CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái quát tu từ và phép tu từ so sánh 1. Khái niệm phép tu từ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Trong cuộc sống nói chung và trong văn học nói riêng, khi sử dụng ngôn ngữ ngoài những biện pháp ngôn ngữ thông thường, người nói (viết) còn có những biện pháp sử dụng ngôn ngữ một cách đặc biệt, gọi là những biện pháp (phép) tu từ.
Chính vì thế, biện pháp tu từ đã trở thành đề tài nghiên cứu của các học giả ở Việt Nam trong lĩnh vực ngôn ngữ và phong cách học. Quá trình nghiên cứu các học giả, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định khái niệm biện pháp tu từ, cụ thể: Tác giả Đinh Trọng Lạc cho rằng biện pháp tu từ là cách gọi chung, nhưng khi đi miêu tả cụ thể ở mỗi cấp độ thì lại dùng những thuật ngữ khác nhau như: phương thức, biện pháp [19, tr. Tác giả Cù Đình Tú thì cho rằng biện pháp tu từ là “những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong khi trình bày” [31, tr. Quan niệm sau đây được sự đồng tình của của các nhà phong cách học và cũng được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận và sử dụng.
Quan niệm đó phát biểu như sau: “Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ và được hình thành từ bốn yếu tố: biểu cảm (chứa đựng yếu tố hình tượng), cảm xúc (chứa đựng những yếu tố diễn đạt tình cảm, cảm xúc), bình giá (chứa đựng những yếu tố khen chê) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm vi sử dụng thường xuyên, cố định)". 9 Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cũng đưa quan niệm về biện pháp tu từ (còn được gọi là phương thức/phép tu từ) làm cơ sở nghiên cứu cho cho luận văn, quan niệm đó như sau: Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không có màu sắc tu từ, trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh). Khái niệm trên cho thấy, biện pháp tu từ là cách mà người sử dụng kết hợp ngôn ngữ một cách đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm biểu đạt mục đích nhất định. Đây cũng là khái niệm cơ bản để luận văn xác định phép tu từ so sánh xuất hiện trong các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao.2 Khái niệm phép tu từ so sánh 1.1 Khái niệm so sánh Trước khi đi vào khái niệm phép tu từ so sánh, chúng ta hãy điểm qua khái niệm so sánh nói chung.
So sánh là một thao tác của tư duy. Nó được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong thơ ca nghệ thuật. So sánh là thao tác đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác để thấy được nét tương đồng và khác biệt giữa chúng. Cùng bàn về khái niệm so sánh nói chung, đến nay, có một số định nghĩa tiêu biểu: Trong Từ điển tiếng Việt (2003), của Viện Ngôn ngữ học so sánh được hiểu là: “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [33, tr.
Trong Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh của Viện ngôn ngữ học Viêt Nam (2010) cũng khẳng định: "So sánh là xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt về mặt số lượng, kích thước, 10 phẩm chất" [34, tr. Như vậy, cả hai định nghĩa trên đều thống nhất rằng: so sánh là cách đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau để tìm ra điểm tương đồng hoặc khác biệt giữa chúng. Khái niệm so sánh tu từ Phép so sánh, hay biện pháp so sánh là một phương thức phổ biến ở mọi ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Vì thế trong lĩnh vực ngôn ngữ học và phong cách học các học giả trong nước cũng đã đưa ra những khái niệm so sánh tu từ khác nhau, cụ thể: Tác giả Đinh Trọng Lạc (cùng với tác giả Nguyễn Thái Hòa) ở Giáo trình Phong cách học tiếng Việt đã đưa ra định nghĩa như sau: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe" [18, tr.190] Với quan điểm này thì trong phép so sánh nhất định phải có hai sự vật, và giữa hai sự vật đó phải có nét tương đồng, và chính sự tương đồng đó phải gợi nên hình ảnh và cản xúc cho người đọc (nghe).
Cùng quan điểm trên, tác giả Hữu Đạt cũng đã định nghĩa: “So sánh tu từ là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng ” [10, tr. Với các quan niệm đưa ra, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng về bản chất phép so sánh tu từ là dùng thuộc tính của sự vật, hiện tượng này để giải thích cho thuộc tính của sự vật, hiện tượng khác (tuy nhiên thuộc tính của các sự vật hiện tượng phải có nét tương đồng). Và đây cũng là cơ sở lý luận để luận văn đối chiếu, tiến hành khảo sát và thống kê các phép tu từ so sánh có trong truyện ngắn của nhà văn Nam 11 Cao. Cấu trúc phép tu từ so sánh 1.
