Vấn Đề Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Nghiên Cứu Văn Học Việt Nam Từ 1975 Đến Nay

Luận án tiến sĩ khám phá chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học Việt Nam từ 1975 đến nay, phân tích và đánh giá các xu hướng chính.

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

226
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG KHOA NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM

1.1. Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám - 1945

1.2. Từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1975

1.3. Từ 1976 đến nay

1.3.1. Từ 1976 đến 1985

1.3.2. Từ 1986 đến nay

1.4. CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN - KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM

1.5. Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng phương Tây

1.6. Chủ nghĩa nhân văn trong văn học phương Đông (Trung Hoa)

1.7. VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG LÍ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

1.7.1. Chủ nghĩa nhân văn và vấn đề con người

1.7.2. Vấn đề tính người trong văn học

1.7.3. Vấn đề con người cá nhân trong văn học

1.7.4. Vấn đề tình thương con người trong văn học

1.7.5. Chủ nghĩa nhân văn và các trào lưu, khuynh hướng khác

1.7.5.1. Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa hiện thực
1.7.5.2. Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa lãng mạn
1.7.5.3. Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa yêu nước

1.8. VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

1.8.1. Giới thiệu khái quát về các bộ lịch sử văn học Việt Nam

1.8.2. Vấn đề con người cá nhân và việc phân kì văn học Việt Nam

1.8.3. Chủ nghĩa nhân văn trong giáo trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam

1.8.4. Chủ nghĩa nhân văn trong giáo trình lịch sử văn học hiện đại Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH, BÀI VIẾT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vấn Đề Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Văn Học

Nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam là một lĩnh vực rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học, mĩ học, nhân loại học, đạo đức học, văn hóa học, và nghệ thuật học. Trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn đã được giới thiệu và nghiên cứu từ những năm 1930. Mặc dù có nhiều bài báo và nghiên cứu bàn về vấn đề này, vẫn còn thiếu những công trình tổng kết lịch sử nghiên cứu một cách hệ thống. Luận án này, mặc dù tập trung vào giai đoạn từ 1975 đến nay, vẫn đề cập đến các nghiên cứu trước đó để thể hiện sự vận động và phát triển của chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học Việt Nam. Lịch sử nghiên cứu này luôn gắn liền với lịch sử văn hóa, xã hội và văn học của dân tộc.

1.1. Giai Đoạn Phát Triển Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Nhân Văn

Lịch sử nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam được chia thành ba giai đoạn chính: từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám 1945, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến 1975, và từ 1976 đến nay. Nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn tập trung chủ yếu vào giai đoạn thứ hai và thứ ba. Ở mỗi giai đoạn, nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn có những xu hướng và đặc điểm chủ đạo, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.

1.2. Ảnh Hưởng Của Bối Cảnh Xã Hội Đến Nghiên Cứu Nhân Văn

Bối cảnh xã hội và chính trị có ảnh hưởng lớn đến cách tiếp cận và diễn giải chủ nghĩa nhân văn. Trong giai đoạn chiến tranh, tinh thần nhân văn thường gắn liền với lòng yêu nước và ý chí đấu tranh. Sau khi đất nước thống nhất, nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn mở rộng hơn, tập trung vào giá trị con người và các vấn đề xã hội.

II. Chủ Nghĩa Nhân Văn Khái Niệm Đặc Điểm Trong Văn Học

Chủ nghĩa nhân văn là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu khác nhau, tùy thuộc vào lịch sử, khu vực địa lý, văn hóa và cá nhân người sử dụng. Theo Ph. Ăng-ghen, chủ nghĩa nhân văn là bước ngoặt tiến bộ lớn nhất mà nhân loại đã trải qua, là giá trị cơ bản của thời hiện đại. Trong nghiên cứu văn học, mỗi tác phẩm, trào lưu hoặc trường phái có thể có những phương thức phản ánh khác nhau, nhưng nếu xa rời chủ nghĩa nhân văn, tức từ bỏ những vấn đề cơ bản của con người, thì dễ dẫn đến vô nghĩa. Văn chương, theo Nguyễn Văn Hạnh, "trước hết và cuối cùng là chuyện về con người, về sự sống".

2.1. Nguồn Gốc Khái Niệm Chủ Nghĩa Nhân Văn

Chủ nghĩa nhân văn là một hiện tượng lịch sử, ra đời vào thế kỷ XIV-XVI ở châu Âu. Khái niệm "humanism" chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIX để chỉ quan niệm về bản chất, giá trị phổ quát của con người và những tư tưởng giáo dục của các nhà nhân văn thời Phục hưng. Nghiên cứu nguồn gốc giúp hiểu rõ hơn sự biến đổi của khái niệm.

