phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Đặc điểm ngữ pháp của tính từ trong truyện ngắn Nam Cao trƣớc Cách mạng. Đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị nghệ thuật của tính từ trong truyện ngắn Nam Cao trƣớc Cách mạng.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Khái quát về tính từ 1. Khái niệm về tính từ Tính từ thuộc từ loại cơ bản của thực từ. Hiện cũng có khá nhiều định nghĩa về khái niệm này.
Dƣới những góc nhìn khác nhau và bằng những cách diễn đạt khác nhau, một số nhà ngôn ngữ đã đƣa ra những định nghĩa khác nhau về tính từ. Theo tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung [1, tr.115] quan niệm: “Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trƣng (đặc trƣng của thực thể hay đặc trƣng của quá trình) là tính từ”. Ý nghĩa đặc trƣng đƣợc biểu hiện trong tính từ thƣờng có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ). Tác giả Đinh Văn Đức [9, tr.182] lại cho rằng: Tính từ là từ loại chỉ ra đặc trưng của tất cả những gì được biểu đạt bằng danh từ, động từ.
Bên cạnh Diệp Quang Ban và Đinh Văn Đức, tác giả Bùi Minh Toán [28, tr.46] đƣa ra quan niệm sau: “Tính từ là từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, hoạt động, trạng thái”. Theo quan niệm này, tính từ gần gũi với động từ, có khả năng kết hợp với các phụ từ. Công trình của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ ,Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [7, tr.272] cho rằng: “tính từ có ý nghĩa chỉ tính chất”. Còn tác giả Nguyễn Minh Thuyết [34, tr.154] (chủ biên) định nghĩa: “Tính từ là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hành động, trạng thái.
Đặc điểm biểu hiện trong tính từ có hai loại: chỉ đặc điểm tƣơng đối (khi kết hợp với các từ chỉ mức độ) và chỉ đặc điểm tuyệt đối (không kết hợp với các từ chỉ mức độ). Tóm lại, cho dù đƣợc diễn đạt khác nhau nhƣng chúng ta vẫn tìm đƣợc một cách hiểu khá thống nhất về khái niệm tính từ: “Tính từ là từ dùng để chỉ màu sắc, tính chất, đặc trưng của sự vật, hoạt động, trạng thái”. Xuất hiện ở trong câu tính từ sẽ đảm nhận một chức năng nhất định, và có khả năng kết hợp với những từ khác về phía trƣớc và phía sau. 9 Ví dụ: Truyện Chí Phèo: “Lúc ấy trong người hắn rượu đã hơi nhạt rồi, không còn kêu gào và chửi bới…”[36, tr.26] … “Nó đi qua như một thằng quái ác chán không muốn hành hạ một kẻ kiên nhẫn quá”.62] Rõ ràng, nghĩa đặc trƣng, tính chất của tính từ không phải là cái gì trừu tƣợng, tách khỏi sự vật hoạt động, mà phải thấy nó nhƣ là dấu hiệu của thuộc tính có sẵn, có quan hệ gắn bó với sự vật hoạt động và tiềm ẩn cách nhận thức đánh giá của mỗi ngƣời với sự vật, hoạt động đó.
Đặc điểm ngữ phápcủa tính từ Tính từ là một từ loại cơ bản, nó có vị trí quan trọng sau danh từ và động từ và có vai trò quan trọng trong vốn từ tiếng Việt. ý nghĩa ngữ pháp -Tính từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, hoạt động trạng thái. Ví dụ: đẹp, xấu, lớn, nhỏ, xa, gần, vắng, đông… - Gần gũi với động từ, tính từ có khả năng kết hợp với các phụ từ. Phần lớn các tính từ dễ dàng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ (rất, hơi, khá, lắm.) và rất ít kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh “hãy”, “đừng”, “chớ’ (đối lập với động từ).