Một số quan niệm về cấu trúc so sánh và các kiểu so sánh a. Quan điểm của Nguyễn Thế Lịch - Tác giả Nguyễn Thế Lịch [22] cho rằng một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh luôn gồm 4 yếu tố: +Yếu tố cần so sánh, tức là được (bị) so sánh (YTĐSS). Kí hiệu (A) +Yếu tố nêu rõ phương diện so sánh (YTPD), biểu thị thuộc tính của sự vật. + Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH).
+ Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS).1 Mô hình cấu trúc so sánh hoàn chình của tác giả Nguyễn Thế Lịch YTĐSS YTPD YTQH YTSS A x tss B Mặt tươi như hoa. - Các yếu tố trong phép so sánh có đặc điểm như sau: + Yếu tố được so sánh: Trong phép so sánh thì bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có thể được đem ra so sánh. * Được so sánh là người, sự vật, ví dụ: Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. (Ca dao) * Được so sánh là hành động, ví dụ: Thấy anh như thấy mặt trời Chói chang khó ngó, trao lời khó trao.
(Ca dao) * Được so sánh là thuộc tính, ví dụ: 12 Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. (Nguyễn Du) + Yếu tố phương diện so sánh: thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem như tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị. Như chúng ta đã biết, sự vật hiện tượng có nhiều thuộc tính, nhưng không phải thuộc tính nào cũng đưa vào phép so sánh, chỉ có những thuộc tính tiêu biểu (hoặc yếu tố mà tác giả muốn nhấn mạnh) mới được đưa vào phép so sánh. Thông thường cấu trúc phép so sánh hoàn chỉnh đủ 4 yếu tố như đã đề cập ở trên.
Tuy nhiên, phải phép so sánh nào cũng có cấu trúc đầy đủ. Có những phép so sánh vắng yếu tố phương diện so sánh thì buộc người tiếp nhận phải có khả năng liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa yếu tố được so sánh và yếu tố so sánh, từ đó mới xác định được là đã thực hiện sự so sánh về phương diện nào. + Yếu tố quan hệ: thường là nhằm thể hiện sự ngang bằng (như nhau) hay hơn kém của các yếu tố được so sánh và yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (đây được coi là yếu tố đơn giản nhất trong cấu trúc so sánh). Yếu tố quan hệ được thể hiện qua các từ so sánh: như, tựa như, là, như là, như thể, hồ như, cặp từ hô ứng bao nhiêu.
Ví dụ: * Từ so sánh là, như: Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em sắc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen. (Ca dao) Tình tôi là giọt thủy ngân, Dù nghiền chẳng nát, dù lăn vẫn tròn. 13 (Ca dao) * Cặp từ hô ứng bao nhiêu - bấy nhiêu: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu! (Ca dao) + Yếu tố so sánh: là yếu tố được dùng chuẩn để so sánh. Đây là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất và không thể thiếu của cấu trúc so sánh, vì không có chuẩn thì không thành so sánh.
Theo Nguyễn Thế Lịch, yếu tố này có thể gồm một số cấu trúc sau đây: * Nêu lên tên gọi được dùng làm chuẩn. Ví dụ: mặt chữ điền, lông mày lá liễu, ngón tay búp măng,. * Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật được dùng làm chuẩn. Ví dụ: Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tam hương.
(Ca dao) * Thể hiện nhiều sự vật khác nhau. Ví dụ: Đôi ta như lửa mới nhen, Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu. (Ca dao) Việc sử dụng yếu tố so sánh thường phụ thuộc vào quá trình quan sát, liên tưởng của người nói, người viết. - Tác giả Nguyễn Thế Lịch bên cạnh việc khẳng định: cấu trúc so sánh hoàn chỉnh bao gồm cả 4 yếu tố (yếu tố được so sánh, yếu tố phương diện so sánh, yếu tố thể hiện quan hệ so sánh và yếu tố dùng làm chuẩn để so sánh) thì tác giả cũng chỉ rõ: có những cấu trúc so sánh không hoàn chỉnh, nghĩa là không hội tụ đủ cả 4 yếu tố (nói cách khác là có thể khuyết đi một, vài yếu tố).
Cụ thể như sau: 14 + Vắng yếu tố phương diện, ví dụ: Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp mật, như đường mía lau. (Ca dao) + Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ, ví dụ: Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt. (Xuân Diệu) + Vắng yếu tố được so sánh, ví dụ: Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi.