mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Cấu trúc của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết - Chƣơng 2: Chủ đề và cách xƣng hô trong các phát ngôn hỏi – đáp đối với cặp giao tiếp vợ chồng qua một số truyện ngắn trƣớc Cách mạng. - Chƣơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ của các phát ngôn hỏi – đáp đối với cặp giao tiếp vợ chồng qua một số truyện ngắn trƣớc Cách mạng. 8 z PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Hội thoại và phát ngôn ngôn ngữ 1.Hội thoại Nhƣ chúng ta biết, giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức: Giao tiếp một chiều (độc thoại), giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn. Giao tiếp hai chiều là hoạt động cơ bản nhất, phổ biến nhất của con ngƣời. “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một mục đích nhất định. 18] Hội thoại là một hoạt động xã hội.
Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai ngƣời tham gia cuộc thoại đã thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe. Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham gia, có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế. Tuy nhiên hội thoại gồm hai bên là quan trọng nhất.
Trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi cũng chỉ đề cập đến hội thoại hai bên. Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh nhƣ: thời gian, không gian, nơi chốn, số lƣợng ngƣời tham gia, về cƣơng vị với tƣ cách ngƣời tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời…Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối lƣợng thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định. Hành động ngôn ngữ Cũng nhƣ mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống ngôn ngữ đƣợc sinh ra để thực hiện chức năng hƣớng ngoại – chức năng làm công cụ giao tiếp.
Khi ngôn ngữ đƣợc sử 9 z dụng để giao tiếp thì ngƣời ta nói ngôn ngữ đang hành chức, hay ngôn ngữ hành chức khi con ngƣời nói năng bằng một ngôn ngữ nhất định. Vậy nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con ngƣời – hành động bằng ngôn ngữ [22, tr. Hành động ngôn ngữ đƣợc hiểu: Trong hội thoại “vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện tƣợng: a) Bầu trời hôm nay rất đẹp; để thuật lại một sự việc: b) Hôm nay tôi gặp một người lạ mặt, người đó cứ nhìn tôi với vẻ gì đó mà tôi rất khó tả; để khẳng định: c) Điều đó đúng; để bày tỏ một sự nghi vấn: d) Bạn đang làm gì?; để đƣa ra một yêu cầu: đ) Anh hãy ra ngoài một lát; để khuyên nhủ: e) Anh nên bỏ thuốc; để đe dọa: g) Mày thì liệu hồn; để khen ngợi: h) Em ngoan quá!. Ta gọi các hành động trong các ví dụ a,b,c,d,đ,e,g là những bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung – hành động ngôn ngữ.
Austin, có ba loại hành động ngôn ngữ: a. Hành động tạo lời: Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu.để tạo thành những phát ngôn hay những văn bản có thể hiểu đƣợc. Hành động mượn lời: Là hành động mƣợn phƣơng tiện ngôn ngữ hay nói cách khác là mƣợn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với ngƣời nghe. Hiệu quả này không đồng nhất ở những ngƣời nghe khác nhau.
Hành động ở lời (hành động ngôn trung, hành động trong lời): Là hành động ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng gây ra những tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với ngƣời nghe. Đối tƣợng chúng tôi khảo sát là các phát ngôn hỏi – đáp (thuộc hành động ở lời), vì thế trong phần này chúng tôi đi sâu vào nhóm hành động ở lời. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [3, tr.
Searle chỉ ra 4 điều kiện cụ thể sau: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản. Tiêu chí nhận diện và phân loại hành động ở lời: Để nhận diện hành động ở lời, có thể căn cứ vào các tiêu chí sau: - Đích ở lời - Cấu trúc hình tƣợng, bao gồm: Các kiểu kết cấu, những từ ngữ chuyên dùng cho biểu thức ngữ vi, ngữ điệu, động từ ngữ vi - Nội dung mệnh đề - Theo cách thể hiện lực ngôn trung Phân loại hành động ở lời: Để phân loại hành động ở lời, Austin đƣa ra 5 phạm trù: (1) Phán xử, (2) Hành xử, (3) Cam kết, (4) Biểu cảm, (5) Tuyên bố. Phát ngôn ngôn ngữ Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến: “Nếu xét ở góc độ nhận thức và sử dụng thì, phát ngôn là phạm trù ngữ pháp – lôgic. Ở phát ngôn có các nhân tố của tư duy, tức là có cơ cấu của phán đoán logic gồm thành phần hư thể, thành phần vị thể, thành phần xác định và có các nhân tố ngữ pháp.
Nói đến phát ngôn là nói cú pháp và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất” “Nếu xét ở góc độ cấp độ hệ thống cấu trúc thì câu là cái trừu tượng còn phát ngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể phát ngôn là biến thể, các phát ngôn làm chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương thức tồn tại của mô hình đó.Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn ngữ vừa thuộc bình diện lời nói, còn phát ngôn là thuộc vào bình diện lời nói” [44, tr. 199] Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Phát ngôn chính là các thông điệp hình thành trên cấu trúc của câu nhưng phải là kết quả của tất cả những quy tắc, những tác động vừa miêu tả” [44, tr. 200] 11 z Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Nhìn chung, phát ngôn được hiểu là một hành động giao tiếp, một đơn vị thông báo mà người nghe có thể tiếp nhận được trong điều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nói một cách thô thiển, phát ngôn là cái biểu hiện cụ thể trong từng lúc của câu.
Có thể hình dung một câu do nhiều người nói ra, hoặc do một người nói ra trong những lúc khác nhau. Mỗi lần nói ra tương đương với câu ta có được phát ngôn. Như vậy, một mặt câu là kết quả của quá trình phân tích vô vàn phát ngôn và rút ra được từ chúng, mặt khác câu là cơ sở để theo đó mà tạo ra những phát ngôn khác nhau” [44, tr. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, “Một cách đầy đủ, phát ngôn có thể định nghĩa như sau: Phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, với một cấu trúc và nội dung nhất định nào đó (đầy đủ hoặc không đầy đủ) được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức, ở dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn; ở dạng nói, nó có những kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt hơi; về mặt khối lượng, nó có thể được tận cùng bằng ngữ khí từ.
Theo tác giả, khi phân đoạn, đoạn văn sẽ được chia hết thành các phát ngôn, không có phần dư” [44, tr. Để tiện cho việc khảo sát, trong luận văn của mình, chúng tôi quy ƣớc 1 phát ngôn hỏi tƣơng ứng với 1 câu hỏi, 1 phát ngôn đáp tƣơng ứng với 1 câu trả lời. Khái quát về câu hỏi Hỏi là một hiện tƣợng có tính chất phổ quát trong đời sống, giao tiếp ngôn ngữ của con ngƣời. Đây là một đối tƣợng có tính chất phức tạp, đa diện nhƣng khá thú vị bởi không chỉ đơn thuần hỏi chỉ để biểu thị “điều chƣa biết” “cái không rõ”, thông qua hành vi hỏi còn thể hiện cả một truyền thống văn hóa, tâm lí, phong tục tập quán…những cách hỏi khác nhau sẽ để lại những dấu ấn văn hóa khác nhau.
Qua hành vi hỏi, chúng ta có thể lí giải, đánh giá đƣợc ngôn ngữ của ngƣời tham gia giao tiếp nói chung và nhân vật trong tác phẩm văn học nói riêng. Có lẽ vì thế, dạng thức câu hỏi thu 12 z hút đƣợc sự quan tâm chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều quan điểm, nhiều cách đánh giá, nhận diện, phân loại khác nhau về câu hỏi. Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “câu hỏi” theo cách gọi truyền thống. Nó trƣớc hết dùng để hỏi những điều chƣa biết, vì thế nghiên cứu câu hỏi thì cũng có nghĩa là đề cập đến vai trò nhận thức của con ngƣời, đây là một quá trình phức tạp.
Bất cứ ngôn ngữ nào cũng có câu hỏi, và mục đích chính là dùng để hỏi. Nhƣng câu hỏi không chỉ yêu câu trả lời mà trong giao tiếp ngôn ngữ câu hỏi còn để thể hiện một lời chào, sự mỉa mai, trách móc, khẳng định, phủ định hoặc có thể hỏi để khuyên nhủ, hỏi để lảng tránh câu trả lời, hỏi để gây nên một trạng thái cảm xúc nào đó… 1. Đặc điểm về hình thức của câu hỏi Theo Bách khoa thƣ ngôn ngữ học do William Bright chủ biên (1992) thì câu hỏi trong các ngôn ngữ thƣờng có đặc trƣng hình thức phổ biến là: - Ngữ điệu lên giọng ở cuối câu với câu hỏi có – không. - Các từ nghi vấn đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng ở vị trí trƣớc động từ.
- Đảo vị trí của động từ làm vị ngữ đứng sau chủ ngữ trong câu tƣờng thuật lên trƣớc chủ ngữ trong câu hỏi. Việc đảo trật tự này chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có hiện tƣợng đảo trật tự từ trong các câu hỏi đặc biệt mà trong các câu hỏi ấy có từ nghi vấn đứng ở đầu câu.