chương 1, 2, 3) của cuốn sách đã cung cấp nền tảng lý thuyết quan trọng để tác giả luận án có thể kế thừa, triển khai và thực hiện diễn giải các vấn đề một cách hiệu quả nhất. Trong đó, lễ hội cổ truyền nói chung và lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ nói riêng luôn được coi là một phần quan trọng của đời sống văn hóa tâm linh (gồm cả tôn giáo và tín ngưỡng). Mục đích của cuốn sách là nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, nghiên cứu vai trò và đặc điểm của tôn giáo ở Việt Nam trong đời sống hiện nay. Đặc biệt là đời sống văn hóa khi đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa.
Tuy nhiên, mục đích của cuốn sách tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lý luận của tôn giáo và 10 tôn giáo ở Việt Nam, nên hầu như không đề cập đến các loại hình tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu. Bên cạnh đó, cuốn Các hình thức tôn giáo sơ khai của A. Tôcarep [124] được coi là một trong những tài liệu quan trọng về mặt lý luận đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận án. Cuốn sách không chỉ đề cập đến những hình thức tôn giáo sơ khai (bao gồm cả tín ngưỡng nguyên thủy) một cách chung chung, mà còn cung cấp một hệ thống lý thuyết đầy đủ, với cách lập luận, phân tích sắc sảo, logic… về các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng này.
Cuốn sách đã tái hiện được cơ bản diện mạo các hình thức tôn giáo sơ khai (có tính chất nền tảng cho các tôn giáo sau này) trên thế giới. Từ đó, với tư duy và luận thuyết chung như vậy, NCS có thể kế thừa, vận dụng những quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng trong quá trình thực hiện luận án. Cuốn Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt của Bùi Hoài Sơn [98], công trình đề cập đến các hoạt động của quản lý lễ hội của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945 đến nay. Đó là một hệ thống các văn bản pháp quy, quy định của các cơ quan quản lý nhà nước đối với lễ hội.
Đặc biệt là việc triển khai những văn bản đó tới các hoạt động thực tiễn của lễ hội trong bối cảnh hiện nay. Công trình nghiên cứu này của Bùi Hoài Sơn đã đề cập đến việc quản lý lễ hội ở Việt Nam một cách đầy đủ, toàn diện và bài bản nhất đứng từ góc nhìn của khoa học quản lý/người làm quản lý. Trong đó, các lễ hội cổ truyền trong quá trình hoạt động của mình, đều chịu sự chi phối của cơ quan quản lý nhà nước thông qua các văn bản pháp quy (bộ luật, nghị định, quy chế…). Cuốn sách của Bùi Hoài Sơn đã giúp cho NCS thực hiện nghiên cứu đề tài của mình luôn đặt lễ hội Phủ Dầy trong sự quản lý của nhà nước và nhận diện một nghiên cứu lễ hội truyền thống từ góc nhìn quản lý, nhất là đối với lễ hội Phủ Dầy.
Cuốn Lễ hội cổ truyền của người Việt cấu trúc và thành tố của Nguyễn Chí Bền [6]. Cuốn sách là một công trình nghiên cứu tổng thể về các loại hình lễ hội truyền thống trên lãnh thổ Việt Nam được tác giả tiếp cận dưới góc nhìn cấu trúc và thành tố. Công trình nghiên cứu này đã đặt lễ hội cổ truyền Việt Nam nói chung và lễ hội ở châu thổ Bắc Bộ nói riêng trong mối quan hệ, tương tác với nhau trên nền tảng lý thuyết cấu trúc luận và các thành tố vốn có của nó. Với góc nhìn riêng có của 11 mình, tác giả cuốn sách đã cho thấy các mặt của lễ hội truyền thống Việt Nam trong mối quan hệ, tương tác với mọi phương diện của đời sống xã hội.
Công trình nghiên cứu này của Nguyễn Chí Bền đã giúp cho NCS có được cái nhìn bao quát hơn về lễ hội cổ truyền ở Việt Nam trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. NCS coi đây là công trình vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính tổng kết cao được rút ra từ thực tế của lễ hội trên khắp các vùng miền ở Việt Nam. Đặc biệt là, trên cơ sở lý thuyết, tác giả đã chỉ ra được kết cấu/cấu trúc và thành tố cơ bản của một lễ hội cổ truyền ở Việt Nam nói chung và ở châu thổ Bắc Bộ nói riêng. Những công trình có tính chất lý luận chung về tôn giáo tín ngưỡng đã được xuất bản khá nhiều.
Tuy nhiên, những công trình/tác phẩm đề cập đến những vấn đề lý luận chung về tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam chưa có nhiều. Những công trình nghiên cứu kể trên là những cuốn sách, bài báo khoa học tiêu biểu liên quan trực tiếp đến công việc thực hiện luận án, trong đó, bài viết của Ngô Đức Thịnh về nhận thức mới về lễ hội như một hiện tượng tổng thể đã giúp tác giả luận án có cách tiếp cận đa chiều, nhiều góc độ. Cùng với quan điểm của M. Mauss, tác giả có thể xây dựng khung lý thuyết trong quá trình thực hiện nghiên cứu, đánh giá tác động qua lại giữa lễ hội thờ Mẫu đối với mọi mặt của đời sống cộng đồng.
