Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Lễ hội Phủ Dầy trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Hùng thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Phạm Duy Đức và PGS.TS. Phạm Trọng Toàn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Lễ hội Phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) là trung tâm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ gắn với Thánh Mẫu Liễu Hạnh - nhân vật đứng trong hàng "Tứ bất tử" của người Việt. Tín ngưỡng này đã trải qua nhiều biến thiên lịch sử, từ giai đoạn từng bị ngăn cấm do bị coi là sinh hoạt mang yếu tố mê tín dị đoan đến khi phục hồi, phát triển mạnh mẽ và nghi lễ Chầu văn/Lên đồng được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trong bối cảnh đương đại, các thành tố nghi lễ như cúng tế, hát văn, hầu đồng đang có những biến đổi phức tạp về nội dung, hình thức và nhận thức xã hội. Đồng thời, sự phát triển của các "dịch vụ tâm linh" và yếu tố kinh tế thương mại đang chi phối phương thức tổ chức lễ hội và đời sống cộng đồng. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả lịch sử, di tích, thần tích hoặc hình thức diễn xướng đơn lẻ, mà chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống, định lượng bằng số liệu thực nghiệm về mối quan hệ tương tác hai chiều giữa các giá trị của lễ hội Phủ Dầy với đời sống văn hóa cộng đồng cư dân (cả cộng đồng địa phương và khách thập phương).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ một số vấn đề lý luận và vai trò của lễ hội Phủ Dầy; đánh giá thực trạng tác động qua lại giữa lễ hội với đời sống văn hóa cộng đồng; từ đó chỉ ra các vấn đề đặt ra và đề xuất phương hướng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của lễ hội trong bối cảnh hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, đánh giá những thành tựu nghiên cứu về tác động của lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống văn hóa cộng đồng.
- Xác định một số vấn đề lý luận/lý thuyết về giá trị của lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ nói chung và lễ hội Phủ Dầy nói riêng đối với đời sống văn hóa cộng đồng.
- Khảo sát, đánh giá sự tương tác giữa lễ hội Phủ Dầy với đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay.
- Chỉ ra những vấn đề đang đặt ra và đưa ra khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội Phủ Dầy trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi tổng quát: Sự tương tác qua lại giữa lễ hội Phủ Dầy và đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay đã diễn ra như thế nào?
- Các câu hỏi cụ thể:
- Các giá trị của lễ hội Phủ Dầy đã tác động đến đời sống văn hóa cộng đồng cư dân địa phương như thế nào? Và ngược lại, cộng đồng cư dân địa phương đã có tác động gì tới lễ hội Phủ Dầy?
- Các giá trị của lễ hội Phủ Dầy đã tác động đến đời sống văn hóa cộng đồng cư dân khách thập phương như thế nào? Và ngược lại, cộng đồng cư dân khách thập phương đã có tác động gì tới lễ hội Phủ Dầy?
- Những tác động của lễ hội Phủ Dầy đã ảnh hưởng đến những lĩnh vực nào của đời sống văn hóa cộng đồng?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tương tác qua lại giữa lễ hội Phủ Dầy với đời sống văn hóa cộng đồng trên các phương diện: sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh doanh, học tập, quan hệ gia đình - xã hội, sức khỏe, cùng mức độ tác động của 4 nhóm giá trị (tín ngưỡng - tâm linh, giáo dục truyền thống lịch sử, thẩm mỹ nghệ thuật, kinh tế - xã hội). Các nhóm khảo sát gồm: người dân địa phương (làm dịch vụ và không làm dịch vụ), khách hành hương thập phương, cùng các chủ thể thực hành tín ngưỡng (thanh đồng, cung văn, hầu dâng, con nhang đệ tử, thủ nhang).
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào bối cảnh xã hội của lễ hội Phủ Dầy trong thời điểm đương đại.
