngữ, Thu Loan, Đỗ Tiến Thụy, Đỗ Bích Thúy (Phụ lục 1) và tư liệu thế kỷ XX dùng đối chiếu (Phụ lục 2).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tái hiện tiến trình vận động của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam trong thế kỷ XX qua ba giai đoạn (trước 1945, 1945 - 1975, sau 1975 đến hết thế kỷ XX), đồng thời tổng hợp lịch sử nghiên cứu phê bình tương ứng. Luận án phân tích sâu các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến sự phát triển của tiểu thuyết nông thôn đầu thế kỷ XXI.

Về mặt khách quan, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mạng xã hội và văn hóa nghe nhìn đã làm thay đổi thói quen tiếp nhận của độc giả, khiến thị hiếu chuyển dịch sang các thể loại ngắn hoặc sách giải trí, tạo áp lực thị trường đối với tiểu thuyết dung lượng lớn. Về mặt chủ quan, luận án chỉ ra thực trạng dịch chuyển không gian sống của nhà văn theo xu hướng "rời làng ra phố".

Dữ liệu thống kê từ bài viết trên báo Nhân dân điện tử được luận án viện dẫn cho thấy sự phân bố nơi cư trú của đội ngũ sáng tác:

Nơi cư trú của hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Số lượng (ước tính theo văn bản)
Thành phố Hà Nội Khoảng 500 hội viên
Thành phố Hồ Chí Minh Khoảng 200 hội viên
Các đô thị khác Số còn lại trong tổng số gần 1.000 hội viên
Nông thôn, làng quê Rất hiếm

Sự dịch chuyển này làm giảm nguồn tư liệu thực tế và trải nghiệm trực tiếp với đời sống làng quê. Đồng thời, luận án phân tích hiện tượng "sự đổ bóng của những sáng tác trong quá khứ" khi các tác phẩm kinh điển của thế kỷ XX trở thành những "huyền thoại diễn ngôn", tạo áp lực tâm lý cho người viết hôm nay. Nhận định của Bùi Việt Thắng được luận án trích dẫn nhằm khái quát thực trạng: tiểu thuyết nông thôn đầu thế kỷ XXI "chỉ có 'nền' nhưng thiếu 'đỉnh', có 'tác phẩm' nhưng thiếu 'tác giả', có 'con người' nhưng thiếu 'nhân vật', có 'lời nói' nhưng thiếu 'ngôn từ tiểu thuyết'".

Chương 2. Những góc nhìn mới, những vấn đề mới trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI

Chương 2 tập trung phân tích hai mạch nội dung lớn:

  1. Những vấn đề của quá khứ từ cái nhìn hiện tại: Luận án phân tích cách các nhà văn tái hiện các sự kiện lịch sử như cải cách ruộng đất, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và thời hậu chiến. Trong chủ đề cải cách ruộng đất qua các tác phẩm Ba người khác (Tô Hoài), Dòng sông Mía (Đào Thắng), Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy), Cọng rêu dưới đáy ao (Võ Văn Trực), Giời cao đất dày (Bùi Thanh Minh), Nước mắt một thời (Nguyễn Khoa Đăng), Đất mồ côi (Cổ Viên), Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh)... các nhà văn không chỉ nhìn nhận sai lầm và bi kịch quá khứ mà còn chỉ ra những tổn thương "di căn" sang các thế hệ sau thời bình (như nhân vật Khuê trong Dòng sông Mía, nhân vật Hiền trong Cọng rêu dưới đáy ao). Tác phẩm chỉ ra sự trỗi dậy của cái ác, sự biến dạng chuẩn mực đạo đức khi những phần tử cơ hội như Tòng (Ma làng), Lẹp (Dòng sông Mía), Bi (Giời cao đất dày), Trần Tăng (Dưới chín tầng trời), Kền (Nước mắt một thời), Dón (Cổ tích đời người), Hận (Đất mồ côi) kích động hận thù.
  2. Nông thôn đương đại và những cảnh báo về sinh thái: Luận án khai thác tiểu thuyết dưới góc nhìn sinh thái học, phân chia thành 3 bình diện:
    • Cảnh báo về sinh thái tự nhiên: Ô nhiễm môi trường, sự tàn phá đất đai, nguồn nước, tài nguyên sinh thái dưới tác động của công nghiệp hóa và quy hoạch đô thị tự phát.
    • Cảnh báo về sinh thái xã hội: Sự rạn nứt cấu trúc gia tộc, xóm làng, tranh chấp đất đai, tệ nạn xã hội xâm lấn không gian yên bình của làng quê.
    • Cảnh báo về sinh thái tinh thần: Sự bất an, mất điểm tựa tâm linh, khủng hoảng niềm tin và sự trôi dạt của các giá trị văn hóa cổ truyền.