Nói cách khác, tính từ có thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của một cụm từ chính phụ mà các thành tố là phụ từ, tiêu biểu là phụ từ chỉ mức độ. Ví dụ: rất (hơi, khá…) / sẽ (đã, đang…) + cao (đẹp, tốt…) không (chưa, chẳng…) / vẫn (đều, còn…) - Tuy nhiên, một số tính từ, trong những hoàn cảnh nhất định, vẫn có thể kết hợp với phụ từ chỉ mệnh lệnh. Ví dụ: Truyện Mua nhà: “Anh đừng giận, anh Kim ạ” [36, tr. Hoặc “Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh nhƣ lá bạc nhƣ vôi” (Hồ Xuân Hƣơng ) - Tính từ cũng có thể kết hợp với thực từ đi kèm (để bổ nghĩa cho tính từ) 10 1.
Chức vụ cú pháp Chức năng ngữ pháp chính của một từ loại là chức năng mà từ loại đó có ƣu thế về khả năng đảm nhiệm hơn các từ loại khác. Vấn đề chức năng ngữ pháp của tính từ tiếng Việt đã đƣợc các nhà ngôn ngữ học quan niệm nhƣ sau. Xét theo Nguyễn Tài Cẩn [4, tr.240] thì làm định tố cho danh từ chính là chức năng chính của tính từ. Nhƣ vậy, với tác giả thì tính từ tiếng Việt không phải chí có một chức năng ngữ pháp.
Đinh Văn Đức [9, tr.165] đã cụ thể hóa điều này: “vị ngữ và định ngữ là hai chức vụ nổi bật lên trong chùm chức năng của tính từ”. Theo Nguyễn Minh Thuyết [34, tr.154] quan niệm “Tính từ có thể làm vị ngữ, chủ ngữ trong câu. Tuy vậy khả năng làm vị ngữ của tính từ hạn chế hơn động từ”. Gần đây nhất là ý kiến của Th.S Nguyễn Thị Nhung (2007) trong Tạp chí ngôn ngữ số 4 trang 61, bàn về “Chức năng ngữ pháp chính của tính từ tiếng Việt” đã đƣa ra kết luận: “chức năng ngữ pháp chính của tính từ tiếng Việt là chức năng làm thành tố phụ trong cụm chính phụ và nổi bật là chức năng làm định tố trong cụm danh từ”.
Từ các quan niệm trên, cũng nhƣ danh từ và động từ, tính từ cũng giữ các chức năng cú pháp trong câu (làm thành phần chính và thành phần phụ). Ở luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu sơ lƣợc chức năng của tính từ làm vị ngữ và vai trò làm thành tố chính trong cụm chính phụ. - Làm thành phần chính + Chức năng làm chủ ngữ của tính từ: tính từ cũng giữ chức vụ chủ ngữ trong câu, dù khá hạn chế. Ví dụ: Hiếu thảo là đức tính tốt của những ngƣời con.
+ Chức năng làm vị ngữ của tính từ Giống nhƣ động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp. Theo Đinh Văn Đức [9, tr.132]: “có tới 99% câu đơn tiếng Việt có vị ngữ do động từ và tính từ đảm nhiệm”. Diệp Quang Ban cho rằng [1] “làm vị ngữ trong câu được coi là chức năng chính của tính từ, nhưng tính từ được dùng kèm với danh và động từ để 11 bổ nghĩa cho danh và động từ” Ví dụ: “… Mụ có ngờ đâu trong lúc ấy thì tình nhân ngồi nghĩ ngợi xa gần. Y nghĩ đến cái nhục sáng hôm sau”.
Hay truyện Xu-vơ-nia: “…Tình cờ thế nào, Tơ là một cô gái xinh xinh. Thị có đôi mắt bồ câu, cái miệng rất tươi, và đôi má hây hây…”[36, tr.256] Tuy vậy khả năng làm vị ngữ của tính từ hạn chế hơn động từ. Đây chính là sự khác biệt của tính từ tiếng Việt so với tính từ của các ngôn ngữ thuộc loại hình khác. Ngoài ra trong câu, tính từ có thể đảm nhiệm chức năng cú pháp của nhiều thành phần khác.
- Làm thành phần phụ + Chức năng làm định ngữ của tính từ Tính từ làm định ngữ là những tính từ đi kèm với danh từ và thƣờng đứng trƣớc danh từ, bổ nghĩa cho danh từ đứng sau nó nhằm làm nổi bật hoặc nêu rõ đặc điểm, tính chất…cho danh từ đƣợc bổ nghĩa. Theo ý kiến của một số nhà Việt ngữ học đi trƣớc đã đƣa ra nhận định: “về khả năng kết hợp, hầu như tính từ nào cũng có khả năng làm định ngữ cho danh từ; tính từ có ưu thế trong việc tham gia vào cấu trúc chính phụ hơn việc tham gia vào cấu trúc chủ vị”. Với chức năng làm định ngữ thì tính từ có một đặc điểm nổi bật trong chức vụ cú pháp là vừa làm định ngữ cho danh từ (khái niệm đƣợc diễn đạt bằng thực từ), vừa làm định ngữ cho động từ (khái niệm thuộc phạm trù vận động). Cho nên chức năng làm định ngữ là chức năng phổ biến và thƣờng trực của tính từ.
Ví dụ: “Ngƣời con gái đứng sau lƣng tôi giống Nga nhƣ đúc cũng đôi mắt trong trẻo ngây thơ, cũng cái miệng nhỏ, xinh xinh với làn môi hơi mỏng và nếu không có nƣớc da hơi rám nắng, bàn tay hơi lớn và thô, với dáng ngƣời nặng nề vì quen khó nhọc thì tôi đã tƣởng đó chính là Nga…”[36, tr. + Chức năng làm bổ ngữ: Ví dụ: Anh nói nhanh nhƣ gió + Chức năng làm trạng ngữ: Khi tính từ đảm nhiệm chức năng trạng 12 ngữ, thƣờng chỉ thời gian. Ví dụ: Truyện Mua danh: “Ít lâu nay tôm tép hiếm”[36, tr. Hoặc truyện Làm tổ: “Rồi ít lâu sau, đêm nào cũng vậy, người ta thấy thằng ở nhóc con nhà ông ta nằm trong lều hát toáng lên”[36, tr.
Khả năng kết hợp Mỗi từ loại có những khả năng kết hợp khác nhau. Khả năng kết hợp không tách rời ý nghĩa ngữ pháp của nó. Việc phân bố các từ đƣợc xem xét ở góc độ khả năng kết hợp với yếu tố đứng trƣớc hay đứng sau. Diệp Quang Ban [1, tr.100 - 101] cho rằng: Tính từ là thực từ, cho nên tính từ có khả năng kết hợp với các từ xung quanh để tạo thành cụm tính từ.
Các thành tố phụ của cụm tính từ gồm hai loại: thành tố phụ là phụ từ và thành tố phụ là thực từ. Phần lớn những thành tố phụ ở cụm động từ đồng thời làm thành tố phụ ở cụm tính từ. Cụ thể: đã, đang, sẽ, vừa, mới…với tƣ cách là thành tố phụ trƣớc hoặc phụ sau. Xét tính từ ở vị trí trung tâm của cụm từ trong quan hệ với hai loại thành tố phụ là hƣ từ và thực từ, có thể phân biệt hai trƣờng hợp sau Trƣờng hợp 1: xét khả năng kết hợp với những phụ từ chỉ mức độ nhƣ rất, lắm, quá, cực kì…Ở đây phân biệt đƣợc hai lớp con tính từ: - Những tính từ có thể kết hợp với những phụ từ chỉ mức độ (rất, hơi, khí, lắm) nhƣ: tốt, đẹp, xấu, trúng, to, nhỏ, đỏ, xanh…những tính từ loại này gọi là tính từ có thang độ (hay tính từ tương đối).
Những từ làm thành tố phụ nhƣ (rất, hơi, quá,…) đều có thể đứng trƣớc và sau tính từ. Khi chuyển lên trƣớc tính từ thƣờng có tác dụng nhấn mạnh. Ví dụ: Truyện tình: “Anh có vẻ hơi bối rối…Mặt Lƣu có vẻ hơi đỏ lên một chút”.