Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cực tả sắc đẹp của chị em Thúy Kiều (sau khi tả vẻ đẹp ngoại hình và tài - 17 - z năng mới đến vẻ đẹp tính cách, và tính nết ở đây cũng không được nổi bật bằng cái đẹp). Nguyễn Gia Thiều còn để cho nàng cung nữ tự nói về sắc đẹp của mình một cách kiêu căng và thách thức, sắc đẹp của nàng không chỉ “Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình” mà còn khiến “Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa”. Người đẹp không những không bị coi là nguy hiểm, cần tránh xa mà ngược lại, được trân trọng và được nhìn nhận đúng mức. Sự mê đắm rung động trước sắc đẹp không bị coi là u mê mà được coi là những tình cảm hết sức tự nhiên ở con người: “Cho hay là giống hữu tình.
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong”- Truyện Kiều; “Đóa lê ngon mắt cửu trùng. Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu”- Cung oán ngâm khúc. “Sắc đẹp vốn từng bị tâm lý xã hội tiếp nhận như là ma quỷ, vốn bị xem là sự thử thách lòng kiên trì lí tưởng đạo đức, nay đã lên ngôi, đã được đặt đúng vị trí của nó, được ngợi ca, được thương cảm. Một loạt các truyện Nôm lấy nhân vật chính là đôi tài tử giai nhân đã xác nhận một thời đại quan trọng của chữ thân trong văn học” [30; 419].
Vẻ đẹp người phụ nữ không chỉ được tả một cách chung chung mà rất cụ thể gắn với những nét đẹp về thân xác, khêu gợi, đa tình: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên” (Truyện Kiều) “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước) “Bóng gương lấp loáng trong mành Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa” “Tài sắc đã vang lừng trong nước Bướm ong còn xao xác ngoài hiên Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn - 18 - z Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng” (Cung oán ngâm) Thật khác với quan niệm về chữ “dung” trong “công dung ngôn hạnh” của Nho giáo: “nữ dung không phải là làm cho đẹp, giữ sắc đẹp, mà giữ cho nét mặt dịu dàng, thuỳ mị, không kiêu kì, ăn mặc sạch sẽ, tề chỉnh chứ không cần đẹp. Không chỉ trau chuốt, làm đỏm, mà cả trang điểm son phấn nữa cũng ở ngoài nữ dung” (Trần Đình Hượu). Vẻ đẹp nhục cảm được đề cao như một sự “nổi loạn”, thách thức của văn học với hôn nhân phong kiến. Mặc dù vẫn tồn tại quan niệm “hồng nhan bạc mệnh”, nhưng không vì vậy mà các tác giả phủ nhận giá trị của sắc đẹp.
Người phụ nữ tự tin sắc đẹp sẽ đem lại hạnh phúc và may mắn cho họ: “Song đã cậy má đào chon chót Hẳn duyên tươi phận tốt hơn người” (Cung oán ngâm) Sắc đẹp của Kiều khiến Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải phải xiêu lòng, khiến cho ông quan xử kiện phải khen: “Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân. Thực là tài tử giai nhân. Châu Trần nào có Châu Trần nào hơn” Nếu như người phụ nữ không còn sắc đẹp, sắc đẹp phai tàn thì lúc đó mới chính là bi kịch đối với họ: “Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước. E đến khi đầu bạc mà thương.
Mặt hoa nọ gã Phan Lang. E khi tóc đã điểm sương cũng ngừng” (Chinh phụ ngâm) - 19 - z Bên cạnh sắc đẹp, tuổi trẻ cũng được ca ngợi và trân trọng. Chưa bao giờ trong văn học lại xuất hiện nhiều nỗi sợ thời gian, sợ sự phai tàn của sắc đẹp, sự trôi qua của tuổi xuân như vậy: “Khéo vô duyên bấy cửu trùng Son nào nhuộm được má hồng cho tươi” (Cung oán ngâm khúc); “Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở Tiếc quang âm lần lữa gieo qua” (Chinh phụ ngâm) Ý thức về thời gian, tuổi trẻ chi phối suy nghĩ, tâm lý, cách chọn lựa, cách sống của các nhân vật. Trong Truyện Kiều, lời khuyên của Tú bà ngăn Kiều tự tử đã tỏ ra hiệu quả khi đánh vào tâm lí tiếc xuân, thương thân (khác với Kim Vân Kiều Truyện): “Một người dễ có mấy thân.
Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài” Người chinh phụ vì tiếc thời gian, tuổi trẻ cũng đã có những suy nghĩ nổi loạn khác với cái đức “nhu đạo thuận tòng” “Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu Thà khuyên chàng chẳng chịu tước phong”. Trong văn học trước thế kỷ XVIII, không phải không có những tác phẩm nói đến thời gian và sự hữu hạn của đời người, sự ngắn ngủi của tuổi trẻ: “Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tùng đầu thượng lai” (Cáo tật thị chúng - Mãn Giác Thiền Sư) - 20 - z “Núi Phù Thạch ngày nay lại qua Non sông như cũ người đã già” (Phạm Ngộ) Song nhận thức về tuổi trẻ, thời gian không phải là động lực để các tác giả thay đổi quan niệm sống khắc kỷ, tu thân của mình. Người quân tử vì biết mệnh nên an mệnh. Nhà tu hành vì hiểu sự phù phiếm, hư ảo của đời người nên càng từ bỏ mọi ham muốn, dục vọng.
Trong Truyền kì mạn lục, lời nói của một số nhân vật ma nữ cũng thể hiện những quan niệm sống mới sinh ra từ ý thức về sự hữu hạn của đời người: “Nghĩ đời người ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm lấy những thú vui. Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể được nữa” (Chuyện cây gạo). Quan niệm này cũng bị tác giả phê phán từ quan điểm chính thống, cho là những lời lẽ yêu nghiệt làm con người mê muội.
