Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt phản ánh sâu sắc cấu trúc xã hội, tâm lý giao tiếp và bản sắc văn hóa dân tộc. Khảo sát thực tế trên 2 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của nhà văn Phan Tứ gồm tiểu thuyết "Bên kia biên giới" (xuất bản lần đầu năm 1958) và "Gia đình má Bảy" (xuất bản năm 1968) đã ghi nhận tổng cộng 1.970 lượt xuất hiện của các biểu thức xưng hô. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải mã các phương tiện ngôn ngữ được nhà văn sử dụng để định vị vai giao tiếp, bộc lộ thế giới nội tâm và khắc họa tính cách nhân vật trong bối cảnh kháng chiến cứu quốc.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi xưng hô, phân loại cấu tạo ngữ pháp, miêu tả tần suất hoạt động và phân tích giá trị ngữ dụng của từng nhóm từ ngữ. Phạm vi khảo sát tập trung vào không gian nghệ thuật Nam Trung Bộ và vùng Hạ Lào trong 2 giai đoạn lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ý nghĩa của nghiên cứu được xác lập thông qua việc cung cấp bộ dữ liệu định lượng với 4 nhóm phương tiện chính, trong đó đại từ nhân xưng chiếm 45,1% và từ chỉ quan hệ thân tộc chiếm 32,4%, đóng góp nguồn tài liệu giá trị cho các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn hóa học và Giảng dạy Ngữ văn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp 2 lý thuyết nền tảng gồm Ngữ dụng học của tác giả Đỗ Hữu Châu và Ngôn ngữ học xã hội của tác giả Nguyễn Văn Khang. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình phân tích tương tác hội thoại của Catherine Kerbrat-Orecchioni nhằm phân tích 2 trục quan hệ liên cá nhân: trục ngang thể hiện mức độ thân cận hay xa cách, và trục dọc biểu thị vị thế xã hội cùng quyền uy giao tiếp.

Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm then chốt: hành vi xưng hô, vai giao tiếp (vai phát và vai nhận), hiện thực ngoài diễn ngôn, thoại trường (gồm thoại trường hằng thể và thoại trường biến thể), cùng khái niệm ngữ vực và biến thể phương ngữ. Theo mô hình phân loại xã hội học ngôn ngữ, từ ngữ xưng hô tiếng Việt được tổ chức thành 6 cách thức tương đương 12 kiểu sử dụng cụ thể, từ đại từ nhân xưng chuyên dùng, danh từ thân tộc lâm thời, tên riêng, cho đến các kết hợp chức danh nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu bao gồm toàn bộ các cuộc thoại và diễn ngôn nghệ thuật trong 2 cuốn tiểu thuyết với quy mô hơn 600 trang in, thu thập được 1.970 lượt từ ngữ xưng hô. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với toàn bộ các đơn vị phát ngôn chứa yếu tố xưng hô xuất hiện trong văn bản tác phẩm.

Phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp miêu tả cấu trúc được lựa chọn làm giải pháp then chốt nhằm đặt từng phát ngôn vào bối cảnh giao tiếp cụ thể, giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và đối tượng được quy chiếu. Thủ pháp thống kê định lượng và phân loại liên ngành giữa ngôn ngữ và văn hóa được triển khai trong suốt 12 tháng nghiên cứu (giai đoạn 2018 - 2019) tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, bảo đảm tính xác thực và khoa học cho các kết luận rút ra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên 1.970 lượt xuất hiện của từ ngữ xưng hô mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, đại từ nhân xưng là nhóm phương tiện xuất hiện nhiều nhất với 889 lượt, tương đương 45,1% tổng ngữ liệu. Ở ngôi thứ nhất số ít, đại từ "tôi" dẫn đầu với 253 lượt nhờ tính chất trung tính và an toàn trong giao tiếp quy thức, tiếp theo là đại từ "tao" với 130 lượt. Ở ngôi thứ hai số ít, đại từ "mày" chiếm ưu thế vượt trội với 203 lượt xuất hiện.

Thứ hai, từ chỉ quan hệ thân tộc đóng vai trò chủ đạo thứ hai với 639 lượt, đạt tỷ lệ 32,4%. Tiêu biểu là từ "anh" ở ngôi thứ nhất số ít với 275 lượt, từ "em" với 102 lượt và từ "má" ở ngôi thứ hai số ít với 35 lượt. Hiện tượng này khẳng định quá trình thân tộc hóa mạnh mẽ các mối quan hệ xã hội trong đời sống chiến khu.

Thứ ba, xưng hô bằng tên riêng đạt hơn 400 lượt khảo sát trên 16 nhân vật chính, tiêu biểu như nhân vật Tiến xuất hiện 64 lần, Kham 59 lần, Sâm 41 lần và Vi Xiên 34 lần, mang lại sắc thái thân mật và xóa nhòa rào cản chức vụ.

Thứ tư, phương ngữ Nam Trung Bộ thể hiện đậm nét qua hệ thống từ ngữ đặc thù như "tụi mình" (3 lượt), "bọn tao" (5 lượt), "tụi bay" (6 lượt), "tụi nó" (13 lượt), "mi" (11 lượt) và "bay" (8 lượt).

Thảo luận kết quả

Sự phân bổ của các nhóm từ xưng hô chịu sự chi phối trực tiếp từ hoàn cảnh chiến tranh cách mạng. Tỷ lệ 45,1% của đại từ nhân xưng phản ánh tính chất phân cực rõ ràng giữa hai lực lượng cách mạng và kẻ thù xâm lược. Khi biểu đạt sự căm thù hoặc đối kháng, các nhân vật sử dụng cặp xưng hô "tao - mày" hoặc đại từ miệt thị "chúng nó", "tụi nó". Ngược lại, việc từ thân tộc chiếm 32,4% giúp kết nối những người chiến sĩ và đồng bào thành một khối đại gia đình thống nhất, biến tình đồng đội thành tình thân ruột thịt.

So sánh với các nghiên cứu về ngôn ngữ của Nguyễn Quang Sáng hay Ngô Tất Tố, phong cách Phan Tứ thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ chuẩn mực kháng chiến và khẩu ngữ Nam Trung Bộ mộc mạc. Về mặt trình bày trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn hiệu quả qua biểu đồ hình tròn phân bổ tỷ trọng 4 nhóm từ ngữ xưng hô chính, kết hợp bảng ma trận đối sánh 3 ngôi giao tiếp theo trục số lượng (số ít, số nhiều) để làm nổi bật sự chuyển dịch sắc thái tình cảm của nhân vật.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy giá trị của công trình, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất:

  1. Mở rộng quy mô khảo sát ngữ liệu: Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn học cần mở rộng phạm vi khảo sát thêm 3 tác phẩm tiêu biểu của Phan Tứ gồm "Mẫn và tôi", "Trước giờ nổ súng" và "Trại ST 18" trong giai đoạn 2026 - 2028, nâng dung lượng mẫu nghiên cứu lên khoảng 5.000 đơn vị ngữ liệu nhằm hoàn thiện bức tranh toàn diện về phong cách ngôn ngữ của tác giả.

  2. Cải tiến chương trình giảng dạy phân tích tác phẩm: Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học sư phạm cần đưa phương pháp phân tích ngữ dụng học xưng hô vào 100% giáo trình học phần Phân tích tác phẩm văn học và Ngôn ngữ học ứng dụng từ năm học 2026 - 2027, giúp sinh viên hiểu rõ mối liên hệ giữa ngữ pháp và văn hóa giao tiếp.

  3. Xây dựng ngân hàng ngữ liệu điện tử: Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin phối hợp cùng các viện nghiên cứu tiến hành số hóa toàn bộ tác phẩm văn xuôi cách mạng Việt Nam, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu ngữ liệu xưng hô trực tuyến trong vòng 24 tháng để phục vụ công tác tra cứu học thuật.

  4. Xây dựng cẩm nang quy chuẩn dịch thuật văn học: Hội Nhà văn Việt Nam và các nhà xuất bản lớn cần ban hành tài liệu hướng dẫn chuyển ngữ từ xưng hô tiếng Việt sang ít nhất 2 ngôn ngữ quốc tế là tiếng Anh và tiếng Pháp trước năm 2027, giúp truyền tải chính xác sắc thái biểu cảm và yếu tố phương ngữ của văn học Việt Nam ra thế giới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học: Khai thác khung lý thuyết ngữ dụng và cơ sở dữ liệu 1.970 lượt khảo sát để xây dựng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ dụng học tương tác và phương ngữ học xã hội.

