CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐÈ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN TRONG KHOA NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM Từ khi xuất hiện, chủ nghĩa nhân văn đã được giới thiệu, nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, trên nhiều bình diện và từ nhiều góc độ khác nhau. Với vị thế và ảnh hưởng của nó trong đời sống tư tưởng, học thuật, chủ nghĩa nhân văn trở thành phạm trù lí luận, lịch sử quan trọng của nhiều ngành khoa học như giáo dục học, triết học, mĩ học, nhân loại học, đạo đức học, văn hóa học, nghệ thuật học. Trong địa hạt khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn ở phương Tây đã được giới thiệu, nghiên cứu từ những năm ba mươi của thé ki XX. Hơn một thé ki qua, trong nhiều nhiều bài báo, nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tập trung bàn bạc, phân tích, đánh giá vẫn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, tuy chúng ta đã có những ý kiến bàn về van đề chủ nghĩa nhân văn trong văn học hiện đại Việt Nam nhưng giới nghiên cứu văn học trong nước chưa có những công trình riêng, có hệ thong nhăm tong kết lịch sử nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Tuy phạm vi khảo sát của luận án là từ 1975 đến nay nhưng trong thực tế chúng tôi vẫn dé cập ít nhiều đến những nghiên cứu được xuất bản trước đó dé cho thấy sự vận động, phát triển của vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Lịch sử nghiên cứu van đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ đầu thế ki XX đến nay luôn theo sát với lịch sử văn hóa - xã hội của và lịch sử văn học của dân tộc. Dựa trên bối cảnh văn hóa xã hội, đặc điểm vận động và nội dung các công trình nghiên cứu vả quan niệm trong việc phân kì lịch sử văn học Việt Nam hiện nay, chúng tôi chia lịch sử nghiên cứu về vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ đầu thế ki XX đến nay thành ba giai đoạn: (1) từ đầu thế ki XX đến Cách mạng Tháng Tám - 1945, (2) từ sau Cách mạng Tháng Tám - 1945 đến 1975 và (3) từ 1976 đến nay.
Trong đó, nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở giai đoạn thứ hai và thứ ba. Vì vậy, đối với giai đoạn thứ nhất, chúng tôi không chia nhỏ thành các chặng như trong lịch sử văn học Việt Nam; trong khi đó, đối với giai đoạn thứ hai và thứ ba, do sự phong phú và tương đồng của các vấn đề nghiên cứu, chúng tôi 8 chia các nghiên cứu thành các chặng. Việc phân chia lich sử van dé nghiên cứu thành các giai đoạn, chặng như trên là dựa trên quan niệm về phân kì văn học Việt Nam được Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên), Trần Đăng Suyén (Chủ biên phan Văn), Bùi Minh Toán (Chủ biên phần tiếng Việt), Lê A (Chủ biên phần Làm văn) và cộng sự sử dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tap một (2020) và đặc điểm của việc nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn, chặng, việc nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam thường nổi lên một số xu hướng, đặc điểm chủ đạo.
Các xu hướng, đặc điểm này được hình thành dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám - 1945 Đây là giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Nền văn học Việt Nam đã phát triển theo hướng hiện đại và đạt được nhiều thành tựu. Ở giai đoạn này, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu nhiều tinh hoa văn hoá, văn nghệ phương Tây đến công chúng Việt Nam.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có công trình nào đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống về chủ nghĩa nhân văn nói chung, chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng nói riêng trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam. So với nhiều trào lưu, trường phái triết học, văn hóa nghệ thuật khác xuất phát từ phương Tây, chủ nghĩa nhân văn chính thức được giới thiệu ở Việt Nam khá muộn. Công lao đầu tiên thuộc về học giả Đào Duy Anh. Trong công trình Giản yếu Hán - Việt từ điển, quyên ha (1932), Đào Duy Anh giới thiệu đến độc giả trong nước hai mục từ: “nhân đạo chủ nghĩa” và “nhân văn chủ nghĩa”.
Và sau mỗi mục từ trên, ông đều có chú thêm cùng một thuật ngữ tiếng Pháp là “humanisme”. Nếu “nhân đạo chủ nghĩa”, được tác giả chú thích theo ý nghĩa triết học, là một “chủ nghĩa lay sự mưu lợi ích cho nhân loại và thương yêu nhân loại làm tôn chỉ” (Đào Duy Anh, 1957, trang 61) thì “nhân văn chủ nghĩa”, được hiểu theo phương diện lịch sử, là “một thứ chủ trương của học giả Âu châu hồi thế kỉ 15, là hồi văn nghị Phục hưng, bài xích cái không tưởng của Cơ đốc giáo, mà lấy nhân loại làm đối tượng dé nghiên cứu. Họ chủ trương nghiên cứu tư tưởng và văn nghệ của Hy Lạp xưa” (Đào Duy Anh, 1957, trang 66). Như vậy, ngay từ những ngày đầu được tiếp nhận ở Việt Nam, Đào Duy Anh đã có ý thức rất rõ trong việc phân biệt và sử dụng hai khái niệm “chủ nghĩa nhân văn” và chủ “nghĩa nhân đạo” trong tiêng Việt.
