Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện biểu đạt chủ yếu của tác phẩm văn chương, phản ánh cái nhìn, nhận thức và cảm quan thẩm mỹ của nhà văn đối với hiện thực đời sống. Trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 - 1945, Thạch Lam (1910 - 1942) là cây bút văn xuôi tiêu biểu thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn, định hình một phong cách truyện ngắn trữ tình - lãng mạn giàu chất thơ kết hợp với khuynh hướng hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận cuộc đời, sự nghiệp, thi pháp và phong cách nghệ thuật của Thạch Lam, việc khảo sát chuyên sâu và có hệ thống về một từ loại cụ thể trong tác phẩm của ông vẫn chưa được triển khai đầy đủ. Trong khi đó, văn bản truyện ngắn của Thạch Lam ghi nhận mật độ xuất hiện dày đặc của từ loại tính từ. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Tính từ trong một số truyện ngắn của Thạch Lam" được thực hiện nhằm giải mã phương thức tổ chức ngôn từ nghệ thuật của tác giả, đồng thời cung cấp tư liệu phục vụ học tập và giảng dạy tác phẩm Thạch Lam trong chương trình phổ thông.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm bốn nội dung:
- Rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành, nắm vững các bước triển khai một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng trong văn học.
- Tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về từ loại tính từ trong tiếng Việt (khái niệm, đặc điểm ngữ pháp, chức vụ cú pháp và các mô hình phân loại).
- Khảo sát, thống kê và phân loại các tính từ xuất hiện trong 17 truyện ngắn tiêu biểu của Thạch Lam dựa trên khung lý thuyết ngôn ngữ học đã lựa chọn.
- Phân tích chức năng cú pháp và vai trò biểu đạt nghệ thuật của tính từ trong việc miêu tả không gian, cảnh vật thiên nhiên và khắc họa số phận những con người nghèo khổ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Từ loại tính từ trong tiếng Việt xét trên các bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và giá trị biểu đạt nghệ thuật.
- Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát trên văn bản của 17 truyện ngắn in trong cuốn Thạch Lam - Tuyển tập (Nhà xuất bản Văn học, 2012), bao gồm: Nắng trong vườn, Tình xưa, Cô hàng xén, Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc, Cuốn sách bỏ quên, Hai lần chết, Đứa con đầu lòng, Đói, Tối ba mươi, Gió lạnh đầu mùa, Nhà mẹ Lê, Một đời người, Một cơn giận, Người bạn cũ, Người lính cũ.
- Phạm vi không gian và thời gian: Luận văn được hoàn thành vào ngày 30 tháng 05 năm 2014 tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (Hậu Giang).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đề tài tổng thuật hệ thống quan niệm về tính từ của các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt:
- Quan niệm về khái niệm và đặc điểm ngữ pháp: Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Tập 1), Nguyễn Kim Thản (Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt), Hoàng Tuệ (Tuyển tập ngôn ngữ học), Hữu Đạt - Trần Trí Dõi - Đoàn Thanh Lan (Cơ sở tiếng Việt), Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán (Đại cương ngôn ngữ học, Tập 1), Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến (Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt), Mai Thị Kiều Phương (Ngôn ngữ học đại cương), Lê Biên (Từ loại tiếng Việt hiện đại), Bùi Đức Tịnh (Văn phạm Việt Nam), Nguyễn Văn Tu (Ngữ pháp tiếng Việt 1), Nguyễn Chí Hòa (Ngữ pháp tiếng Việt thực hành), Bùi Tất Tươm (Giáo trình tiếng Việt), Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp tiếng Việt), SGK Ngữ văn 6 (Tập 1).
- Về khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp: Luận văn tổng hợp nhận định của Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1), Diệp Quang Ban (Ngữ pháp Việt Nam) và Nguyễn Thiện Giáp (Dẫn luận ngôn ngữ học). Tính từ có khả năng kết hợp điển hình với phụ từ chỉ mức độ (rất, hơi, khá, lắm, cực kì...), làm trung tâm của ngữ tính từ, giữ chức năng chính là vị ngữ hoặc định ngữ cho danh từ, đồng thời có thể làm bổ ngữ, trạng ngữ và chủ ngữ.
Về khung phân loại lý thuyết: Để phục vụ việc khảo sát thực nghiệm, tác giả lựa chọn mô hình phân loại tính từ của Nguyễn Hữu Quỳnh trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt làm khung tham chiếu. Theo mô hình này, tính từ được chia thành ba nhóm lớn:
- Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật (chia thành bốn tiểu loại: màu sắc, hình thể, dung lượng, kích thước).
- Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật (bao gồm tính chất vật lý, phẩm chất, tâm lý tình cảm, đánh giá).
- Tính từ miêu tả (chỉ mức độ, trạng thái miêu tả mở rộng).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được áp dụng:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập, lập bảng số liệu định lượng về các tính từ xuất hiện trong 17 truyện ngắn, phân loại theo ba nhóm lớn và các tiểu loại cụ thể.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học và các ý kiến phê bình văn học về Thạch Lam (Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thế Uyên, Phong Lê, Nguyễn Hoành Khung, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ, Trần Ngọc Dung, Hồ Dzếnh, Bích Thu, Vũ Tuấn Anh).
- Phương pháp phân tích: Phân tích ngữ cảnh sử dụng, cấu trúc cú pháp và hiệu quả thẩm mỹ của các tính từ tiêu biểu trong văn bản.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu:
- Văn bản 17 truyện ngắn trong Thạch Lam - Tuyển tập (Nxb Văn học, 2012).
- Các giáo trình, chuyên khảo ngôn ngữ học và tuyển tập phê bình văn học liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về tính từ
Chương 1 tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận về từ loại tính từ trong tiếng Việt:
- Khái niệm và bản chất: Tính từ là từ loại thuộc lớp thực từ, biểu thị đặc trưng, tính chất, trạng thái của sự vật, hoạt động hoặc quá trình.
- Đặc điểm ngữ pháp:
- Khả năng kết hợp: Tính từ kết hợp phổ biến với các hư từ/phó từ chỉ mức độ (rất, hơi, khá, quá, lắm...); về cơ bản không kết hợp với các từ chỉ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ) hoặc từ kết thúc (rồi, xong), ngoại trừ một số trường hợp chuyển hóa ngữ cảnh. Tính từ có thể làm trung tâm của cụm tính từ (tính ngữ).
- Chức năng cú pháp: Đảm nhận chức năng vị ngữ trực tiếp trong câu (không cần hệ từ như trong một số ngôn ngữ châu Âu), làm định ngữ hạn định cho danh từ, làm bổ ngữ cho động từ, trạng từ cho câu và có thể làm chủ ngữ.
- Tổng quan các mô hình phân loại: Luận văn điểm luận mô hình phân loại của Nguyễn Thiện Giáp (dựa vào đòi hỏi bổ ngữ), Lê Biên (dựa vào tính chất tuyệt đối hay thang độ), Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (dựa vào thang độ xác định và không xác định), Bùi Tất Tươm, Đỗ Thị Kim Liên và Nguyễn Chí Hòa. Cuối cùng, tác giả giải trình việc chọn hệ thống phân loại ba nhóm của Nguyễn Hữu Quỳnh để làm căn cứ khảo sát ở Chương 2.
Chương 2: Khảo sát tính từ trong một số truyện ngắn của Thạch Lam
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát định lượng và phân tích định tính về tính từ trong 17 truyện ngắn:
- Khái quát tác giả và tác phẩm: Giới thiệu tiểu sử Thạch Lam (Nguyễn Tường Vinh/Nguyễn Tường Lân, 1910 - 1942), thành viên chủ chốt của Tự Lực văn đoàn, tác giả của ba tập truyện ngắn tiêu biểu: Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942) cùng các tác phẩm Ngày mới, Theo giòng, Hà Nội băm sáu phố phường.
- Kết quả thống kê định lượng: Tổng cộng ghi nhận 1833 lượt tính từ trong 17 tác phẩm (trung bình 107 tính từ/truyện). Truyện có số lượng tính từ nhiều nhất là Nắng trong vườn (344 từ), Tình xưa (204 từ), Cô hàng xén (178 từ); truyện có số lượng ít nhất là Người lính cũ (50 từ), Người bạn cũ (56 từ).
- Phân bố theo nhóm loại: Nhóm tính từ miêu tả chiếm tỷ lệ cao nhất với 856 từ (46.7%); nhóm tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái có 749 từ (40.7%); nhóm tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài có 228 từ (12.4%). Trong nhóm chỉ đặc điểm bên ngoài (228 từ), tính từ màu sắc chiếm 38.2% (87 từ), hình thể chiếm 32.2% (74 từ), kích thước chiếm 24.1% (55 từ), dung lượng chiếm 5.3% (12 từ).
- Hiện tượng lặp từ và chức năng cú pháp: Tác giả chỉ ra các tính từ có tần suất xuất hiện cao như "thong thả" (dùng để diễn tả nhịp điệu sinh hoạt, hành động nhân vật và biến chuyển ngoại cảnh trong Một đời người, Cuốn sách bỏ quên, Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc, Tình xưa), cặp từ "chen chúc, lụp xụp" (dùng để khắc họa không gian cư ngụ bần hàn trong Đói, Một cơn giận, Nhà mẹ Lê). Tính từ trong truyện ngắn Thạch Lam đảm nhận đầy đủ các chức vụ: định ngữ cho danh từ, bổ ngữ cho động từ, vị ngữ trong câu và bổ ngữ cho câu.
- Vai trò của tính từ trong miêu tả thiên nhiên, cảnh vật:
- Khắc họa không gian phố huyện, chợ huyện, xóm chợ tiêu điều, tàn tạ, chật hẹp qua các tính từ: nhỏ, nho nhỏ, tồi tàn, xiêu vẹo, trơ vơ, vắng không, lụp xụp, hẹp, dài.
- Tái hiện khí hậu mùa đông, mưa gió lạnh lẽo, âm u: ẩm ướt, rét mướt, rét buốt, tối tăm, lạnh, giá lạnh, mưa lấm tấm, buồn rầu, âm thầm.
- Khắc họa bóng tối bao trùm và không gian tịch mịch: bóng tối mênh mông, thăm thẳm, sẫm đen, ngõ tối, đất mấp mô.
- Diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên trong sáng, thanh nhẹ, giàu chất thơ: tươi non, trong, xanh, xanh ngắt, rực rỡ, gió nhẹ, mát, thoang thoảng, buổi chiều êm ả, êm ả như ru, màu sắc biến đổi đỏ rực, ánh hồng, vàng, tím lại, đen lại.
- Gợi tả âm thanh và ánh sáng mong manh: âm thanh văng vẳng, vo ve, khe khẽ, ánh sáng le lói, lập loè, yếu ớt, lờ mờ, thưa thớt, đoàn tàu khuất xa xa mãi, mùi vị riêng, quen thuộc của đất quê hương.
- Vai trò của tính từ trong miêu tả con người nghèo khổ:
- Khắc họa cảnh ngộ bần cùng, cơ cực: nghèo khổ, nghèo nàn, thấp hèn, đói kém, bẩn thỉu, gầy gò, rách rưới.
- Ngoại hình và cuộc đời tàn tạ của mẹ Lê (Nhà mẹ Lê): người thấp bé, da mặt và chân tay răn reo, như quả trám khô, cuộc sống chật vật, khó khăn.
- Phẩm chất chịu thương chịu khó và bi kịch của cô Tâm (Cô hàng xén): sự đối lập giữa ý thức bổn phận (lẽ chung) và hạnh phúc cá nhân (cuộc đời riêng); gánh hàng nặng, bước chân mau trên đường mấp mô, rắn, chuỗi ngày khó nhọc, cố sức, tương lai tối tăm, dày đặc, thô sơ.
Kết quả và đóng góp
Luận văn đã tổng hợp các kết quả thống kê cụ thể về số lượng và cơ cấu tính từ trong 17 truyện ngắn của Thạch Lam qua hai bảng số liệu:
Bảng 1: Phân loại tính từ trong một số truyện ngắn của Thạch Lam
| STT | Nhóm tính từ | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật | 228 | 12.4 |
| 2 | Tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật | 749 | 40.7 |
| 3 | Tính từ miêu tả | 856 | 46.9 |
| Tổng | 1833 | 100 |
Bảng 2: Phân loại tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài
| STT | Tiểu loại tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài | Số lượng | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Tính từ chỉ màu sắc | 87 | 38.2 |
| 2 | Tính từ chỉ hình thể | 74 | 32.2 |
| 3 | Tính từ chỉ kích thước | 55 | 24.1 |
| 4 | Tính từ chỉ dung lượng | 12 | 5.3 |
| Tổng | 228 | 100 |
Đóng góp của đề tài:
- Về mặt định lượng: Cung cấp hệ thống dữ liệu số lượng 1833 tính từ được phân loại chi tiết trên một tập hợp gồm 17 truyện ngắn tiêu biểu của Thạch Lam, làm rõ mật độ phân bố và tần số của từng nhóm từ loại.
- Về mặt thi pháp và phong cách học: Chứng minh bằng căn cứ ngôn ngữ học rằng đặc trưng "truyện không có cốt truyện", giàu chất thơ, trầm lắng và hướng nội của Thạch Lam được xây dựng trực tiếp từ việc sử dụng áp đảo nhóm tính từ miêu tả (46.9%) và tính từ chỉ trạng thái, cảm giác bên trong (40.7%), thay vì tập trung vào các tính từ chỉ kích thước, dung lượng thuần túy bên ngoài.
- Về mặt nghiên cứu tác giả: Bổ sung một góc nhìn chuyên sâu về từ loại học tiếng Việt đối với văn nghiệp Thạch Lam, vốn trước đó chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ phê bình văn học sử và chủ đề nội dung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi ngữ liệu mới dừng lại ở 17 truyện ngắn in trong một ấn bản tuyển tập (Thạch Lam - Tuyển tập, Nxb Văn học, 2012), chưa bao quát toàn bộ các sáng tác khác của tác giả như tiểu thuyết (Ngày mới), bút ký (Hà Nội băm sáu phố phường) hay tiểu luận phê bình (Theo giòng).