2.2. Đặc Điểm Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Nhân Văn

Đặc điểm cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn là sự đề cao giá trị con người, quyền tự do và phẩm chất con người. Nó nhấn mạnh vào khả năng lý trí và đạo đức của con người, đồng thời khuyến khích sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Tư tưởng nhân văn thúc đẩy sự sáng tạo và khám phá trong mọi lĩnh vực của đời sống.

2.3. Ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân văn đến giá trị con người trong văn học

Chủ nghĩa nhân văn là một phạm trù có nội hàm phong phú với nhiều cách lí giải khác nhau. Nội dung và ý nghĩa của khái niệm chủ nghĩa nhân văn có sự diễn biến phức tạp theo lịch sử, khu vực địa lí - văn hóa và cá nhân người sử dụng.

III. Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Lý Luận Phê Bình Văn Học 1975 Nay

Trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay, chủ nghĩa nhân văn là một hệ thống mở, đan xen giữa truyền thống và hiện đại, nội sinh và ngoại nhập. Nó tác động sâu rộng đến sáng tác, nghiên cứu và tiếp nhận văn học. Sự soi chiếu văn học dưới ánh sáng chủ nghĩa nhân văn giúp nhiều tác phẩm được nhìn nhận khách quan hơn. Tuy nhiên, nhiều hiện tượng văn học vẫn chưa được nghiên cứu hệ thống và khách quan. Do đó, tinh thần nhân văn là cơ sở quan trọng để đánh giá các hiện tượng văn học này.

3.1. Mối Quan Hệ Giữa Nhân Văn và Vấn Đề Con Người

Chủ nghĩa nhân vănvấn đề con người là hai khái niệm gắn bó mật thiết trong văn học. Văn học nhân văn tập trung vào những trải nghiệm, cảm xúc, và khát vọng của con người. Nó khám phá tính người trong những hoàn cảnh khác nhau, từ đó nêu bật giá trị và phẩm giá của con người.

3.2. Chủ Nghĩa Nhân Văn và Các Trào Lưu Văn Học Khác

Chủ nghĩa nhân văn có mối quan hệ phức tạp với các trào lưu văn học khác như chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa yêu nước. Trong một số trường hợp, chủ nghĩa nhân văn hòa quyện với các trào lưu này, tạo nên những tác phẩm có giá trị cao về nghệ thuật và tư tưởng. Ví dụ, văn học kháng chiến vừa thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, vừa đề cao tinh thần nhân văn.

3.3. Ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân văn và quan điểm nhân văn

Nhiều nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên đại học đã vận dụng những tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn dé tìm hiểu giá tri của các trao lưu, trường phái, tac phẩm văn học khác nhau.

IV. Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Nghiên Cứu Lịch Sử Văn Học 1975 Nay

Nhận thức và thành tựu của khoa nghiên cứu văn học được thể hiện rõ trong các giáo trình, chuyên luận, bài viết về văn học. Việc nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học giúp hiểu rõ hơn về nhận thức, thành tựu và đặc điểm của khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam, đặc biệt là từ 1975 đến nay. Sự thống nhất đất nước vào năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển của văn học và nghiên cứu văn học.

4.1. Vấn Đề Con Người Cá Nhân và Phân Kì Văn Học

Nghiên cứu lịch sử văn học dưới góc độ chủ nghĩa nhân văn giúp xem xét lại các tiêu chí phân kỳ văn học. Sự nhấn mạnh vào vấn đề con người cá nhân có thể dẫn đến những cách tiếp cận mới trong việc hiểu và đánh giá các giai đoạn phát triển của văn học.

4.2. Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Giáo Trình Văn Học Trung Đại

Các giáo trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam thường đề cao tinh thần nhân văn thông qua việc phân tích các tác phẩm thể hiện lòng yêu nước, tình thương con người và khát vọng về một xã hội tốt đẹp hơn. Ví dụ, các tác phẩm của Nguyễn Trãi thường được đánh giá cao vì tư tưởng nhân nghĩalòng yêu dân.

V. Cách Tiếp Cận Mới Về Giá Trị Nhân Văn Trong Văn Học

Trong thời gian tới, cần tiếp tục thảo luận và đánh giá các hiện tượng văn học Việt Nam một cách có hệ thống và khách quan, với tinh thần nhân văn làm cơ sở. Điều này đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp nghiên cứu, cũng như sự cởi mở trong tiếp nhận các quan điểm khác nhau. Cần khuyến khích các nghiên cứu liên ngành, kết hợp văn học với triết học, xã hội học, và các ngành khoa học khác, để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề con người.

5.1. Tầm quan trọng của nhân cách và đạo đức trong văn học

Chủ nghĩa nhân văn còn là một dấu hiệu thể hiện cá tính, tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ; là một tiêu chuẩn định hướng, làm cho con người hòa hợp với chính mình, với tha nhân, với thé giới thiên nhiên và với thé giới siêu nhiên.

5.2. Các yếu tố tạo nên tác phẩm văn học nhân văn

Những tác phẩm văn họcgia tri, tiến bộ, từ văn học dân gian đến văn học viết, từ văn học trong nước đến văn học nước ngoài, đều xuất phát từ con người, do con người và vì con người. Ngay từ những ngày đầu xuất hiện và từ trong bản chất, văn học được xem là nhân học.

VI. Tương Lai Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Văn Học Việt Nam

Nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Luận án này góp phần hệ thống hóa quá trình nghiên cứu, xác định nguồn gốc và đặc điểm của chủ nghĩa nhân văn, đồng thời chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng chủ nghĩa nhân văn vào lý luận, phê bình và lịch sử văn học. Kết quả nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Về Tư Tưởng Nhân Văn

Cần khuyến khích các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa chủ nghĩa nhân văn và các vấn đề đương đại như quyền con người, bình đẳng giới, và bảo vệ môi trường. Việc nghiên cứu này có thể giúp văn học đóng góp tích cực vào việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

6.2. Ứng Dụng Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Giảng Dạy Văn Học

Trong giảng dạy văn học, cần nhấn mạnh vào việc phân tích các tác phẩm từ góc độ chủ nghĩa nhân văn, giúp sinh viên hiểu sâu sắc hơn về giá trị con người và các vấn đề xã hội. Điều này có thể giúp sinh viên phát triển tư duy phản biệntinh thần nhân ái.

27/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐÈ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG KHOA NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM Từ khi xuất hiện, chủ nghĩa nhân văn đã được giới thiệu, nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, trên nhiều bình diện và từ nhiều góc độ khác nhau. Với vị thế và ảnh hưởng của nó trong đời sống tư tưởng, học thuật, chủ nghĩa nhân văn trở thành phạm trù lí luận, lịch sử quan trọng của nhiều ngành khoa học như giáo dục học, triết học, mĩ học, nhân loại học, đạo đức học, văn hóa học, nghệ thuật học. Trong địa hạt khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn ở phương Tây đã được giới thiệu, nghiên cứu từ những năm ba mươi của thé ki XX. Hơn một thé ki qua, trong nhiều nhiều bài báo, nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tập trung bàn bạc, phân tích, đánh giá vẫn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam.

Tuy nhiên, từ trước đến nay, tuy chúng ta đã có những ý kiến bàn về van đề chủ nghĩa nhân văn trong văn học hiện đại Việt Nam nhưng giới nghiên cứu văn học trong nước chưa có những công trình riêng, có hệ thong nhăm tong kết lịch sử nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Tuy phạm vi khảo sát của luận án là từ 1975 đến nay nhưng trong thực tế chúng tôi vẫn dé cập ít nhiều đến những nghiên cứu được xuất bản trước đó dé cho thấy sự vận động, phát triển của vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Lịch sử nghiên cứu van đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ đầu thế ki XX đến nay luôn theo sát với lịch sử văn hóa - xã hội của và lịch sử văn học của dân tộc. Dựa trên bối cảnh văn hóa xã hội, đặc điểm vận động và nội dung các công trình nghiên cứu vả quan niệm trong việc phân kì lịch sử văn học Việt Nam hiện nay, chúng tôi chia lịch sử nghiên cứu về vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ đầu thế ki XX đến nay thành ba giai đoạn: (1) từ đầu thế ki XX đến Cách mạng Tháng Tám - 1945, (2) từ sau Cách mạng Tháng Tám - 1945 đến 1975 và (3) từ 1976 đến nay.