Đối với công trình của Đặng Nghiêm Vạn, phần lý luận thiên nặng về lý thuyết tôn giáo học và từ đó soi chiếu đến đời sống tôn giáo ở Việt Nam, mà chưa đề cập đến các vấn đề tín ngưỡng nói chung (trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu). Mặc dù vậy, công trình của Đặng Nghiêm Vạn cũng cung cấp cho tác giả luận án hệ thống lý luận cơ bản về tôn giáo ở Việt Nam nói riêng, làm tiền đề lý luận cho việc thực hiện luận án. Công trình của A. Tôcarep là hệ thống lý luận/lý thuyết về tôn giáo tín ngưỡng nói chung.
Đây chính là tiền đề quan trọng cho các nhà nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng nói chung và cá nhân tác giả luận án nghiên cứu về lễ hội thờ Mẫu nói riêng. Những công trình của các tác giả tiêu biểu kể trên cũng đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp, nhiều hoặc ít liên quan tới đề tài của luận án. Tác giả luận án đã tiếp thu, vận dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình. Những nghiên cứu về lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ và lễ hội Phủ Dầy Để có cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ nói chung và lễ hội Phủ Dầy (Nam Định) nói riêng, chúng tôi chia thành những nhóm công trình nghiên cứu sau: Các công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp tới lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ nói chung và lễ hội Phủ Dầy nói riêng không nhiều.
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng Việt Nam, đạo Mẫu nói chung, thì các hoạt động có tính chất nghi lễ liên quan đến lễ hội được đề cập đến một cách gián tiếp. Chính vì vậy, để nhận diện rõ hơn các công trình nghiên cứu của học giả đi trước, tác giả luận án phân loại thành những nhóm vấn đề sau: + Các công trình nghiên cứu lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ Công trình viết về lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ nói chung có một khối lượng không nhỏ ở dưới dạng các sách chuyên khảo và bài báo khoa học. Tuy nhiên, không có những công trình chuyên khảo (dưới dạng sách) riêng cho lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ, mà nó được lồng ghép vào các công trình chuyên khảo về Đạo Mẫu nói chung. Trước hết, có thể kể đến Le Culte des immortels en Annam (Việc thờ cúng các vị Thần bất tử ở Việt Nam, Imprimerie D’Extrême - Orient của Nguyễn Văn Huyên [45].
Đây là một tập chuyên luận đề cập đến các vị thần linh Việt nói chung và các nữ thần nói riêng. Trong đó, thần nữ Liễu Hạnh được đề cập đến từ nguồn gốc hình thành phát triển trong đời sống tâm thức dân gian Việt Nam. Thân phận của vị thần nữ (được coi là tứ bất tử này) cũng chìm nổi long đong trong mối quan hệ, tương tác với các thần linh đất Việt khác. Đây là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, đầy đủ và cách phân tích sắc sảo về những loại hình tín ngưỡng bản địa với các vị thần linh của loại hình đó.
Trong quá trình định hình, tồn tại, phát triển, các loại tín ngưỡng đã có những xung đột, va chạm, thậm chí loại bỏ nhau, thần Mẫu Liễu Hạnh cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, học giả Nguyễn Văn Huyên cũng chưa đề cập đến lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ, đặc biệt là trường hợp lễ hội Phủ Dầy. Thứ hai, nhóm tác giả Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo và Dương Tất Từ đã cho xuất bản cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam [138]. Cuốn sách đề cập 13 đến những phong tục truyền thống của người Việt, trong đó có tục thờ nữ Thần và tín ngưỡng thờ Mẫu.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá và những tác động tới đời sống của cộng đồng lại chưa được nhóm tác giả đề cập đến. Nhưng, những quan điểm, thông tin, kiến thức về các tục thờ nói chung và tục thờ Mẫu ở Việt Nam sẽ được tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện luận án. Thứ ba, cuốn Các nữ thần ở Việt Nam của Mai Thị Ngọc Chúc, Đỗ Thị Hảo [17]. Đây là một công trình nghiên cứu tổng hợp về các nữ thần ở Việt Nam, về nguồn gốc, quá trình hình thành, sự thiêng hóa cũng như vai trò và tầm ảnh hưởng của những thần nữ này đối với đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, trong cuốn sách này, tác giả Đỗ Thị Hảo cũng chưa đề cập đến lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ, trong đó có Phủ Dầy ở Nam Định. Thứ tư, cuốn Thần Người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường [129]. Nội dung cuốn sách đã dựng lên diện mạo của các thần linh đất Việt, trong đó các nữ thần, Mẫu… được thể hiện sinh động dưới góc nhìn độc đáo, sắc sảo. Tạ Chí Đại Trường đã cho thấy sự hình thành, phát triển và những va đập, chìm nổi của các thần linh Việt trong diễn trình lịch sử dân tộc.
Ông cũng chỉ ra mối quan hệ chằng chéo, tiếp nhận, ảnh hưởng lẫn nhau của các vị thần trong bối cảnh giao thoa giữa các vùng miền, các tôn giáo và tôn giáo với tín ngưỡng… Đây là một trong những cuốn sách đặc biệt xuất sắc của học giả Tạ Chí Đại Trường khi nghiên cứu sang vấn đề văn hóa tâm linh với tư cách là một nhà sử học.