Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình Chương 2. Cơ sở lý luận về định hướng giá trị gia đình Chương 3. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam sống tại Việt Nam và Ba Lan Chương 4.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn định hướng giá trị gia đình của người Việt Nam sống tại Việt Nam và Ba Lan 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH VÀ ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH 1. Nghiên cứu ở nƣớc ngoài về giá trị gia đình và định hƣớng giá trị gia đình 1. Các nghiên cứu về giá trị gia đình a. Hƣớng nghiên cứu về quá trình thích nghi và tiếp biến văn hóa Trong quá trình sinh sống và làm việc tại nước ngoài, người nhập cư nói chung và người Việt Nam nhập cư nói riêng luôn diễn ra quá trình thích nghi và tiếp biến văn hóa.
Nguyên nhân khiến trẻ em nhập cư rơi vào trạng thái stress là do các em gặp khó khăn trong việc cân bằng hai nền văn hóa khác nhau [84]. Ví dụ, trong gia đình nhập cư, trẻ ít chú ý đến các giá trị văn hóa truyền thống, trong khi bố mẹ lại luôn chú trọng và việc giữ gìn và hướng con cái đến các giá trị này [95]. Sự khác biệt này gây ra tình trạng căng thẳng ở người Việt Nam nhập cư [88]. Như vậy, quá trình thích nghi và tiếp biến luôn đòi hỏi người nhập cư phải linh hoạt và điều chỉnh các giá trị sống cho phù hợp với bối cảnh cụ thể.
Quá trình này được coi là thành công khi người nhập cư hòa nhập tốt và xã hội và nền văn hóa mới nhưng cũng đồng thời duy trì được các giá trị văn hóa bản sắc của họ. Zhou và Bankston (1994) đã nghiên cứu và khẳng định văn hóa truyền thống của người nhập cư có vai trò rất quan trọng, là vốn xã hội (social capital) giúp người nhập cư hòa nhập tốt và vươn lên trong cuộc sống. Những sinh viên nhập cư khẳng định sự gắn bó với các giá trị gia đình truyền thống của dân tộc họ thường đạt thành tích cao trong học tập [123]. Liên quan đến vấn đề thành thích học tập của trẻ em nhập cư, Caplan (1985) trên cơ sở so sánh trẻ em nhập cư gốc Việt và trẻ em trong các gia đình bản địa và nhận thấy trẻ nhập cư thực hiện rất tốt các nhiệm vụ học tập của mình dù ngôn ngữ của chúng có thể kém 8 luan an hơn nhóm trẻ bản xứ [46].
Hsin (2010) đã khẳng định việc biết nhiều ngôn ngữ là một biểu hiện rõ nét của quá trình tiếp biến văn hóa ở trẻ và gia đình nhập cư. Những điều kiện giúp trẻ có thể học tốt ngôn ngữ và biết nhiều thứ tiếng như môi trường đa ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung), những trải nghiệm xuyên quốc gia như nghe nhạc và các bài hát Việt, về thăm quê hương cũng như gọi điện về cho họ hàng ở Việt Nam [71]. Bên cạnh việc nghiên cứu định hướng giá trị văn hóa của trẻ em nhập cư, một số nghiên cứu cũng đã tập trung tìm hiểu về các giá trị văn hóa với người già, vai trò giới trong gia đình nhập cư. Vo-Thanh-Xuan và Rice (2000) đã phỏng vấn sâu với 36 ông bà gốc Việt đang sống cùng con cháu tại Úc và nhận thấy, đối với người cao tuổi, để có cuộc sống hạnh phúc trong điều kiện giao tiếp xã hội bị hạn chế, rào cản về ngôn ngữ… những người già nhập cư cũng cần tích cực học hỏi điều mới mẻ từ con cháu, trau dồi thêm về ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, vai trò của người cao tuổi trong gia đình vẫn được khẳng định như là sử gia trong gia đình, người duy trì và truyền bá các giá trị văn hóa Việt Nam, là cầu nối giữa các thế hệ, hỗ trợ chăm sóc con cháu, là tấm đệm cho các xung đột trong gia đình [115]. Giới và vai trò giới trong gia đình nhập cư là một trong những khía cạnh quan trọng của quá trình thích nghi và tiếp biến văn hóa. Thông qua việc làm rõ vai trò giới, các nhà nghiên cứu có thể thấy được người nhập cư gốc Việt hướng đến các giá trị và vai trò giới truyền thống hay tiếp thu các giá trị bình đẳng giới hiện đại. Zhou và Bankston (2001) đã nghiên cứu về sự thay đổi của vai trò giới thể hiện trong lĩnh vực giáo dục cho bé gái gốc Việt.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy bố mẹ nhập cư người Việt luôn sẵn sàng hỗ trợ và đầu tư cho con gái học tập để có học vấn cao vì điều đó giúp con họ có khả năng có thu nhập cao hơn và có thể lập gia đình với những người đàn ông có địa vị xã hội tốt [124]. Để làm rõ hơn vấn đề này, Bankston (2004) đã phỏng vấn và rút ra một số lý do để giải thích cho thành tích học tập cao của trẻ em gốc Việt, bao gồm: sự gắn bó chặt chẽ trong các mối quan hệ gia đình và cộng đồng vốn luôn ủng hộ cho niềm tin về việc vươn lên trong cuộc sống, các giáo viên dạy trẻ đã hình thành những định khuôn tích cực về trẻ em gốc Việt và những định khuôn này tạo ra những phản ứng tích cực của giáo 9 luan an viên với học sinh và cuối cùng, vai trò của cha mẹ gốc Việt cũng là một yếu tố quan trọng theo hướng các cha mẹ luôn đặt kỳ vọng cao ở con cái họ vì họ cũng có những trải nghiệm tích cực về thành tích tốt trong học tập ở cộng đồng mình [37]. So sánh cha mẹ gốc Việt và gốc Trung Quốc tại Úc, Dandy và Nettelbeck (2002) cũng cho rằng: sự kỳ vọng và ủng hộ của cha mẹ với con cái là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc con cái họ đạt thành tích cao trong học tập [55]. Trong văn hóa Việt Nam truyền thống, người phụ nữ luôn được nhìn nhận phải hi sinh và chịu đựng vì chồng con, gia đình.
Những niềm tin này đã định hướng vai trò và hành vi ứng xử của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ, luôn phải tuân theo “tam tòng – tứ đức”. Hoang (2016) đã nghiên cứu những giá trị cốt lỗi về người phụ nữ liên quan đến niềm tin về sự hi sinh (self-sacrifice) và chịu đựng (endurance) ở những người phụ nữ Việt Nam sống và làm việc tại Đài Loan. Trong điều kiện sống và làm việc tại nước ngoài, những người phụ nữ Việt tại Đài Loan phải đối mặt với nhiều khó khăn như chồng không chung thủy và cờ bạc, xa cách và thiếu sự gắn bó với con… Tuy vậy, những người phụ nữ Việt tại Đài Loan vẫn khẳng định các giá trị nói trên và coi đó như sự chuẩn bị cho tương lai và chăm sóc cho gia đình [68]. Năm 2001, Kwak và Berry đã tiến hành so sánh thái độ tiếp biến văn hóa ở các nhóm trẻ vị thành niên và cha mẹ nhập cư đến từ Việt Nam, Hàn Quốc, Ấn Độ và Châu Âu.
Đối với nhóm trẻ vị thành niên và cha mẹ Việt Nam, kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt trong tiếp biến văn hóa giữa hai nhóm con cái và cha mẹ theo hướng bố mẹ khẳng định mạnh mẽ các giá trị văn hóa truyền thống hơn con, trong khi nhóm con lại khẳng định tầm quan trọng của việc thành thạo tiếng Anh hơn nhóm cha mẹ. Cũng tương tự như thế, nhóm cha mẹ có xu hướng mong muốn con cái họ lập gia đình với người cùng dân tộc với mình nhiều hơn con cái [83]. Nói tóm lại, một vài nghiên cứu nói trên đã khẳng định rõ nét quá trình thích nghi và tiếp biến văn hóa của người nhập cư gốc Việt. Quá trình đó thể hiện trong việc người nhập cư học ngôn ngữ, cân bằng và hài lòng với cuộc sống tại đất nước sở tại, linh hoạt trong vai trò giới, hỗ trợ con cháu các công việc trong gia đình… 10 luan an Những thay đổi và khác biệt giữa các thế hệ đã thể hiện rõ nét giá trị gia đình của những người con đất Việt trong quá trình sinh sống làm ăn nơi đất khách quê người.
Hƣớng nghiên cứu giá trị gia đình của ngƣời nhập cƣ thể hiện trong các biểu hiện tâm lý cụ thể Nasser (2012) nghiên cứu bằng khảo sát qua điện thoại với 3511 người nhập cư gốc Á tại Mỹ, trong đó có người Việt Nam (không có thông tin bao nhiêu người Việt Nam tham gia khảo sát). Kết quả nghiên cứu này cho rằng so với người Mỹ, những người nhập cư gốc Á tham gia phỏng vấn đã đánh giá giá trị của công việc, hôn nhân và gia đình cao hơn, họ cũng có sự hài lòng với cuộc sống cao hơn so với người Mỹ [87]. Từ góc độ các mối quan hệ gia đình, Xiong và đồng nghiệp (2005) tìm hiểu quan niệm thế nào là cha mẹ tốt và thế nào là người con tốt ở 36 bố mẹ nhập cư và 37 trẻ vị thành niên người Campuchia, Lào, Việt Nam và Hmong. Bằng phương pháp thảo luận nhóm, kết quả cho thấy người con tốt được miêu tả là người vâng lời, kính trọng cha mẹ và người cao tuổi; trong khi đó, bố mẹ tốt được miêu tả là người nuôi nấng và chăm sóc, điều chỉnh các hoạt động của trẻ.
Nghiên cứu này cũng chứng minh nhóm bố mẹ khẳng định mạnh mẽ giá trị gia đình truyền thống trong khi nhóm con lại nhấn mạnh đến các giá trị văn hóa của xã hội nhập cư. Điều này thể hiện ở việc cha mẹ đánh giá đứa trẻ tốt phải hiểu biết văn hóa gốc và ngôn ngữ mẹ đẻ của mình trong khi trẻ lại không thấy như vậy. Thời gian sống ở nước ngoài càng lâu thì sự khác biệt giữa các thế hệ càng lớn bởi quá trình tiếp thu các giá trị văn hóa mới dù có ý thức hoặc không có ý thức thì vẫn diễn ra [121]. Phinney và cộng sự (2000) đã chứng minh sự khác biệt về bổn phận (obligation) trong gia đình nhập cư khi khảo sát trên 471 gia đình nhập cư (gồm 03 nhóm: Armenia, Việt Nam và Mexico) và 230 gia đình không nhập cư tại Mỹ.
Kết quả nghiên cứu này một lần nữa khẳng định cha mẹ nhấn mạnh vào giá trị này nhiều hơn và thời gian sống ở nước ngoài càng lâu thì sự khác biệt giữa các thế hệ càng lớn [92]. 11 luan an Trong quá trình tiến hành tổng quan các nghiên cứu về giá trị gia đình của người nhập cư gốc Việt, có thể thấy thích nghi và tiếp biến văn hóa là quá trình rõ nét nhất.