Trong đó, nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở giai đoạn thứ hai và thứ ba. Vì vậy, đối với giai đoạn thứ nhất, chúng tôi không chia nhỏ thành các chặng như trong lịch sử văn học Việt Nam; trong khi đó, đối với giai đoạn thứ hai và thứ ba, do sự phong phú và tương đồng của các vấn đề nghiên cứu, chúng tôi 8 chia các nghiên cứu thành các chặng. Việc phân chia lich sử van dé nghiên cứu thành các giai đoạn, chặng như trên là dựa trên quan niệm về phân kì văn học Việt Nam được Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên), Trần Đăng Suyén (Chủ biên phan Văn), Bùi Minh Toán (Chủ biên phần tiếng Việt), Lê A (Chủ biên phần Làm văn) và cộng sự sử dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tap một (2020) và đặc điểm của việc nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn, chặng, việc nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam thường nổi lên một số xu hướng, đặc điểm chủ đạo.

Các xu hướng, đặc điểm này được hình thành dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám - 1945 Đây là giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Nền văn học Việt Nam đã phát triển theo hướng hiện đại và đạt được nhiều thành tựu. Ở giai đoạn này, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu nhiều tinh hoa văn hoá, văn nghệ phương Tây đến công chúng Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có công trình nào đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống về chủ nghĩa nhân văn nói chung, chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng nói riêng trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam. So với nhiều trào lưu, trường phái triết học, văn hóa nghệ thuật khác xuất phát từ phương Tây, chủ nghĩa nhân văn chính thức được giới thiệu ở Việt Nam khá muộn. Công lao đầu tiên thuộc về học giả Đào Duy Anh. Trong công trình Giản yếu Hán - Việt từ điển, quyên ha (1932), Đào Duy Anh giới thiệu đến độc giả trong nước hai mục từ: “nhân đạo chủ nghĩa” và “nhân văn chủ nghĩa”.

Và sau mỗi mục từ trên, ông đều có chú thêm cùng một thuật ngữ tiếng Pháp là “humanisme”. Nếu “nhân đạo chủ nghĩa”, được tác giả chú thích theo ý nghĩa triết học, là một “chủ nghĩa lay sự mưu lợi ích cho nhân loại và thương yêu nhân loại làm tôn chỉ” (Đào Duy Anh, 1957, trang 61) thì “nhân văn chủ nghĩa”, được hiểu theo phương diện lịch sử, là “một thứ chủ trương của học giả Âu châu hồi thế kỉ 15, là hồi văn nghị Phục hưng, bài xích cái không tưởng của Cơ đốc giáo, mà lấy nhân loại làm đối tượng dé nghiên cứu. Họ chủ trương nghiên cứu tư tưởng và văn nghệ của Hy Lạp xưa” (Đào Duy Anh, 1957, trang 66). Như vậy, ngay từ những ngày đầu được tiếp nhận ở Việt Nam, Đào Duy Anh đã có ý thức rất rõ trong việc phân biệt và sử dụng hai khái niệm “chủ nghĩa nhân văn” và chủ “nghĩa nhân đạo” trong tiêng Việt.

Từ sau Cánh mạng tháng Tám - 1945 đến 1975 Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1975 là nền văn học của chế độ mới. Giai đoạn này diễn ra nhiều sự kiện lớn của dân tộc như cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt hơn 30 năm; công cuộc xây dựng cuộc sông mới, con người mới ở miền Bắc; sự phân hóa về mặt chính trị, tư tưởng, xã hội giữa hai miền Nam - Bắc. Những yếu tố này đã tác động sâu sắc tới đời sống tinh thần, vật chất của dân tộc, trong đó có việc nghiên cứu, giới thiệu chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học. Việc nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam giai đoạn này có thể chia thành hai chặng: từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1954 và từ 1955 đến 1975.

Chặng từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1954 Từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đên 1954 là chặng đâu của nghiên cứu, giới thiệu chủ nghĩa nhân văn ở Việt Nam. Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập, nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Dang. Vi vậy, chủ nghĩa Marx - Lenin giữ vi thế chủ đạo trong đời song tư tưởng. Van hóa văn nghệ tiếp tục được định hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943).

Do đó, những tranh dau về học thuyết tư tưởng, về tông phái văn nghệ van là nhiệm vụ chính của các nhà văn hóa Marxist thời kì này. Vì vậy, từ những tư tưởng triết mĩ của các nhà triết học phương Đông như Không Tử, Mạnh Tử hay phương Tây như R. Nietzsche đến các thứ “chủ nghĩa” như chủ nghĩa cô điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng đều ít nhiều bị xem là “những quan niệm sai lầm” và “ít nhiều ảnh hưởng tai hại” đến dân tộc. Do đó, từ công trình đầu tiên giới thiệu về chủ nghĩa nhân văn của Đào Duy Anh đến khi đất nước bị chia cách theo Hiệp định Genève (1954), giới nghiên cứu tuy có nảy sinh những cuộc tranh luận về nghệ thuật nhưng cũng chưa có cuộc tranh luận nào về vấn đề chủ nghĩa nhân văn.