Từ sau Cánh mạng tháng Tám - 1945 đến 1975 Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1975 là nền văn học của chế độ mới. Giai đoạn này diễn ra nhiều sự kiện lớn của dân tộc như cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt hơn 30 năm; công cuộc xây dựng cuộc sông mới, con người mới ở miền Bắc; sự phân hóa về mặt chính trị, tư tưởng, xã hội giữa hai miền Nam - Bắc. Những yếu tố này đã tác động sâu sắc tới đời sống tinh thần, vật chất của dân tộc, trong đó có việc nghiên cứu, giới thiệu chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học. Việc nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa nhân văn trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam giai đoạn này có thể chia thành hai chặng: từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1954 và từ 1955 đến 1975.
Chặng từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1954 Từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đên 1954 là chặng đâu của nghiên cứu, giới thiệu chủ nghĩa nhân văn ở Việt Nam. Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập, nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Dang. Vi vậy, chủ nghĩa Marx - Lenin giữ vi thế chủ đạo trong đời song tư tưởng. Van hóa văn nghệ tiếp tục được định hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943).
Do đó, những tranh dau về học thuyết tư tưởng, về tông phái văn nghệ van là nhiệm vụ chính của các nhà văn hóa Marxist thời kì này. Vì vậy, từ những tư tưởng triết mĩ của các nhà triết học phương Đông như Không Tử, Mạnh Tử hay phương Tây như R. Nietzsche đến các thứ “chủ nghĩa” như chủ nghĩa cô điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng đều ít nhiều bị xem là “những quan niệm sai lầm” và “ít nhiều ảnh hưởng tai hại” đến dân tộc. Do đó, từ công trình đầu tiên giới thiệu về chủ nghĩa nhân văn của Đào Duy Anh đến khi đất nước bị chia cách theo Hiệp định Genève (1954), giới nghiên cứu tuy có nảy sinh những cuộc tranh luận về nghệ thuật nhưng cũng chưa có cuộc tranh luận nào về vấn đề chủ nghĩa nhân văn.
Tựu trung lại, thời kì từ Cách mạng tháng Tám đến Hiệp định Genève (1954) được kí kết, chúng ta chỉ có ba công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam công bố vào năm 1949 ở Thanh Hóa về chủ nghĩa nhân văn. Trước hết là Tiap thi luận và tai liệu số 2: Chủ nghĩa nhân văn dưới thời ky văn hoá Phuc hưng của Dang Thai Mai, xuất bản ở Thanh Hoá năm 1949. Đây là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống về chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở phương Tây trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Qua 45 trang của tập thi luận, Đặng Thai Mai đã giới thiệu khái 10 quát, khách quan về điều kiện phát sinh, tinh thần cơ bản, các nhân vật cùng các tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở Âu châu.
Theo tác giả, về nội dung, chủ nghĩa nhân văn là “một hệ thống tư tưởng lấy cõi người, lấy con người làm trọng” (Đặng Thai Mai, 1949, trang 6). Về giá trị, chủ nghĩa nhân văn là một hệ thống tư tưởng cao sâu, vĩ đại, và đây chính là “một tư trào mạnh mẽ, dồi đào nhất trong các tư trào nhân văn từ xưa cho đến đầu thế ki XX” (Đặng Thai Mai, 1949, trang 10). Tiếp đến là hai tiểu luận của Hoài Thanh in ở Thanh Hóa. Đó là Nhân văn Việt Nam (1949) và Quyên sống của con người trong Truyện Kiéu của Nguyễn Du (1949).
Nếu Đặng Thai Mai chú ý đến việc giới thiệu phong trào nhân văn thời Phục hưng ở châu Âu thì Hoài Thanh lại chú ý đến việc giới thiệu khái quát lịch sử của chủ nghĩa nhân văn ở Việt Nam và tác giả ứng dụng phân tích Truyện Kiéu của Nguyễn Du từ lí thuyết của “chủ nghĩa nhân văn mới”. Trong tiểu luận Nhân văn Việt Nam, đồng quan điểm với Dang Thai Mai, Hoài Thanh đề nghị bắt chước các học giả Trung Hoa dùng chữ “chu nghĩa nhân văn” thay cho chữ “chủ nghĩa nhân bản” dé dich chữ “humanisme” trong tiếng Pháp. Bên cạnh đó, ông còn đề nghị nên dùng chữ “nhân văn” thay cho chữ “chủ nghĩa nhân văn”. Đáng chú ý hơn, cũng trong công trình này, Hoài Thanh đề xuất phân chia tư tưởng nhân văn Việt Nam thành hai bộ phận: “nhân văn cũ” và “nhân văn mới”.
“Nhân văn cũ”, theo ông, gồm nhân văn phong kiến, nhân văn bình dân, nhân văn tư sản và “nhân văn mới” chính là nhân văn vô sản. Do nhấn mạnh sự khác biệt giữa “nhân văn cũ” và “nhân văn mới” theo lập trường giai cấp nên tác giả chưa thừa nhận những giá trị tiến bộ của nhân văn phong kiến và nhân văn tư sản.