Cùng với sắc đẹp, ý thức về tuổi trẻ là một biểu hiện của sự “quý thân, trọng thân”, một nội dung quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo và ý thức về con người cá nhân trong văn học thời này. Đối với thân xác con người nói chung, các học thuyết đều hướng tới việc duy trì một sự kiểm soát ngặt nghèo đối với bản năng và nhu cầu của thân xác. Việc tiêu diệt phương diện bản năng của thân xác được tính toán nhằm đến những lí tưởng xã hội. Nho giáo chủ trương tiết dục, quả dục.
Phật giáo chủ trương diệt dục. Kiểm soát, tiến tới từ bỏ những nhu cầu bản năng của thân xác con người, dần dẫn đến sự khinh miệt đối với “thân”. Văn học của các nhà nho, nhà sư trước thế kỷ XVIII thể hiện khá rõ điều đó. Các nhân vật nữ chính diện trong Truyền kì mạn lục đều có một mô típ hành động khá phổ biến là tự tử để bảo toàn danh tiết.
Đó là mô hình liệt nữ mà các nhà nho vẫn thường nêu gương. Qua đó có - 21 - z thể thấy “thân thể xác” không được đánh giá cao bằng “thân danh tiết”, lúc cần còn phải hy sinh “thân thể xác” để lưu lại tiếng thơm. Quan niệm này rất phản nhân đạo. Tình yêu cũng là một đề tài rất nổi bật trong giai đoạn văn học này.
Thơ nói tình đã thay cho thơ nói chí đạo. Quan niệm “thi duyên tình” của văn học Trung Hoa đời Tấn đã để lại những dấu ấn rõ nét trong văn học Việt Nam thời này, lấn át quan niệm “văn tải đạo, thi ngôn chí” vốn thống trị trước đó. Một loạt các truyện thơ Nôm tài tử – giai nhân ra đời, ca ngợi tình yêu nam nữ của các cặp trai tài – gái sắc. Khác với thái độ xa lánh, nghi ngại, phòng phạm của các nhà nho trước đây, các tác giả thời này không những ngợi ca mà còn có những cách nhìn nhận táo bạo và mới mẻ về tình yêu đôi lứa.
Họ cho rằng tình yêu là một thứ tình cảm hết sức tự nhiên ở con người, chứ không phải là một thứ đam mê xấu xa cần tránh. “Cho hay là thói hữu tình Đố ai dứt mối tơ mành cho xong” (Truyện Kiều) “Kìa điểu thú là loài vạn vật Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng Có âm dương có vợ chồng Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê” (Cung oán ngâm khúc) Nếu không được sống với tình yêu hoặc phải kìm giữ nó, thì mới là phản tự nhiên, bất nhẫn: “Ấy loài vật tình duyên còn thế Sao kiếp người nỡ để đấy đây” (Chinh phụ ngâm) - 22 - z Một người phụ nữ có thể yêu nhiều người đàn ông (Kiều); tình yêu có thể do trai gái cảm mến nhau vì sắc, vì tài (Kiều – Kim Trọng, Kiều – Từ Hải) nhưng cũng có thể nảy sinh từ mối quan hệ thân xác (Kiều – Thúc Sinh, nàng cung nữ - bậc quân vương); người phụ nữ có thể chủ động đến với tình yêu, chủ động bày tỏ những tình cảm và suy nghĩ của mình (Kiều, nàng chinh phụ, nàng cung nữ) hoặc dám nói lên những khao khát thầm kín (người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương). Đó đều là những cách nhìn rất mới mẻ về tình yêu, về quan hệ nam nữ, khác hẳn với mục đích của hôn nhân phong kiến: “hợp lưỡng tính chi hảo, thượng dĩ sự tôn miếu, nhi hạ dĩ kế hậu thế dã” (kết hợp cái tốt đẹp của nam nữ, trên nhằm phụng sự tổ tiên, dưới nhằm có người nối dõi – Lễ kí. Trong Truyền kì mạn lục, những mối tình thắm thiết, đầy say mê và lạc thú giữa những anh học trò, lái buôn, nho sĩ … với các ma nữ hay kĩ nữ đều bị tác giả lên án kịch liệt.
Những anh học trò, lái buôn si tình này đều được nhìn nhận như những kẻ “thất phu đa dục” mê muội. “Than ôi! Người con trai bất trung, ông vua trung thường xấu hổ lấy làm bề tôi. Người con gái bất chính, kẻ sĩ trung thường xấu hổ lấy làm vợ. Thuý Tiêu là một ả ca xướng, chẳng là người chính chuyên, không hiểu Nhuận Chi ham luyến về cái gì (…) Như chàng Nhuận Chi, thật là một người ngu vậy” (lời bình cuối Thuý Tiêu truyện).
Giai đoạn này, tình yêu nam nữ dường như luôn gắn bó với cả những khao khát nhục cảm, thậm chí ở một số tác phẩm, những khao khát trần thế đó còn lấn át tình yêu (Cung oán ngâm). Các tác giả không những không lên án, phê phán, mà còn thông cảm, thậm chí cổ vũ cho những đòi hỏi hạnh phúc trần thế này. Những ham muốn đó được coi là bình thường, tự nhiên ở con người. Vì vậy nên ngay cả ở những đấng “lược thao gồm tài” như Từ Hải, những bậc “tài mạo tót vời” như Kim Trọng, hay - 23 - z người cao quý như bậc quân vương, đều có phút xiêu lòng trước sắc đẹp, trước “lửa dục”, chứ không chỉ những kẻ “thất phu đa dục”.