  2. Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Ứng dụng các kết quả phân tích về 2 tác phẩm "Bên kia biên giới" và "Gia đình má Bảy" vào việc thiết kế bài giảng đọc hiểu văn bản, giúp học sinh tiếp cận nhân vật dưới góc nhìn ngôn ngữ học.

  3. Nhà văn, nhà biên kịch và người sáng tạo nội dung: Tham khảo cách thức vận dụng 639 từ ngữ thân tộc và các biến thể phương ngữ miền Trung để xây dựng hội thoại chân thực, khắc họa chiều sâu tâm lý và tính cách nhân vật lịch sử.

  4. Chuyên gia dịch thuật và nhà nghiên cứu Việt Nam học: Nắm vững cơ chế vận hành của 889 đại từ nhân xưng và hệ thống xưng hô gia tộc để tìm kiếm các phương án chuyển dịch tương đương, giải quyết thách thức bất đối xứng ngôn ngữ trong dịch thuật văn chương.

Câu hỏi thường gặp

Đại từ nhân xưng nào xuất hiện với tần số cao nhất trong các tác phẩm được khảo sát? Đại từ "tôi" ở ngôi thứ nhất số ít xuất hiện nhiều nhất với 253 lần trong tổng số 889 lượt đại từ nhân xưng. Từ này mang sắc thái trung tính, thường được các nhân vật như Tiến hay Vi Xiên sử dụng trong các cuộc họp hoặc khi tiếp xúc lần đầu để duy trì tính lịch sự.

Tại sao từ chỉ quan hệ thân tộc lại chiếm tỷ lệ lớn đến 32,4% trong tác phẩm? Trong bối cảnh chiến tranh cách mạng, các từ xưng hô như "anh" (275 lượt), "em" (102 lượt), "má" (35 lượt) được mở rộng ra ngoài phạm vi gia đình. Cách gọi này giúp xóa mờ ranh giới xã hội, gắn kết các chiến sĩ và quần chúng nhân dân thành một khối đoàn kết ruột thịt.

Phương ngữ Nam Trung Bộ đóng vai trò gì trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả? Phương ngữ Nam Trung Bộ với các từ như "tụi mình", "tụi bay", "má con tao", "xài xể" giúp tái hiện chân thực không gian sống và bản tính bộc trực của con người miền Trung. Qua đó, tác giả khắc họa sống động tinh thần kiên cường của nhân vật má Bảy và Út Sâm.

Việc xưng hô bằng tên riêng được tác giả sử dụng nhằm mục đích gì? Tác giả sử dụng tên riêng hơn 400 lần ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai đối với 16 nhân vật. Điển hình như cách gọi "Kham" (59 lần) hay "Tiến" (64 lần) giúp tạo dựng không khí giao tiếp gần gũi, thân mật giữa các chiến sĩ và đồng bào dân tộc.

Luận văn đã kết hợp các khung lý thuyết nào để làm rõ giá trị ngữ dụng của từ xưng hô? Công trình kết hợp chặt chẽ lý thuyết Ngữ dụng học của tác giả Đỗ Hữu Châu về hành vi chiếu vật với lý thuyết Ngôn ngữ học xã hội của tác giả Nguyễn Văn Khang về 12 kiểu xưng hô, cùng mô hình 2 trục quan hệ liên cá nhân của Catherine Kerbrat-Orecchioni.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc khảo sát toàn diện 1.970 lượt xuất hiện của từ ngữ xưng hô trong 2 tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn Phan Tứ.
  • Xác lập cơ cấu 4 nhóm phương tiện ngôn ngữ chính, trong đó đại từ nhân xưng chiếm 45,1% và từ ngữ thân tộc chiếm 32,4%.
  • Làm sáng tỏ quy luật vận động của ngôn ngữ nghệ thuật trong việc thể hiện tâm lý nhân vật và tinh thần đoàn kết thời chiến.
  • Khẳng định dấu ấn độc đáo của phương ngữ Nam Trung Bộ trong phong cách văn xuôi cách mạng của tác giả.
  • Mở ra hướng nghiên cứu liên ngành kết hợp ngôn ngữ học, văn hóa học và thi pháp học văn học hiện đại.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cái nhìn hệ thống và định lượng về hành vi xưng hô trong văn xuôi Phan Tứ. Các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát thêm 3 tác phẩm khác trong lộ trình 2026 - 2028. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp cơ sở dữ liệu của luận văn để phục vụ công tác giảng dạy và học thuật chuyên sâu.