đặt vấn đề “Nói một điều gì đó là để thực hiện một hành động gì đó nghĩa là thế nào?” Trong giao tiếp, con ngƣời rất nhiều hành động, trong đó có thể kể tiêu biểu các hành động sau: hỏi, trả lời, khuyên bảo, yêu cầu, ra lệnh, khẳng định, cam kết,. Và để thể hiện các hành động đó trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì con ngƣời cần tạo ra cái gọi là hành động tại lời. Gọi là tại lời bởi vì nó nằm trong hành động tạo lời. Đỗ Hữu Châu gọi đây là “hành động ở lời (ngôn trung)”, đồng thời xác định: “Ngữ dụng học quan tâm chủ yếu đến các hành động ở lời” [9,tr.
Ví dụ: Khi ngƣời nói (Sp1) nói: “Anh hứa với em mai anh sẽ đƣa em đi xem phim” nghĩa là Sp1 thực hiện hành động tại lời “hứa hẹn” và ngƣời nghe (Sp2) khi tiếp nhận hành động đó sẽ đáp lại bằng lời ví dụ nhƣ: “Vâng! Em chờ anh.” Ví dụ: Ta có các phát ngôn sau: (1) Bạn nên lưu tệp lên drive. (thể hiện hành động khuyên) (2) Bạn có lưu tệp lên drive chưa? (thể hiện hành động hỏi) (3) Bạn phải hoàn tất lưu tệp lên drive trong hôm nay. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con ngƣời chứa đựng nhiều hành động tại lời khác nhau. Thƣờng gặp là những hành động: hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên nhủ, răn đe, dọa nạt, phán xét, phê bình, kết tội, bác bỏ, xin lỗi, cảm ơn, thông báo, chúc tụng, ca ngợi, hứa hẹn.
Hành động mượn lời Hành động mƣợn lời là hành động thông qua phƣơng tiện ngôn ngữ, chính xác hơn là thông qua các phát ngôn để gây ra một hiệu quả (tâm lí, nhận thức, vật lí) ngoài ngôn ngữ tác động đến ngƣời nghe, ngƣời nhận hoặc tác động đến chính bản thân ngƣời nói. 14 Đỗ Hữu Châu định nghĩa: "Hành vi mượn lời là hành động nhằm gây ra những kết quả hay những hiệu quả ngoài lời, những hiệu quả tâm lý hay vật lý ở những người tiếp nhận ngôn bản bằng chính những ngôn bản, những lời được nói ra" [9, tr. Những điểm khác biệt cơ bản của hành động tại lời so với hành động mƣợn lời: - Thứ nhất, hành động tại lời thực hiện có ý định và bị chi phối bởi những quy ƣớc, thể chế xã hội. - Thứ hai, hành động tại lời làm thay đổi tƣ cách pháp nhân của ngƣời đối thoại, và đặt ngƣời nói với ngƣời nghe vào những nghĩa vụ, quyền lợi mới so với tình trạng của họ nhƣ thế nào.
- Thứ ba, hiệu quả của hành động tại lời có đích đến tập trung, xác định đƣợc. Cho nên, hiệu lực tại lời chính là đối tƣợng nghiên cứu của ngữ dụng học. Nói chung, trong ba hành động ngôn từ trên đây, hành động tại lời là quan trọng nhất, vì thế nói đến hành động ngôn từ chính là nói đến hành động tại lời. Theo đó, công trình của chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu hành động ngôn từ ở khía cạnh hành động tại lời.
Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ Trong hoạt động giao tiếp giữa ngƣời với ngƣời, để đạt đƣợc mục đích truyền đạt thông tin và thực hiện các hành động ngôn từ, cả ngƣời nói và ngƣời nghe đều cần quan tâm đến các điều kiện sử dụng của hành động ngôn từ. Đối với hành động ngôn từ tạo lời, điều kiện sử dụng sẽ liên quan đến ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của một ngôn ngữ cấu tạo nên lời nói và đƣợc hiểu theo với ngƣời nghe. Đồng thời, cả Sp1 và Sp2 đều phải có khả 15 năng tiếp nhận và tạo thông tin, không bị những hạn chế về sinh lý trong giao tiếp bằng ngôn ngữ (câm, điếc) hoặc không hiểu các mã ngôn ngữ mà cộng đồng tại nơi đó quy định. Chẳng hạn, nếu Sp1 đi đến một quốc gia khác để công tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm thì Sp1 buộc phải hiểu rõ ràng và biết cách sử dụng đƣợc những chất liệu ngôn ngữ, các cách thức kết hợp đặc trƣng của ngôn ngữ đất nƣớc đó.
