Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chương 2: Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển ngôn ngữ văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX Chương 3: Đổi mới về kết cấu văn bản văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX Chương 4: Ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ hội thoại trong văn bản văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX 6 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Văn học nửa đầu thế kỷ XX là thời kỳ có nhiều biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ trên nhiều phương diện từ nội dung đến hình thức thể hiện, trong đó đặc biệt chú ý là sự hình thành và phát triển của văn xuôi mới (văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ) thay thế cho văn vần. Văn xuôi mới nửa đầu thế kỷ XX được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau. Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được đánh giá rất cao.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ giai đoạn 1930 - 1945, có chăng thì chỉ dừng lại ở từng tác giả, tác phẩm mà chưa có được cái nhìn toàn diện và có hệ thống về văn xuôi cũng như ngôn ngữ văn xuôi mới giai đoạn 1930 - 1945. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1. Trước năm 1945, các công trình, bài viết chủ yếu tập nghiên cứu về thể loại và thi pháp của văn xuôi quốc ngữ. Các nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Trúc Hà, Hải Đường, Vũ Ngọc Phan, Vũ Bằng… đều có chung nhận định văn xuôi quốc ngữ ra đời đầu tiên ở Nam Kỳ nhưng phát triển rực rỡ ở Bắc Kỳ và đỉnh cao là giai đoạn 1930 - 1945.
Người quan tâm đến văn xuôi mới đầu tiên phải kể đến, đó là Phạm Quỳnh. Trong công trình Bàn về tiểu thuyết (1921), tác giả nhận định hiện trạng của tiểu thuyết đương thời “Mấy năm nay, ở nước ta người làm tiểu thuyết, người đọc tiểu thuyết đã thấy nhiều” nhưng “người làm tiểu thuyết còn ít thấy hay mà người đọc tiểu thuyết cũng chưa được sành. Lối tiểu thuyết trong văn chương ta thật là chưa có phương châm, chưa có định thể vậy” [83, tr. Bên cạnh việc bàn về hai yếu tố then chốt liên quan đến một tác phẩm 7 z văn học: nhà văn và người đọc thì tác giả còn giải thích rất rõ về tiểu thuyết và phép làm tiểu thuyết ở các nước Âu - Mỹ “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ kỳ tích, đủ làm cho người đọc có hứng thú” [83, tr.
Như vậy, bài viết chủ yếu định hướng sáng tác tiểu thuyết theo kiểu phương Tây cho những người làm tiểu thuyết chứ chưa bàn kỹ về sự tiến triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Cùng với xu hướng trên còn có công trình Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết (1932) của Trúc Hà. Đây là công trình có tính chất tổng kết những thành tựu của văn chương giai đoạn đầu thế kỷ XX. Ngoại trừ cái lỗi lớn là bỏ qua văn xuôi quốc ngữ miền Nam, bài viết của ông đã bao quát được sự phát triển của quốc văn trong hơn mười năm, từ 1919 đến 1932, điểm qua được những nổi trội, những cây bút tiêu biểu và về sau vẫn được nhắc đến nhiều trong các công trình văn học sử.
Tác giả theo dõi từng bước phát triển của quốc văn, từ thuở còn là những câu văn đăng đối biền ngẫu cho đến khi trở nên hết sức linh hoạt uyển chuyển trong những tác phẩm tả chân hay lãng mạn. Tác giả cũng tập trung giới thiệu thể thức và cách viết tiểu thuyết hơn là phê bình, đánh giá về hiện trạng tiểu thuyết đương thời “Xét ra ngoài mười mấy năm nay về phương diện tiểu thuyết chưa nói đến các phương diện khác, quốc văn thật đã tiến nhiều” [30, tr. Ông cũng chưa phân biệt rạch ròi giữa tiểu thuyết và truyện ngắn. Những truyện ngắn xuất hiện trên mặt báo lúc đó ông cũng đưa vào khái niệm tiểu thuyết.
Thời kỳ này, một số nhà nghiên cứu còn nghiên cứu về kỹ thuật viết văn của các nhà văn. Theo giòng (1941) của Thạch Lam là công trình tiêu biểu bàn về thể loại tiểu thuyết và cách tân trong cách viết tiểu thuyết của Phong hóa. Ông đã nhận xét về cách viết văn của Phong hóa như sau: “Phong - Hóa hết sức phá bỏ các sáo cũ trong cách viết văn. Một câu văn sáo là một câu văn có 8 z những đối chọi nhau cho kêu, và những hình ảnh, những ý nghĩ, những hình ảnh sẵn sàng, chỉ việc chắp nối với nhau.
Phong Hóa phá bỏ lề lối, và gây nên một lối văn giản dị, dễ hiểu, bình dân hơn và hết sức tránh dùng chữ Hán. Chính lối văn ấy, mỗi ngày một mềm dẻo hơn, giầu thêm vì những cách hành văn của chữ Pháp, là lối văn thịnh hành đến bây giờ” [53, tr. Cùng với đó là công trình Khảo về tiểu thuyết (1941) của Vũ Bằng. Tác giả đã dành hẳn hai chương 10 và 12 để bàn luận về thi pháp tiểu thuyết như giọng điệu và tổ chức trần thuật.