- Về thao tác thống kê, tác giả luận văn ghi nhận bước đầu tiến hành thu thập đầy đủ nhưng về sau chỉ tập trung ghi nhận các tính từ mới xuất hiện, hạn chế liệt kê các tính từ lặp lại, do đó số liệu chưa phản ánh tuyệt đối tần suất lặp của từng từ vị trên toàn bộ dung lượng văn bản.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát tính từ trên toàn bộ di sản văn xuôi của Thạch Lam để có bức tranh toàn diện về đặc trưng từ vựng của tác giả.
- Tiến hành nghiên cứu so sánh đối chiếu đặc điểm sử dụng tính từ của Thạch Lam với các nhà văn cùng thời trong Tự Lực văn đoàn (như Nhất Linh, Khái Hưng) hoặc các tác giả hiện thực xuất sắc cùng thời (như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan).
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo cụ thể cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam trong việc tiếp cận phương pháp khảo sát ngôn ngữ văn học bằng công cụ thống kê - phân loại từ loại.
- Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông khi phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong các tác phẩm của Thạch Lam thuộc chương trình giảng dạy (như truyện ngắn Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa).
- Người nghiên cứu thi pháp văn xuôi Tự Lực văn đoàn và tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Phần số liệu thống kê ở Chương 2 và các phân tích ngữ cảnh là nguồn dữ liệu thực chứng có thể trích dẫn trực tiếp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận văn khảo sát bao nhiêu truyện ngắn của Thạch Lam và trích xuất từ nguồn tài liệu nào?
Luận văn tiến hành khảo sát trên 17 truyện ngắn được in trong cuốn Thạch Lam - Tuyển tập, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2012. Danh mục tác phẩm gồm: Nắng trong vườn, Tình xưa, Cô hàng xén, Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc, Cuốn sách bỏ quên, Hai lần chết, Đứa con đầu lòng, Đói, Tối ba mươi, Gió lạnh đầu mùa, Nhà mẹ Lê, Một đời người, Một cơn giận, Người bạn cũ, Người lính cũ.
2. Tổng số tính từ thu thập được là bao nhiêu và nhóm tính từ nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Tổng số tính từ thu thập được trong 17 truyện ngắn là 1833 từ. Trong đó, nhóm tính từ miêu tả chiếm tỷ lệ cao nhất với 856 từ (46.9%), tiếp theo là nhóm tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái sự vật với 749 từ (40.7%), thấp nhất là nhóm tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài với 228 từ (12.4%).
3. Tác giả luận văn đã lựa chọn mô hình phân loại tính từ của nhà nghiên cứu nào làm cơ sở thực nghiệm?
Tác giả áp dụng mô hình phân loại tính từ của Nguyễn Hữu Quỳnh trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt, phân chia tính từ thành ba nhóm chính: tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài, tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật, và tính từ miêu tả.
4. Trong nhóm tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài, tiểu loại nào chiếm số lượng lớn nhất và nhỏ nhất?
Trong tổng số 228 tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài, tiểu loại tính từ chỉ màu sắc chiếm số lượng lớn nhất với 87 từ (38.2%), tiếp đến là hình thể với 74 từ (32.2%), kích thước với 55 từ (24.1%), và nhỏ nhất là dung lượng với 12 từ (5.3%).
5. Từ "thong thả" và cặp từ "chen chúc, lụp xụp" xuất hiện trong những tác phẩm nào và mang giá trị nghệ thuật gì?
Từ "thong thả" xuất hiện lặp lại trong các truyện Một đời người, Cuốn sách bỏ quên, Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc, Tình xưa, mang lại cảm giác bình yên, nhịp điệu chậm rãi của hành động và tâm lý nhân vật. Cặp từ "chen chúc, lụp xụp" xuất hiện trong Đói, Một cơn giận, Nhà mẹ Lê, có tác dụng nhấn mạnh không gian sống chật hẹp, tồi tàn, ngột ngạt của những kiếp người nghèo khổ dưới đáy xã hội.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hùng đã khảo sát một cách có hệ thống 1833 tính từ trong 17 truyện ngắn tiêu biểu của Thạch Lam trên cơ sở khung lý thuyết ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Hữu Quỳnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự vượt trội của nhóm tính từ miêu tả (46.9%) và tính từ chỉ trạng thái bên trong (40.7%), phản ánh bản chất phong cách văn xuôi trữ tình hướng nội và tấm lòng nhân đạo của nhà văn. Công trình cung cấp một tập tư liệu thực chứng chuẩn xác, góp phần làm sáng tỏ thi pháp ngôn từ của Thạch Lam và đóng vai trò tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học trong nhà trường.