chương I: “Chữ Nôm”, mục II: “Thời kỳ thứ hai: từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII”). Trong đó không có những đánh giá, biện luận theo chiều sâu. Về sự thiên lệch này, bản thân tác giả cũng ý thức rất rõ ràng rằng: “Đứng về phương diện tỷ lệ, hình như chúng tôi nói về các tác phẩm và soạn giả Trung bộ, Nam bộ quá sơ sài; nhiều chương, nhiều mục hầu như bị hy sinh; đó là một điều khổ tâm, vì đi lại bất tiện, hoàn cảnh khó khăn, sách vở nghiên cứu chúng tôi không có quyển2, vậy thiếu sót là sự bất đắc dĩ, chứ không phải cố tình” [163, tr. Vì thế, với chúng tôi, công trình chủ yếu có ý nghĩa về mặt tư liệu tham khảo, cung cấp cái nhìn tổng lược.
Ba tập Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn, trình bày khái quát về các thời đoạn văn học, từ nguồn gốc đến năm 1945. Trong đó, cuốn tập II: “Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX” (Vũ Đình Liên - Đỗ Đức Hiểu - Lê Trí Viễn - Huỳnh Lý - Trương Chính - Lê Thước, NXB Xây dựng, Hà Nội, 1957) có liên quan đến giai đoạn khảo sát của đề tài. Tuy nhiên, “nhặt” trong hơn 300 1 Bản in đầu tiên năm 1949, NXB Vĩnh Bảo, Sài Gòn. Chúng tôi tham khảo bản in năm 1968 của Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn.
2 Phần in nghiêng do tác giả luận án nhấn mạnh. 17 z trang sách, chúng tôi chỉ có thể tham khảo chút ít tư liệu về Đào Duy Từ (trình bày trong sự đối sánh với Nguyễn Hàng ở Đàng Ngoài) và Nguyễn Cư Trinh (trong phần “Các tác giả phụ”). Bộ sách Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Ban Văn - Sử - Địa (7 quyển, xuất bản từ năm 1957 đến 1964) bước đầu sưu tầm tài liệu nghiên cứu và lược trình toàn bộ lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX. Chúng tôi đặc biệt chú ý đến Quyển II (lược về các tác giả, tác phẩm Hán - Nôm từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII), Quyển III (lược về các tác giả, tác phẩm Hán văn thế kỷ XVIII) và Quyển IV (lược về các tác giả, tác phẩm văn học Nôm thế kỷ XVIII).
Trong quá trình phân chia nhóm tác giả, các soạn giả đã nhắc đến một số tác giả văn học Đàng Trong như Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Chiêu Anh các, Ngô Thế Lân (tác giả Hán văn), Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Cư Trinh (với tác phẩm Sãi Vãi), Mạc Thiên Tích, Hoàng Quang (phần sáng tác bằng chữ Nôm). Tuy nhiên, mọi phân tích chỉ trải trên trục ngang, coi tất cả trong một chỉnh thể văn học Việt, chứ không phân biệt hai miền văn học, do đó, không cung cấp một cái nhìn toàn cảnh, trực diện đối với văn học Đàng Trong. Dù vậy, các soạn giả cũng đã đưa ra cho chúng tôi những gợi ý rất ý nghĩa khi kết luận: “Người Việt Nam hồi thế kỷ XVIII ở Đường Ngoài cũng như người Việt Nam hồi thế kỷ XVIII ở Đường Trong tuy sống ở hai khu vực hoàn toàn cách biệt, nhưng vẫn có chung một ngữ ngôn và khi sáng tạo nghệ thuật vẫn vận dụng những phương pháp chung của cả dân tộc1” [136, tr. Văn học Việt Nam - văn học sử giảng văn của Phạm Văn Diêu (Tân Việt xuất bản, Sài Gòn, 1960), thực chất là một cuốn giáo trình văn học sử để giảng dạy ở các cấp trung học I, II và đại học Văn khoa khi đó.
Mặc dù không dành một mục khảo sát về văn học Nôm Đàng Trong nhưng một số tác giả Đàng Trong đã được Phạm Văn Diêu viết riêng trong mục “Các tác giả và các tác phẩm”, như Đào Duy Từ, Hoàng tử Tứ, Nguyễn Cư Trinh, Hoàng Quang, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành; trong đó, Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu (Đặng Đức Siêu), Văn tế trận vong tướng sĩ (Nguyễn Văn Thành) được chọn giới thiệu riêng ở mục “Giảng văn”. Theo ông, sự xuất hiện của những Song Tinh Bất Dạ, Hoa tình. đã “tỏ rõ dấu hiệu của văn chương sắp phát đạt: văn chương không còn là môn độc quyền của Đường Ngoài và đã lan vào đến Đường Trong”, “báo hiệu cho những tác phẩm văn học sắp 1 Phần in nghiêng do tác giả luận án nhấn mạnh. 18 z tới mang lại trong văn học nước Việt cái khí sắc mới mẻ của hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội riêng mình” [23, tr.
Đây là một nhận định hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, do chỉ giới hạn trong văn học Nôm, lại khảo sát toàn bộ lược sử nền văn học Việt, nên đối tượng quan tâm của chúng tôi - tức toàn bộ nền văn học Đàng Trong giai đoạn XVII - XVIII mới chỉ được dựng nên với đôi ba phác thảo chưa hoàn thiện. Giá trị tham khảo, với chúng tôi, vì thế còn hạn chế. Bùi Văn Nguyên khi khảo cứu về văn học Việt Nam thế kỷ XVI - giữa thế kỷ XVIII, trong cuốn Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam - Tập II của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Bùi Văn Nguyên - Phan Sĩ Tấn biên soạn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1961) khẳng định: “Văn học từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII đã phân ra thành văn học Bắc và Nam sông Gianh.
Văn học Đàng Ngoài kế tục và phát triển văn học viết từ xưa của dân tộc nên phong phú và có chất lượng hơn nền văn học Đàng Trong, là nền văn học xây dựng trên cơ sở mới khai thác” [107, tr. Điểm đáng quý của công trình này là tác giả đã dành hẳn một mục riêng tìm hiểu về “Văn học Đàng Trong hay văn học bên kia sông Gianh”. Trong đó, các gương mặt tiêu biểu cho văn học Đàng Trong thời kỳ này lần lượt được giới thiệu: một Đào Duy Từ đóng “vai trò quan trọng trong việc phát triển văn hóa buổi khai nghiệp của chúa Nguyễn” [107, tr. 221], một Mạc Thiên Tích tiên khởi cho sự hình thành tao đàn Chiêu Anh các ở xứ Hà Tiên, một Nguyễn Cư Trinh nổi tiếng với bài hoạt kê Sãi Vãi, một Nguyễn Hữu Hào mở đầu cho sự hình thành của thể loại truyện Nôm bác học với tác phẩm Song Tinh Bất Dạ.
Dù chưa thực sự khảo sát sâu, nhưng Bùi Văn Nguyên đã khái quát được một số đặc điểm tiêu biểu của văn học Đàng Trong thời kỳ này: “tuy về số lượng cũng như chất lượng chưa cao, nhưng đã phát triển được khá đầy đủ các mặt như tình yêu thiên nhiên đất nước, tính tiết tháo, tính trữ tình, tính tố cáo hiện thực xã hội, và do đó đã phản ánh được phần nào chế độ phong kiến Đàng Trong thời bấy giờ” [107, tr. Chúng tôi không hoàn toàn tán thành cách đánh giá văn học nói chung và văn học Đàng Trong nói riêng từ quan điểm mác xít cơ giới như thế nhưng cũng phải thừa nhận đóng góp của các tác giả khi nỗ lực đặt văn học Đàng Trong vào một góc nhìn riêng. Tuy nhiên, đến cuốn tập III của bộ giáo trình này (Lê Trí Viễn - Phan Côn - Đặng Thanh Lê - Phạm Văn Luận - Lê Hoài Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1962), nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến 1858, thì chỉ có một 19 z số tác giả văn học Đàng Trong được điểm tên khi cần minh định cho một vấn đề nào đó. Chẳng hạn, Phong trúc tập của Ngô Thế Lân được nhắc đến khi nhóm nghiên cứu phân tích khuynh hướng đấu tranh và tố cáo hiện thực; Hoài Nam khúc của Hoàng Quang là điển hình cho khuynh hướng bi quan và bảo thủ phản động.
Không có bất kỳ tác giả nào được nhắc đến ở phần viết riêng. Cũng như không có bất kỳ đánh giá nào dành riêng cho văn học Đàng Trong thời điểm này. Tình hình như thế tiếp tục tái diễn ở bộ giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau này là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) 1. Trong cuốn Văn học cổ Việt Nam, Tập II (Thế kỷ XVI - thế kỷ XVII) (Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1964), nhóm tác giả không có bất kỳ một nhận định hay một lưu ý đặc biệt nào về sự xuất hiện của vùng văn học Đàng Trong trên bản đồ văn học Việt.
Mặc dù đã dành một mục riêng giới thiệu về Đào Duy Từ như một gương mặt “tiêu biểu của văn học miền Nam sông Gianh thế kỷ XVII”, nhưng ngoài việc cung cấp hiểu biết thông dụng về hai tác phẩm nổi bật của họ Đào - Ngọa Long cương vãn và Tư Dung vãn, ấn tượng để lại không thực sự sắc nét. Người đọc khó có thể có những hình dung tổng lược về diện mạo của một vùng văn học. Về sau, khi tái bản, lập thành bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn văn học này gần như được viết lại trong hai tập Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X nửa đầu thế kỷ thứ XVIII (Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tập I - năm 1978, tập II - năm 1979), nhưng thành tựu của nhóm tác giả chủ yếu tập trung ở việc khắc họa diện mạo văn học Đàng Ngoài/ miền Bắc các thế kỷ. Sáng tác của các tác giả Đàng Trong/ miền Nam vẫn còn là một “vùng đất trống” chưa được “canh tác” kỹ lưỡng.
Mặc dù Bùi Duy Tân khi khảo về “Văn học từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII” đã nhắc đến khu vực văn học này, thậm chí tần suất nhắc đến các tác giả, tác phẩm Đàng Trong có phần dày đặc và thường xuyên hơn nhiều công trình nghiên cứu khác, 1 Riêng trong phần trình bày về bộ giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi không tuân thủ cách sắp xếp theo trật tự thời gian xuất bản. Để thuận tiện cho tư duy logic, chúng tôi trình bày hai cuốn do Đinh Gia Khánh chủ biên, khảo về “Văn học cổ Việt Nam (thế kỷ X - thế kỷ XVII)” (xuất bản lần đầu năm 1964) trước cuốn của Hoàng Hữu Yên - Nguyễn Lộc, khảo về “Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX” (xuất bản lần đầu năm 1962).