Theo công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Châu, các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng vì vậy mà mỗi loại hành động tại lời có những điều kiện sử dụng riêng mà Austin gọi là những điều kiện thuận lợi, Searle chia ra làm ba loại cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất là điều kiện ban đầu: điều kiện này có liên quan đến quan hệ hai ngƣời, ngƣời nói và ngƣời nghe, tới những ý nguyện, lợi ích và khả năng của ngƣời nghe. Chẳng hạn, muốn ra lện cho ai đó thì ngƣời ra lệnh phải có thẩm quyền, hoặc ngƣời ta không thể ra lệnh cho một ngƣời mù đọc một trang sách. Thứ hai là điều kiện chân thành, còn gọi là điều kiện hiện thực. Tập trung chủ yếu nói đến trạng thái tâm lý của hành động mà ngƣời nói thực hiện.
Yếu tố chân thành ở đây liên quan tới trạng thái tâm lý đặc trƣng, khác với điều kiện chân thực về mặt logic tức tính đúng sai của mệnh đề đƣợc nói ra: thông báo một điều gì đó cho ngƣời khác là phải tâm niệm rằng thông tin đó là sự thật; ra lệnh không chỉ là ép buộc mà phải thực sự mong muốn ngƣời nhận lệnh chấp hành; hỏi để tìm hiểu những thông tin mình chƣa biết và thật sự muốn đƣợc biết về thông tin đó. Thứ ba là điều kiện căn bản, bao gồm các điều kiện về trách nhiệm, sự ràng buộc với ngƣời nói hoặc ngƣời nghe khi hành động đã đƣợc thực hiện. Đối với hành động ra lệnh, trách nhiệm thuộc về ngƣời nhận lệnh. Đối với hành động mời mọc, điều kiện thiết yếu là ngƣời nghe sẵn sàng chấp nhận lời mời mọc.Đối với hành động khuyên răn, điều kiện thiết yếu là ngƣời nghe 16 nhận thấy rõ giá trị của những lời khuyên răn và thực hiện ,nghe theo một cách chủ động và tự giác.
Bên cạnh các điều kiện đƣợc Sealer khái quát, khi thực hiện các hành động ngôn từ, ngƣời nói và ngƣời nghe cần lƣu ý các yếu tố ngữ cảnh ngay trong cuộc giao tiếp, bao gồm yếu tố về môi trƣờng, văn hóa và đặc trƣng cộng đồng nơi câu nói đƣợc thực hiện. Đối với các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, hành động ngôn từ thƣờng bao hàm hai tầng ý nghĩa. Ý nghĩa đầu tiên: ngƣời đọc, ngƣời nghe tiếp nhận đƣợc trực tiếp thông qua từ vựng, ngữ âm, câu, văn bản… Đây là ý ở trong lời hay còn gọi là ý tƣờng minh của phát ngôn. Tầng ý nghĩa ẩn sâu sau các yếu tố ngôn ngữ đòi hỏi ngƣời nghe phải suy ý và dựa vào những yếu tố ngoài ngôn ngữ để thấu hiểu.
Đây là ý ở ngoài lời hay còn lại ý nghĩa hàm ẩn. Phân loại hành động ngôn từ Nhƣ đã nhận định về 3 loại hành động ngôn ngữ trong một phát ngôn tại mục 1.4, chúng tôi phân loại hành động ngôn từ trong luận văn này trên cơ sở phân loại các hành động tại lời. Có thể có nhiều cách phân loại hành động tại lời khác nhau, ở đây chúng tôi dựa trên cách phân loại mà Đỗ Hữu Châu đã xác lập trên cơ sở phân loại của Austin và Searle.21], theo đó các hành động ngôn từ đƣợc chia thành 05 nhóm lớn sau đây: - Cam kết: là hành động ở lời ràng buộc vai nói vào trách nhiệm thực hiện một hành động nào đó trong tƣơng lai, có thể kể đến các hành động nhƣ hứa, bảo đảm, đe dọa, cảnh cáo. - Tuyên bố: là hành động ở lời mà khi nói ra thì thay đổi trạng thái của sự việc trong thực tế khách quan nhƣ buộc tội, tuyên án, tuyên ngôn, đặt tên, xử thắng cuộc, xử thua cuộc,.
- Biểu cảm: là hành động ở lời nhờ đó mà vai nói trực tiếp bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình với ngƣời, sự vật, sự việc nào đó. Những hành động xin lỗi, cảm ơn, tặng, kêu ca, phàn nàn, trách cứ,. và những lời cảm thán đều thuộc nhóm này. 17 - Điều khiển: là hành động ở lời hƣớng vai nghe thực hiện một hành động nào đó, nhƣ: ra lệnh, mời, xin, chỉ huy, đặt hàng, gợi ý,.
- Xác tín: là hành động ở lời miêu tả, thuật lại một trạng thái, sự kiện nào đó trong thực tế. Đó là các hành động nhƣ trần thuật, kể, miêu tả, khẳng định. Phát ngôn ngôn hành Đỗ Hữu Châu khi nghiên cứu về phát ngôn ngôn hành đã công nhận sự tồn tại của hai loại câu ngôn hành là câu ngôn hành tƣờng minh và câu ngôn hành hàm ẩn theo tƣ tƣởng sau này của J. Mỗi lời nói của chúng ta nói ra ứng với một đơn vị câu, dùng trong một ngữ cảnh nhất định đƣợc gọi là một phát ngôn.
Chuỗi liên tục các phát ngôn của một ngƣời hay giữa nhiều ngƣời đƣợc gọi là diễn ngôn. Đỗ Hữu Châu chỉ ra rằng: Ngôn hành tƣờng mình là câu chứa biểu thức vị ngữ trong đó có lõi là động từ ngữ vi. Theo ông thì động từ ngữ vi có động tử thực hiện chức năng ngữ vi trong phát ngôn. Xét theo khả năng có thể hay không thì đƣợc dùng với chức năng ngữ vi trong biểu thức ngữ vi.
Từ đó, Ông chia các động từ lời nói trong tiếng Việt ra làm 3 loại: Thứ nhất là động từ miêu tả hành động ở lời nói: khoe khoang, chế giễu, đùa cợt… Thứ hai là đọng từ ngữ vị thƣờng dùng trong chức năng ngữ vị: đa tạ và cảm ơn. Thứ ba là động từ vừa dùng trong ngữ vị và chức năng miêu tả: hứa, hỏi… 1. Phát ngôn miêu tả Phát ngôn miêu tả (Đỗ Hữu Châu gọi là phát ngôn khảo nghiệm): là phát ngôn về mặt ý nghĩa, đƣợc đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai. Ví dụ: (1) Chú Tƣ biết hút thuốc lá.
(2) Lan vừa ốm dậy. 18 Những phát ngôn trên đƣợc đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai tƣơng ứng với hiện thực khách quan. Phát ngôn ngữ vi Là những phát ngôn về hình thức giống phát ngôn miêu tả nhƣng về nội dung không thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai lô gíc. Ví dụ: (1) Không đƣợc bƣớc tới.
(2) Anh hứa sẽ mua quà cho con. (3) Vui lòng cho hỏi bây giờ là mấy giờ rồi? (4) Mời cô ghé thăm quán em. (5) Chị nên tập yoga để giữ dáng. Các phát ngôn trên không phải để miêu tả hay khẳng định một hiện thực khách quan mà để cấm đoán (1), hứa hẹn (2), hỏi (3), mời (4), khuyên bảo (5).
Các hành động này đƣợc thực hiện bằng chính lời nói, ngay trong lời nói. Ngƣời ta gọi các phát ngôn này là phát ngôn ngữ vi.