Ý đồ của tác giả được thể hiện ngay ở cách đặt tên cho các chương: “Tiểu thuyết nên viết bằng giọng văn gì” và “Viết tiểu thuyết nên dùng ngôi thứ mấy?” [5, tr. Nhìn chung, các công trình trên chỉ mang tính định hướng sáng tác hơn là phê bình, đánh giá nhưng cũng hé mở sức hấp dẫn đối với những ai đang và sẽ quan tâm đến văn xuôi quốc ngữ. Điều đó cũng cho thấy văn xuôi đang tiến đến làm chủ văn đàn thay thế cho văn vần khi văn học được sáng tác bằng chữ quốc ngữ. Từ năm 1945 đến 1986, việc nghiên cứu văn xuôi quốc ngữ đầu thế thế kỷ XX được giới nghiên cứu quan tâm nhiều hơn.
Trong đó phải kể đến cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên Việt Nam văn học sử yếu (1946) của Dương Quảng Hàm. Ông cho rằng nền quốc văn mới hình thành ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là một sự kiện hết sức quan trọng, một cột mốc trong sự hình thành ngôn ngữ văn học hiện đại tiếng Việt. Theo tác giả, chỉ khi có chữ quốc ngữ thì văn xuôi mới hình thành “Xưa kia ta chưa có văn xuôi. Đến khi nền quốc văn mới thành lập, văn xuôi bắt đầu xuất hiện và ngày một phát đạt mà thành ra thể văn chính trong nền Việt văn ngày nay” [31, tr.414] và đó là kiểu loại văn xuôi trước đây chưa từng có “Trong quốc văn mới các thể biền ngẫu (phú, tứ lục, kinh nghĩa, văn sách) hầu như không dùng đến nữa; các thể văn vần (thơ cổ phong, thơ đường luật, lục bát song 9 z thất, hát nói, ngâm khúc) vẫn có một số ít người viết… duy có các thể văn xuôi là thịnh hành nhất” [31, tr.
Khi nói về Tự lực văn đoàn và những đóng góp trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc, trong công trình Việt Nam văn học sử yếu (1941), tác giả Dương Quảng Hàm cho rằng: “Phái ấy (Tự lực văn đoàn) lại có công trong việc làm cho văn quốc ngữ trở nên sáng sủa, bình giản khiến cho nhiều người thích đọc” [31, tr. Đây cũng là ý kiến chung của các nhà nghiên cứu phê bình sau này. Cuốn văn học sử Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957), tập 3, từ giữa thế kỷ XIX đến 1945 của nhóm Lê Quý Đôn cũng đề cập khá kỹ đến bản chất của sự chuyển đổi từ văn vần sang văn xuôi. Người viết đã tái hiện lại dòng chảy liên tục của lịch sử văn học thông qua những tác gia và tác phẩm lớn của văn học chữ Nôm và chữ quốc ngữ.
Tuy còn rất sơ lược nhưng cũng đã bàn qua về cái mới của văn xuôi so với văn vần: “Tạo nên một nền nghệ thuật mới, làm phong phú thêm ngôn ngữ của ta…Văn xuôi trở thành một thứ văn trong sáng, khúc triết, đại chúng. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ về tình cảm, cảm giác, màu sắc trở nên phong phú và có khả năng diễn đạt những khía cạnh sâu xa nhất của lòng người” [62, tr. Công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1960) của Phạm Thế Ngũ bàn rất kĩ về thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trong đó, người viết đã giới thiệu kỹ về các tập đoản thiên, đoản kịch của Khái Hưng, Nhất Linh và Thạch Lam.
Tác giả nhận xét “chú ý đến sáng tác hơn là dịch thuật nhất là sáng tác văn nghệ (tiểu thuyết, thơ). Cái tên Tự lực đây cũng còn có cái ý tự sức mình sáng tác, không đi phiên dịch hay mô phỏng. Đó là một phản ứng chống lại giai đoạn trước chỉ chuyên chú vào học thuật còn văn nghệ thì chỉ đi phiên dịch ngoại văn” [72, tr. Bên cạnh đó, ông đưa ra nhận xét chung về văn phong của Tự lực văn đoàn “chủ trương viết một lối văn giản dị, dễ hiểu dùng ít chữ nho, có 10 z tính cách An Nam, để chống lại lối văn “đại cà sa” nặng trĩu những chữ Hán, những thuật đối xứng và trùng điệp của giai đoạn trước” [72, tr.19], về Khái Hưng “Lối hành văn dung dị, điềm đạm và ở nhiều truyện, ngòi bút cổ tích đầy thi vị nhẹ nhàng” [72, tr.353], về Thạch Lam “Về văn, Thạch Lam trong một vài tác phẩm loạt đầu tỏ ra chưa được sành sỏi chặt chẽ, cách viết có khi non vụng, lê thê ở những đoạn tả cảnh ngượng ngập, thuật sự rời rạc.
Nhưng về sau câu văn ông lần tiến đến vẻ tự nhiên, vị đậm đà. Tuy nhiên, ông không có cái hóm hỉnh giễu cợt của Khái Hưng hay Thế Lữ. Ngòi bút giàu hình ảnh cảm giác, nhưng không rộn ràng khoe khoang mà thường lặng lẽ điềm tĩnh, kín đáo tế nhị” [72, tr. Tuy nhiên, công trình này chưa nghiên cứu sâu về ngôn ngữ của Tự lực văn đoàn, vẫn chỉ dừng lại ở những nhận xét sơ lược, chung chung.
Công trình Văn học Việt Nam 1930 – 1945 (1961) của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ là công trình được chúng tôi đánh giá cao bởi những đóng góp của người viết trong việc sưu tầm tài liệu, giới thiệu, phân tích đánh giá từng nhà văn giai đoạn 1930 -1945 và chỉ ra những thành công cũng như những hạn chế của họ.