Chương 3. Nhân vật người nông dân “quen mà lạ” trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI

Chương 3 khảo sát sự vận động của hình tượng người nông dân qua 3 khía cạnh:

  • Những phẩm tính vững bền, những căn tính cố hữu: Khắc họa người nông dân với phẩm chất cần cù, nhẫn nại, gắn bó với đất đai nhưng đồng thời chỉ ra những thói quen bảo thủ, đố kỵ, tư tưởng bè phái, tư duy tiểu nông khép kín phía sau lũy tre làng.
  • Những biến đổi về tâm tính trước sự thay đổi của thời cuộc: Sự tha hóa về nhân cách, băng hoại về đạo đức lối sống dưới sức ép của đồng tiền và kinh tế thị trường; sự tiếp nhận và hình thành lối sống cơ hội, thực dụng, bất chấp đạo lý truyền thống.
  • Những khát khao thầm kín, riêng tư cá nhân: Tiểu thuyết đi sâu vào việc giải phóng con người cá nhân thông qua tự sự về thân thể, những khát khao bản năng tính dục, nỗi cô đơn và các ẩn ức tâm lý bị dồn nén lâu ngày trong đời sống khép kín của làng quê.

Chương 4. Những kế thừa và nỗ lực đổi mới lối viết trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI

Chương 4 phân tích các phương diện thi pháp và nghệ thuật tự sự:

  • Sự “nối dài” của lối viết truyền thống: Nhiều tác phẩm vẫn duy trì kết cấu cốt truyện theo lối tuyến tính (theo trình tự thời gian biên niên), tổ chức thế giới nhân vật phân tuyến rạch ròi giữa chính diện và phản diện, và phương thức trần thuật chủ yếu ở ngôi thứ ba mang tính toàn tri.
  • Những nỗ lực đổi mới lối viết: Tăng cường tính đối thoại (đa thanh, đa giọng điệu, xóa bỏ khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật); sử dụng đa dạng các hình thức kết cấu (kết cấu lồng ghép, kết cấu tâm lý, cốt truyện phi tuyến tính, phân mảnh); sử dụng linh hoạt nhiều lớp ngôn ngữ (ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, ngôn ngữ tâm linh, ngôn ngữ tính dục, ngôn ngữ đa tầng văn hóa).

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố tự thân của tác giả, luận án mang lại những kết quả và đóng góp mới sau:

  • Phân tích và luận giải một cách có hệ thống về diện mạo, điều kiện hình thành (khách quan và chủ quan), hiện thực đời sống nông thôn, hình tượng người nông dân và các đặc điểm nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Qua đó phác họa bức tranh toàn diện về thành tựu và đóng góp của thể loại này trong đời sống văn học đương đại.
  • Khái quát các chặng đường hình thành và tiến trình vận động của tiểu thuyết viết về nông thôn từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm khảo sát, đồng thời thống kê và phân loại các công trình nghiên cứu gắn với từng giai đoạn lịch sử.
  • Đề xuất định hướng sáng tác: Người cầm bút cần vượt qua áp lực tâm lý từ "sự đổ bóng" của quá khứ, nâng cao trách nhiệm tự thân, gắn bó trực tiếp với đời sống nông thôn đương đại. Luận án kiến nghị mở rộng biên độ xây dựng nhân vật người nông dân mới, chú trọng khắc họa hình tượng nhân vật thiếu nhi (chủ nhân tương lai làm nông nghiệp hiện đại) và các nhân vật có học vấn, học vị sinh sống hoặc gắn bó với làng quê (như đã bước đầu xuất hiện trong Gia phả của đất, Đất thức, Ngày mai sương muối, Bóng của cây sồi).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ XXI và tập trung trọng tâm vào các tác phẩm viết về nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Các mảng sáng tác về nông thôn Nam Bộ, vùng Tây Nguyên và miền núi chỉ được khảo sát khi liên quan đến quá trình biến đổi không gian thành thị - nông thôn dưới tác động của đô thị hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối với tiểu thuyết viết về nông thôn Nam Bộ, Tây Nguyên và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khảo sát các sáng tác mới xuất hiện ở giai đoạn tiếp theo để cập nhật toàn diện tiến trình phát triển của văn xuôi nông thôn đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Cung cấp khung phân tích thể loại tiểu thuyết theo lý thuyết Bakhtin và phê bình sinh thái; cung cấp hệ thống tư liệu thư mục đầy đủ về tiểu thuyết nông thôn thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI (đặc biệt là hệ thống tác phẩm tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2).
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa, xã hội học nông thôn: Tham khảo dữ liệu văn học để phân tích các vấn đề biến đổi xã hội, xung đột giá trị văn hóa, vấn đề sinh thái và tâm lý người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Người sáng tác và phê bình văn học: Tham khảo các phân tích về sự chuyển đổi thi pháp, những hạn chế về lối viết truyền thống và các yêu cầu đổi mới xây dựng hình tượng nhân vật người nông dân thời kỳ mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác phẩm văn học nào được luận án xác định là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho đề tài nông thôn trong văn học Việt Nam hiện đại? Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, xuất bản năm 1918 trên tạp chí Nam Phong, được luận án xác định là tác phẩm đặt nền móng cho đề tài nông thôn hiện đại vì trước đó văn học trung đại và dân gian chưa có tác phẩm văn xuôi phản ánh trực diện về nông thôn và số phận người nông dân.

2. Luận án sử dụng những khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu chủ đạo nào? Luận án tiếp cận dựa trên lý thuyết thể loại tiểu thuyết của M. Bakhtin, kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hóa học, xã hội học, sinh thái học và phê bình sinh thái), phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh (lịch đại và đồng đại) cùng phương pháp phân tích tác phẩm văn học.

3. Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm lực lượng sáng tác chuyên sâu về nông thôn đầu thế kỷ XXI được luận án chỉ ra là gì? Luận án chỉ ra ba nguyên nhân chính: sự dịch chuyển không gian sống của nhà văn từ làng ra các đô thị lớn (với số liệu hội viên Hội Nhà văn: khoảng 500 người ở Hà Nội, 200 người ở TP. Hồ Chí Minh, rất hiếm người sống ở làng); áp lực cạnh tranh từ các đề tài thị trường, thể loại ngắn và văn hóa nghe nhìn; tâm lý e ngại trước "sự đổ bóng" của các tác phẩm kinh điển thế kỷ XX.

4. Điểm nhìn về cải cách ruộng đất trong tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI có điểm gì mới so với giai đoạn đổi mới cuối thế kỷ XX? Nếu văn học giai đoạn sau 1986 tập trung phơi bày bi kịch, sai lầm và không khí đấu tố trong quá khứ, thì tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI mở rộng biên độ khảo sát đến các dư chấn "di căn" ảnh hưởng tiêu cực đến số phận của các thế hệ con cháu trong thời bình, đồng thời đưa ra những cảnh báo mang tính tự phê bình và phê bình sâu sắc.

5. Luận án gồm bao nhiêu chương và tên gọi cụ thể của từng chương là gì? Nội dung chính của luận án gồm 4 chương:

  • Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
  • Chương 2: Những góc nhìn mới, những vấn đề mới trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI
  • Chương 3: Nhân vật người nông dân “quen mà lạ” trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI
  • Chương 4: Những kế thừa và nỗ lực đổi mới lối viết trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỷ XXI

Kết luận

Luận án của tác giả Hoàng Thị Kim Oanh đã hệ thống hóa toàn diện tiến trình phát triển và lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết về đề tài nông thôn Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Công trình làm rõ những chuyển biến về nội dung phản ánh qua việc nhận thức lại các vấn đề lịch sử và cảnh báo các nguy cơ sinh thái môi trường, sinh thái xã hội, sinh thái tinh thần trong đời sống làng quê đương đại. Đồng thời, luận án đã phân tích sự thay đổi trong cấu trúc nhân vật người nông dân cùng các nỗ lực cách tân lối viết về kết cấu, đối thoại và ngôn ngữ nghệ thuật. Đây là công trình chuyên khảo có giá trị tư liệu và khoa học đối với việc nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại.