Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 9220120) với đề tài "Vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đăng Hải thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Huỳnh Như Phương. Công trình được hoàn thành và bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2023. Hội đồng đánh giá luận án ghi nhận phản biện độc lập gồm PGS.TS. Nguyễn Thành Thi; các phản biện gồm PGS.TS. Tôn Thị Thảo Miên và PGS.TS. Nguyễn Hoài Thanh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ nhận định của Ph. Ăng-ghen coi chủ nghĩa nhân văn là bước ngoặt tiến bộ lớn của nhân loại, đồng thời liên hệ với cảnh báo của nhà lý luận T. Todorov về nguy cơ nền văn học bị lâm nguy khi rời xa các giá trị nhân bản nền tảng. Trong bối cảnh khoa nghiên cứu văn học tại Việt Nam từ sau năm 1975, chủ nghĩa nhân văn vận động như một hệ thống mở, đan xen giữa truyền thống và hiện đại, nội sinh và ngoại nhập. Tuy nhiên, giới nghiên cứu trong nước chưa có công trình chuyên biệt nào tổng kết một cách có hệ thống lịch sử nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong toàn bộ diện mạo của khoa nghiên cứu văn học. Nhiều hiện tượng văn học trong quá khứ và đương đại vẫn thiếu sự nhìn nhận khách quan, thấu đáo do chưa xác lập được hệ tiêu chuẩn dựa trên tinh thần nhân văn.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Một là, hệ thống hóa quá trình nghiên cứu về vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
- Hai là, xác định nguồn gốc, nội hàm khái niệm chủ nghĩa nhân văn và đặc điểm của chủ nghĩa nhân văn thông qua một số hiện tượng văn học tiêu biểu ở phương Đông và phương Tây.
- Ba là, xác định đặc điểm, thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa nhân văn trong lí luận văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong ba bộ môn cốt lõi của khoa nghiên cứu văn học: lí luận văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học (văn học sử), không đi sâu vào phân môn phương pháp luận nghiên cứu văn học hay các ngành bổ trợ kỹ thuật khác.
Về phạm vi nghiên cứu, không gian khảo sát là đời sống học thuật tại Việt Nam (bao gồm cả sự phân hóa văn học hai miền Nam - Bắc trước năm 1975 và diện mạo thống nhất sau năm 1975). Thời gian khảo sát trọng tâm được xác định từ năm 1975 đến năm 2020. Trong đó, mốc 1975 đánh dấu thời điểm đất nước thống nhất và mở ra giai đoạn chuyển biến mới của khoa học xã hội; mốc 2020 khép lại hai thập niên đầu của thế kỉ XXI. Để làm rõ nguồn gốc và tiến trình vận động, luận án mở rộng khảo cứu lịch sử tiếp nhận vấn đề từ đầu thế kỉ XX đến trước 1975.
Tư liệu khảo sát chính bao gồm: các văn bản bàn về chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn 1975 - 2020; các văn bản lý thuyết nước ngoài được dịch sang tiếng Việt trong cùng thời kỳ; các văn bản xuất bản trước 1975 được tái bản hoặc bổ sung sau 1975. Nguồn tư liệu này được thu thập qua sách chuyên khảo, giáo trình đại học, bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử tiếp cận chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học Việt Nam theo ba giai đoạn lớn:
-
Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945: Vấn đề được giới thiệu tương đối muộn. Học giả Đào Duy Anh trong Giản yếu Hán - Việt từ điển (1932) là người đầu tiên giới thiệu và phân biệt rành mạch hai mục từ "nhân đạo chủ nghĩa" (đứng trên góc độ triết học nhằm mưu cầu lợi ích và tình thương yêu nhân loại) và "nhân văn chủ nghĩa" (đứng trên góc độ lịch sử chỉ phong trào học giả châu Âu thế kỉ XV thời Phục hưng), dù cả hai đều chú thích thuật ngữ tiếng Pháp là humanisme.
-
Giai đoạn từ sau năm 1945 đến năm 1975:
- Chặng 1945 - 1954: Xuất hiện ba tiểu luận tại Thanh Hóa năm 1949: Đặng Thai Mai với Tập tiểu luận và tài liệu số 2: Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hoá Phục hưng (công trình đầu tiên giới thiệu hệ thống trào lưu Phục hưng châu Âu); Hoài Thanh với Nhân văn Việt Nam (đề xuất phân chia "nhân văn cũ" và "nhân văn mới" vô sản) cùng Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Chặng 1955 - 1975: Đời sống học thuật phân hóa sâu sắc giữa hai miền. Tại miền Bắc, các nhà nghiên cứu Marxist tập trung phê phán tư tưởng nhân văn tư sản qua phong trào Nhân văn - Giai phẩm (1955 - 1958) với bài viết của Hoàng Xuân Nhị, Trường Chinh, Tố Hữu, tiếp đó là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại (Vũ Đức Phúc, Hồng Chương, Hoàng Trinh). Thuật ngữ "chủ nghĩa nhân văn" bị loại bỏ hoặc đồng nhất với tư tưởng tư sản suy đồi; thay vào đó là khái niệm "chủ nghĩa nhân đạo vô sản". Ở hướng học thuật chuyên môn, Lê Đình Kỵ in dấu với Các phương pháp nghệ thuật (1962) và Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970); Bùi Văn Nguyên, Lê Trí Viễn tham gia biên soạn bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (nhiều tập, 1961 - 1978). Ngược lại, tại miền Nam, giới học thuật tiếp cận chủ nghĩa nhân bản từ góc độ triết học hiện đại phương Tây: thuyết nhân vị của Ngô Đình Nhu; các bản dịch tác phẩm của A. Niel (Mạnh Tường dịch, 1969), A. Whitehead (Nam Chi và Từ Huệ dịch, 1969), M. Heidegger (Trần Xuân Kiêm dịch, 1974); nghiên cứu của Kim Định, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Khánh Hoan cùng nhiều luận văn cao học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn.
- Giai đoạn từ năm 1976 đến nay:
- Chặng 1976 - 1985 mang tính quá độ. Nổi bật có giáo trình của Nguyễn Lộc (1976), chuyên luận của Lê Trí Viễn (1984) và Hội nghị khoa học năm 1983 về việc quán triệt chủ nghĩa nhân đạo cộng sản vào sách giáo khoa với 34 tham luận của 32 tác giả.
- Chặng từ 1986 đến 2020 đánh dấu bước chuyển hướng sang quan niệm "văn học là nhân học". Các tác giả tập trung vào nhiều nhóm vấn đề: xác lập bản chất nhân học và phê phán thái độ e dè trước phạm trù tính người (Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử); mối quan hệ giữa chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa hiện thực (Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến); xác lập giá trị nhân bản thành hằng số văn hóa (Huỳnh Như Phương, Hà Minh Đức, Phương Lựu); tìm kiếm truyền thống nhân nghĩa, thương người (Trần Văn Giàu, Trường Lưu, Hoàng Trinh); phát hiện tinh thần phục hưng trong văn học quá khứ (Tam Vị, Ngô Gia Võ, Lê Quang Hưng); khảo sát sinh thái nhân văn (Nguyễn Đăng Điệp, Bùi Thanh Truyền, Trần Thị Ánh Nguyệt, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Thị Tịnh Thy); và giáo dục nhân văn trong nhà trường (Hội thảo Đại học Duy Tân, 2016).
| Hướng nghiên cứu trước đây |
Tác giả tiêu biểu |
Giới hạn học thuật |
| Giới thiệu trào lưu Phục hưng và lịch sử thuật ngữ |
Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh |
Giới thiệu bước đầu, tư liệu còn hạn hẹp, chịu ảnh hưởng phân định giai cấp thời kỳ đầu. |
| Lí luận văn học và phương pháp nghệ thuật (1955 - 1975) |
Lê Đình Kỵ, Hoàng Xuân Nhị, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Văn Trung |
Bị chi phối bởi hoàn cảnh chiến tranh và sự phân tuyến ý thức hệ giữa hai miền Nam - Bắc. |
| Khảo sát giá trị nhân đạo trong văn học sử (sau 1975) |
Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Trần Đăng Suyền |
Tập trung vào từng giai đoạn văn học cụ thể, chủ yếu nhấn mạnh truyền thống yêu nước - nhân đạo. |
| Đổi mới quan niệm con người và phê bình sinh thái |
Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Điệp |
Đi sâu vào các bình diện chuyên biệt, chưa bao quát lịch sử nghiên cứu của toàn bộ ba phân môn. |
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc giới thiệu tản mạn một số tác gia, tác phẩm tiêu biểu hoặc giải quyết các vấn đề lý luận riêng lẻ. Cho đến trước công trình này, chưa có một nghiên cứu nào tổng kết toàn diện, có hệ thống quá trình vận động, thành tựu và hạn chế của việc nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học Việt Nam xuyên suốt từ năm 1975 đến năm 2020 trên cả ba phương diện: lí luận, phê bình và văn học sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt khái niệm, luận án xác định chủ nghĩa nhân văn (humanism) là một hiện tượng mang tính lịch sử, nảy sinh vào thế kỉ XIV - XVI tại Tây Âu thời kỳ Phục hưng. Thuật ngữ này đến thế kỉ XIX mới được định hình rõ nét nhằm biểu thị quan niệm về bản chất, giá trị phổ quát của con người và hệ tư tưởng giáo dục giải phóng cá tính. Khi đi vào tiếng Việt, phạm trù này tồn tại song hành và có sự chuyển dịch ngữ nghĩa phức tạp với các thuật ngữ "chủ nghĩa nhân đạo" và "chủ nghĩa nhân bản".
Về hướng tiếp cận, luận án triển khai nghiên cứu liên ngành giữa văn học với triết học, mĩ học và văn hóa học, nhằm đặt các hiện tượng văn học vào bối cảnh vận động của lịch sử tư tưởng dân tộc.
Bốn phương pháp nghiên cứu cốt lõi được vận dụng bao gồm:
- Phương pháp loại hình (loại hình học): Dựa trên các khái niệm "kiểu", "mẫu" để phân loại, chỉ ra những nét tương đồng mang tính quy luật và những đặc thù khác biệt của chủ nghĩa nhân văn ở phương Tây và phương Đông, cũng như giữa văn học Việt Nam với văn học thế giới.
- Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận vấn đề chủ nghĩa nhân văn như một chỉnh thể nhất quán, làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa các khái niệm lý thuyết và sự biểu hiện cụ thể trong các bộ môn lí luận, phê bình và lịch sử văn học.
- Phương pháp lịch sử: Đặt đối tượng khảo sát vào tiến trình biến đổi chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam từ năm 1975 đến nay để giải thích nguyên nhân của những thay đổi trong nhận thức học thuật.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh nhận thức về chủ nghĩa nhân văn giữa các giai đoạn trước và sau năm 1975; giữa học thuật hai miền Nam - Bắc giai đoạn 1954 - 1975; và đối chiếu giữa các khuynh hướng học thuật khác nhau trong thời kỳ Đổi mới.
Tư liệu thực tế phục vụ phân tích được tổ chức thành ba nhóm văn bản rõ rệt: các văn bản nghiên cứu xuất bản trong nước giai đoạn 1975 - 2020; các văn bản dịch thuật học thuật nước ngoài; các giáo trình đại học, chuyên luận nghiên cứu lịch sử văn học và hệ thống luận án tiến sĩ, luận văn cao học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam
Chương 1 tái hiện diễn trình học thuật kéo dài hơn một thế kỉ, chia thành ba giai đoạn chính với những chuyển biến tư tưởng rõ rệt:
Trong giai đoạn đầu thế kỉ XX đến năm 1945, sự tiếp nhận bước đầu gắn với công trình từ điển của Đào Duy Anh (1932). Sang giai đoạn 1945 - 1975, chặng 1945 - 1954 ghi nhận nỗ lực đặt nền móng qua nghiên cứu của Đặng Thai Mai và Hoài Thanh. Chặng 1955 - 1975 chứng kiến sự đối lập sâu sắc giữa hai miền. Tại miền Bắc, sự kiện nhóm Nhân văn - Giai phẩm (1955 - 1958) với các ấn phẩm như Giai phẩm mùa Xuân, Giai phẩm mùa Thu, báo Nhân văn đã làm bùng nổ cuộc tranh luận gay gắt. Quan điểm chính thống do Hoàng Xuân Nhị khởi xướng, tiếp đó là các văn kiện chỉ đạo của Đảng (Nghị quyết 30 NQ/TW năm 1958, báo cáo tổng kết của Tố Hữu) đã phê phán "chủ nghĩa nhân văn tư sản" và khẳng định độc tôn "chủ nghĩa nhân đạo vô sản". Thuật ngữ nhân văn bị xem là tiêu cực trong nhiều thập kỷ. Ngược lại, tại miền Nam, các trào lưu nhân bản hiện đại phương Tây (hiện sinh, hiện tượng luận, phân tâm học, thuyết nhân vị của Ngô Đình Nhu) được dịch thuật và nghiên cứu rộng rãi trong các viện đại học.
Giai đoạn từ năm 1976 đến nay được chia thành hai chặng: Chặng 1976 - 1985 chuyển tiếp với các thảo luận về chủ nghĩa nhân đạo cộng sản trong giáo dục (Hội nghị năm 1983); Chặng từ 1986 đến 2020 là thời kỳ đổi mới học thuật căn bản. Ý thức lý luận dần thừa nhận giá trị nhân văn là hằng số của văn hóa nghệ thuật. Hàng loạt khuynh hướng nghiên cứu nở rộ: phân định khái niệm (Hà Thúc Minh, Đỗ Duy Minh, Nguyễn Đăng Hải); tái khẳng định tính nhân loại và bản chất nhân học (Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử); đánh giá lại giá trị truyền thống (Trần Văn Giàu, Trường Lưu, Hoàng Trinh); khám phá phê bình sinh thái nhân văn (Nguyễn Đăng Điệp, Bùi Thanh Truyền, Trần Thị Ánh Nguyệt, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Thị Tịnh Thy); và giáo dục nhân văn học đường (Hội thảo Duy Tân 2016). Chương 1 đúc kết rằng dù số lượng công trình nhiều nhưng tính chất còn tản mạn, thiếu một công trình đúc kết toàn diện.
Chương 2: Chủ nghĩa nhân văn - khái niệm và đặc điểm
Chương 2 tập trung khảo sát nguồn gốc sinh thành, nội hàm khái niệm và các biểu hiện đặc thù của chủ nghĩa nhân văn trong lịch sử tư tưởng phương Tây và phương Đông.
Luận án chỉ rõ nguồn gốc của chủ nghĩa nhân văn gắn liền với phong trào Phục hưng Tây Âu (thế kỉ XIV - XVI), nổi bật với tinh thần giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của thần quyền thời Trung cổ, đề cao quyền sống trần thế, khẳng định lý trí, sự tự do của cá nhân và tôn vinh vẻ đẹp thể xác lẫn tâm hồn. Khái niệm humanism hình thành trong quá trình giáo dục các môn khoa học nhân văn cổ điển Hy - La (studia humanitatis).
Ở phương Đông, luận án phân tích tư tưởng nhân văn qua văn hóa và văn học Trung Hoa. Khác với phương Tây đề cao con người cá nhân độc lập và đối lập với tự nhiên, tư tưởng nhân văn truyền thống phương Đông bắt nguồn từ Nho giáo (chữ "Nhân", tư tưởng "ái nhân", "nhân nghĩa") và Đạo giáo, Phật giáo (sự hòa hợp giữa con người với vũ trụ, tinh thần từ bi, hiếu sinh). Con người phương Đông chủ yếu được định vị trong các mối quan hệ rường cột gia đình và cộng đồng xã hội, hướng đến sự tự tu dưỡng đạo đức để đạt đến trạng thái an hòa. Việc đối chiếu này tạo hệ quy chiếu loại hình học nhằm soi chiếu vào văn học Việt Nam.
Chương 3: Vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong lí luận, phê bình văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay
Chương 3 phân tích thực trạng vận dụng và biến đổi của phạm trù chủ nghĩa nhân văn trong thực tiễn lí luận và phê bình văn học Việt Nam thời kỳ hậu chiến và Đổi mới, tập trung vào hai trục nội dung lớn:
Thứ nhất, chủ nghĩa nhân văn và vấn đề con người trong văn học:
- Luận án phân tích sự phục hồi của phạm trù "tính người" (nhân tính). Trải qua thời kỳ dài bị quy giản tuyệt đối vào tính giai cấp, từ sau Đổi mới, các nhà lý luận như Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà đã minh định lại quan niệm Marxist về tính người, khẳng định văn học không thể thiếu chiều kích nhân loại phổ quát.
- Vấn đề con người cá nhân được nhận thức lại: từ chỗ cá nhân bị đồng nhất với chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tư sản, phê bình đã thừa nhận cá nhân như một thực thể tự nhiên, tâm lý, có quyền mưu cầu hạnh phúc trần tục và khát vọng tự khẳng định bản thân.
- Vấn đề tình thương con người được xem xét như cốt lõi đạo đức, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận những số phận bất hạnh trong cuộc sống đời thường.
Thứ hai, chủ nghĩa nhân văn trong mối quan hệ với các trào lưu và khuynh hướng khác:
- Quan hệ với chủ nghĩa hiện thực: Phân tích sự chuyển dịch từ việc đồng nhất phương pháp sáng tác sang nhận thức của Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Văn Hạnh rằng chủ nghĩa nhân đạo là linh hồn, là tiêu chuẩn giá trị của tiến bộ nghệ thuật, còn hiện thực là phương thức nhận thức.
- Quan hệ với chủ nghĩa lãng mạn: Phục hồi vị trí của cảm hứng giải phóng cảm xúc cá nhân, nhu cầu khẳng định cái tôi trong sáng tác.
- Quan hệ với chủ nghĩa yêu nước: Chỉ ra sự gắn kết đặc thù trong lịch sử dân tộc giữa lòng yêu nước chống ngoại xâm và tinh thần nhân đạo thương dân, đồng thời phân tích những giới hạn khi chủ nghĩa yêu nước lấn át ý thức về quyền lợi cá nhân con người.
Chương 4: Vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ 1975 đến nay
Chương 4 khảo sát việc hiện thực hóa tinh thần nhân văn trong công tác biên soạn các bộ giáo trình văn học sử tiêu biểu tại các trường đại học:
- Khái quát hệ thống giáo trình lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1975, nhận diện sự chuyển biến trong quan điểm học thuật của các tác giả biên soạn qua các thời kỳ.
- Vấn đề con người cá nhân và tiêu chí phân kì lịch sử văn học: Luận án phân tích việc các nhà nghiên cứu lấy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân làm một trong những tiêu chí cơ bản để phân định các giai đoạn văn học, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX và giai đoạn đầu thế kỉ XX (1930 - 1945).
- Chủ nghĩa nhân văn trong giáo trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam: Khảo sát các công trình của Bùi Văn Nguyên, Lê Trí Viễn, Nguyễn Lộc. Luận án ghi nhận sự thừa nhận trào lưu nhân đạo chủ nghĩa thế kỉ XVIII - XIX với hai nội dung: phê phán các thế lực phong kiến chà đạp con người và đòi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi (tiêu biểu qua Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, Chinh phụ ngâm).
- Chủ nghĩa nhân văn trong giáo trình lịch sử văn học hiện đại Việt Nam: Phân tích việc đánh giá lại các hiện tượng văn học từng bị xem là tiêu cực trước đây (như phong trào Thơ mới, văn xuôi Tự Lực văn đoàn, trào lưu văn học hiện thực 1930 - 1945), cũng như việc khám phá chiều sâu nhân văn trong văn học thời kỳ kháng chiến và văn học thời kỳ Đổi mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào phần trình bày của tác giả trong luận án, những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn được xác định như sau:
Về mặt lý luận, luận án góp phần xác lập cái nhìn đa chiều, hệ thống về nguồn gốc hình thành và sự diễn biến nội hàm của khái niệm chủ nghĩa nhân văn trong quá trình dịch thuật, tiếp nhận tại Việt Nam. Công trình làm sáng tỏ sự khác biệt và mối liên hệ qua lại giữa các khái niệm thường bị dùng lẫn lộn: "chủ nghĩa nhân văn", "chủ nghĩa nhân đạo" và "chủ nghĩa nhân bản". Luận án xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng nhân văn với vấn đề bản chất nhân học của văn học, cũng như mối quan hệ giữa chủ nghĩa nhân văn với chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa yêu nước trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tập hợp, phân loại và hệ thống hóa toàn diện các văn bản, công trình nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam xuyên suốt giai đoạn 1975 - 2020. Luận án chỉ ra những thành tựu đạt được trong việc đổi mới tư duy nghiên cứu, đồng thời vạch rõ những thiên lệch, giáo điều trong quá khứ khi đánh giá các hiện tượng văn học dưới lăng kính giai cấp cứng nhắc.
Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất giới nghiên cứu văn học cần tiếp tục kế thừa những hạt nhân hợp lý của truyền thống nhân nghĩa dân tộc, đồng thời chủ động tiếp thu các giá trị nhân văn hiện đại của nhân loại (như phê bình sinh thái, nhân quyền, giải phóng cá nhân toàn diện); áp dụng tinh thần nhân văn làm tiêu chuẩn khách quan để đánh giá lại các hiện tượng văn học còn đang tranh luận trong lịch sử và đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định trong văn bản:
- Luận án mới chỉ tập trung khảo sát chủ nghĩa nhân văn ở ba bộ môn cơ bản: lí luận văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học. Một bộ môn quan trọng của khoa nghiên cứu văn học là phương pháp luận nghiên cứu văn học cùng các phân ngành bổ trợ (văn bản học, lưu trữ học, xã hội học văn học, tâm lý học văn học) chưa được khảo sát sâu.
- Về phạm vi thời gian, việc khảo sát dữ liệu học thuật dừng lại ở mốc năm 2020, do đó chưa bao quát trọn vẹn những ấn phẩm và cuộc thảo luận học thuật mới nhất nảy sinh từ năm 2021 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2023).
- Nguồn tư liệu khảo sát chủ yếu tập trung vào các giáo trình, sách chuyên luận, luận văn, luận án và bài viết của các tác giả tiêu biểu đại diện cho dòng chảy chính; chưa thể bao quát toàn bộ mọi bài phê bình nhỏ lẻ xuất bản trên báo chí cả nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà đề tài mở ra là: mở rộng việc nghiên cứu phạm trù nhân văn sang phương pháp luận nghiên cứu văn học; khảo sát sâu hơn sự tương tác giữa văn học Việt Nam và văn học các nước trong khu vực Đông Á (như Trung Quốc, Hàn Quốc) trên phương diện trào lưu nhân văn; tiếp tục theo dõi sự biến chuyển của tư tưởng nhân văn dưới tác động của phê bình sinh thái và thời đại công nghệ số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành trực tiếp và hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp một thư mục nghiên cứu phong phú, có hệ thống về lịch sử tiếp nhận và nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn tại Việt Nam suốt thế kỉ XX đến năm 2020; hỗ trợ xây dựng cơ sở lý luận cho các đề tài nghiên cứu về tác gia, tác phẩm, trào lưu văn học trung đại và hiện đại.
- Đối với người làm công tác biên soạn giáo trình và chương trình giáo dục: Các phân tích ở Chương 3 và Chương 4 cung cấp căn cứ khoa học để xem xét việc tích hợp các giá trị nhân văn vào giáo trình lí luận văn học, lịch sử văn học bậc đại học, cũng như việc thiết kế nội dung giảng dạy phần văn học trong chương trình ngữ văn phổ thông.
- Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng: Công trình mang lại cái nhìn khách quan về sự va đập, chuyển hóa ý thức hệ học thuật giữa hai miền Nam - Bắc trước 1975 và tiến trình đổi mới tư duy lý luận sau năm 1986.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là bức tranh toàn cảnh lịch sử nghiên cứu ở Chương 1 cùng sự phân tích mối quan hệ giữa chủ nghĩa nhân văn và vấn đề con người cá nhân, tính người ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mốc thời gian khảo sát chính từ năm 1975 đến năm 2020 dựa trên cơ sở khoa học nào?
Tác giả chọn năm 1975 vì đây là mốc lịch sử trọng đại đánh dấu sự thống nhất đất nước về mặt địa lý - chính trị, mở ra thời kỳ mới cho đời sống tinh thần và học thuật toàn quốc, chấm dứt tình trạng chia cắt hai nền văn nghệ Nam - Bắc. Mốc năm 2020 đánh dấu việc hoàn thành trọn vẹn hai thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, tạo ra một khoảng lùi thời gian đủ dài để tổng kết toàn diện các thành tựu và chuyển biến học thuật của thời kỳ Đổi mới.
2. Học giả nào tại Việt Nam là người đầu tiên giới thiệu và phân biệt khái niệm "chủ nghĩa nhân văn" và "chủ nghĩa nhân đạo"?
Đó là học giả Đào Duy Anh trong công trình Giản yếu Hán - Việt từ điển (quyển hạ, xuất bản năm 1932). Ông đã đưa vào hai mục từ riêng biệt cùng dịch từ chữ humanisme: "nhân đạo chủ nghĩa" (được hiểu theo nghĩa triết học là lấy sự yêu thương và mưu cầu lợi ích nhân loại làm tôn chỉ) và "nhân văn chủ nghĩa" (được hiểu theo nghĩa lịch sử là chủ trương của học giả châu Âu thế kỉ XV thời Phục hưng nghiên cứu văn nghệ Hy Lạp cổ đại, lấy con người làm trung tâm).
3. Khác biệt cơ bản trong việc tiếp cận chủ nghĩa nhân văn giữa học giới miền Bắc và miền Nam giai đoạn 1955 - 1975 là gì?
Tại miền Bắc, nghiên cứu gắn chặt với nhiệm vụ chính trị và lập trường giai cấp của chủ nghĩa Marx - Lenin; giới nghiên cứu phê phán gay gắt "chủ nghĩa nhân văn tư sản" (nhất là qua vụ việc Nhân văn - Giai phẩm và phong trào chống xét lại), đồng thời độc tôn khái niệm "chủ nghĩa nhân đạo vô sản". Tại miền Nam, các nhà nghiên cứu tiếp cận chủ nghĩa nhân văn từ góc độ triết học nhân bản phương Tây (hiện sinh, hiện tượng luận, thuyết nhân vị), tập trung vào các vấn đề bản thể, thân phận làm người và khẳng định tính người chung của nhân loại.
4. Luận án chỉ ra ba khuynh hướng chủ yếu nào trong việc sử dụng hai khái niệm "chủ nghĩa nhân văn" và "chủ nghĩa nhân đạo" ở Việt Nam sau năm 1945?
Trong bài báo khoa học công bố năm 2015 được nhắc lại ở Chương 1, tác giả luận án đã phân loại ba khuynh hướng: (1) Khuynh hướng đối lập hai khái niệm (thường gắn chủ nghĩa nhân đạo với vô sản, nhân văn với tư sản); (2) Khuynh hướng đồng nhất hai khái niệm (coi hai từ có nội hàm như nhau, dùng thay thế cho nhau); (3) Khuynh hướng phân biệt hai khái niệm (nhìn nhận chủ nghĩa nhân văn từ góc độ văn hóa, giáo dục, lịch sử Phục hưng và chủ nghĩa nhân đạo từ góc độ đạo đức, tình cảm thương người).
5. Nghiên cứu sinh vận dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản nào trong luận án?
Luận án áp dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp loại hình (loại hình học), phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh - đối chiếu; kết hợp với hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học, triết học, mĩ học và văn hóa học.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đăng Hải là công trình học thuật chuyên ngành tổng kết một cách quy mô và có hệ thống lịch sử nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học tại Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2020. Dựa trên nguồn tư liệu phong phú gồm giáo trình, chuyên luận và tạp chí chuyên ngành qua nhiều giai đoạn lịch sử, tác giả đã làm rõ tiến trình phục hồi và khẳng định bản chất nhân học cùng các giá trị tính người, con người cá nhân trong lí luận, phê bình và văn học sử. Công trình chỉ rõ những thành tựu đổi mới tư duy học thuật sau năm 1986, đồng thời vạch ra những giới hạn của quan điểm xã hội học dung tục từng chi phối học giới trong quá khứ. Đây là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận và lịch sử văn học Việt Nam hiện nay.