Tựu trung lại, thời kì từ Cách mạng tháng Tám đến Hiệp định Genève (1954) được kí kết, chúng ta chỉ có ba công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam công bố vào năm 1949 ở Thanh Hóa về chủ nghĩa nhân văn. Trước hết là Tiap thi luận và tai liệu số 2: Chủ nghĩa nhân văn dưới thời ky văn hoá Phuc hưng của Dang Thai Mai, xuất bản ở Thanh Hoá năm 1949. Đây là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống về chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở phương Tây trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Qua 45 trang của tập thi luận, Đặng Thai Mai đã giới thiệu khái 10 quát, khách quan về điều kiện phát sinh, tinh thần cơ bản, các nhân vật cùng các tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở Âu châu.

Theo tác giả, về nội dung, chủ nghĩa nhân văn là “một hệ thống tư tưởng lấy cõi người, lấy con người làm trọng” (Đặng Thai Mai, 1949, trang 6). Về giá trị, chủ nghĩa nhân văn là một hệ thống tư tưởng cao sâu, vĩ đại, và đây chính là “một tư trào mạnh mẽ, dồi đào nhất trong các tư trào nhân văn từ xưa cho đến đầu thế ki XX” (Đặng Thai Mai, 1949, trang 10). Tiếp đến là hai tiểu luận của Hoài Thanh in ở Thanh Hóa. Đó là Nhân văn Việt Nam (1949) và Quyên sống của con người trong Truyện Kiéu của Nguyễn Du (1949).

Nếu Đặng Thai Mai chú ý đến việc giới thiệu phong trào nhân văn thời Phục hưng ở châu Âu thì Hoài Thanh lại chú ý đến việc giới thiệu khái quát lịch sử của chủ nghĩa nhân văn ở Việt Nam và tác giả ứng dụng phân tích Truyện Kiéu của Nguyễn Du từ lí thuyết của “chủ nghĩa nhân văn mới”. Trong tiểu luận Nhân văn Việt Nam, đồng quan điểm với Dang Thai Mai, Hoài Thanh đề nghị bắt chước các học giả Trung Hoa dùng chữ “chu nghĩa nhân văn” thay cho chữ “chủ nghĩa nhân bản” dé dich chữ “humanisme” trong tiếng Pháp. Bên cạnh đó, ông còn đề nghị nên dùng chữ “nhân văn” thay cho chữ “chủ nghĩa nhân văn”. Đáng chú ý hơn, cũng trong công trình này, Hoài Thanh đề xuất phân chia tư tưởng nhân văn Việt Nam thành hai bộ phận: “nhân văn cũ” và “nhân văn mới”.

“Nhân văn cũ”, theo ông, gồm nhân văn phong kiến, nhân văn bình dân, nhân văn tư sản và “nhân văn mới” chính là nhân văn vô sản. Do nhấn mạnh sự khác biệt giữa “nhân văn cũ” và “nhân văn mới” theo lập trường giai cấp nên tác giả chưa thừa nhận những giá trị tiến bộ của nhân văn phong kiến và nhân văn tư sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Vấn Đề Chủ Nghĩa Nhân Văn Trong Nghiên Cứu Văn Học Việt Nam" khám phá những khía cạnh quan trọng của chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của nó trong việc hình thành và phát triển tư tưởng văn học. Tác giả phân tích cách mà chủ nghĩa nhân văn đã ảnh hưởng đến các tác phẩm văn học, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về giá trị nhân văn trong văn hóa và nghệ thuật Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ thơ khuynh hướng điền viên sơn thủy việt nam thế kỷ xv xvi nhìn từ góc độ đặc trưng thẩm mỹ, nơi phân tích các đặc điểm thẩm mỹ trong thơ ca. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ văn hóa dục tính và việc tiếp nhận thơ nôm truyền tụng hồ xuân hương ở miền bắc 1954 1975 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa và giới tính trong thơ ca. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quan niệm tính đảng trong văn học việt nam giai đoạn 1945 1975 sẽ giúp bạn hiểu thêm về mối liên hệ giữa văn học và chính trị trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn đa dạng về văn học Việt Nam.