- Phạm vi không gian: Không gian hẹp là quần thể di tích Phủ Dầy tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; không gian rộng là cộng đồng dân cư địa phương và du khách thập phương tham gia lễ hội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chuyên đề:
1. Nhóm công trình lý luận chung về lễ hội, tôn giáo và quản lý văn hóa:
- Ngô Đức Thịnh với bài viết "Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền" (1992): Đưa ra quan điểm lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể ("trong lễ có hội, trong hội có lễ"), vượt qua quan niệm phân lập cứng nhắc giữa hai phần lễ và hội.
- Marcel Mauss (1872–1950) với lý thuyết về "sự trao đổi quà tặng" và "hiện tượng xã hội tổng thể" (fait social total): Lý giải hành vi dâng cúng, hiến tế cho thần linh trong mối quan hệ đa chiều giữa kinh tế, đạo đức, tôn giáo và xã hội.
- Đặng Nghiêm Vạn (Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, 2001) và S. A. Tokarev (Các hình thức tôn giáo sơ khai, bản dịch tiếng Việt 1994): Cung cấp nền tảng lý luận về hình thái tôn giáo sơ khai, bản chất tôn giáo và đời sống tâm linh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Bùi Hoài Sơn (Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt, 2009): Hệ thống hóa cơ sở pháp lý, quy chế quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống ở châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945 đến nay.
- Nguyễn Chí Bền (Lễ hội cổ truyền của người Việt cấu trúc và thành tố, 2013): Phân tích cấu trúc, thành tố và mối quan hệ của lễ hội dân gian với đời sống xã hội dựa trên lý thuyết cấu trúc luận.
2. Nhóm công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ và lễ hội Phủ Dầy:
- Nguyễn Văn Huyên (Le Culte des immortels en Annam, 1944): Khảo cứu vị trí của thần nữ Liễu Hạnh trong hệ thống thần linh bản địa.
- Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ (Mùa xuân và phong tục Việt Nam, 1976); Mai Thị Ngọc Chúc, Đỗ Thị Hảo (Các nữ thần ở Việt Nam, 1984); Tạ Chí Đại Trường (Thần Người và đất Việt, 1989): Khái quát nguồn gốc, sự tích hợp và biến đổi của hệ thống nữ thần và Thánh Mẫu qua các thời kỳ lịch sử.
- Các công trình chuyên khảo của Ngô Đức Thịnh: Hát Văn (1992), Đạo Mẫu ở Việt Nam (các năm 1996, 2001, 2007, 2010), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á (2004), Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận (2008), Văn hóa thờ nữ thần - Mẫu ở Việt Nam và châu Á, bản sắc và giá trị (2010): Xác lập hệ thống 3 cấp độ thờ Mẫu (Nữ thần, Mẫu thần, Mẫu Tam phủ - Tứ phủ), phân tích không gian diễn xướng Chầu văn và nghi lễ Lên đồng.
- Đinh Gia Khánh (Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, 1994): Phân tích sự xuất hiện của Mẫu Liễu Hạnh vào thế kỷ XVI như một bước chuyển biến từ đạo Tam phủ thành đạo Tứ phủ.
- Các công trình của Nguyễn Đăng Duy (1998), Đặng Văn Lung (1991, 2004), Vũ Ngọc Khánh và Phạm Văn Ty (1990), Trần Lâm Biền (1989), Hồ Đức Thọ (2006), Ngô Bạch (2003), Phạm Trọng Toàn (1996), Thanh Hà (1996), Bùi Đình Thảo (1996): Khảo sát chi tiết thần phả, huyền tích, cấu trúc điện thờ, âm nhạc hát văn và kiến trúc lăng phủ tại Phủ Dầy.
3. Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội thờ Mẫu trong đời sống cộng đồng:
- Đinh Gia Khánh (Ý nghĩa xã hội và văn hóa của lễ hội dân gian, 1986); Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng (Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, 1994): Phân tích chức năng cố kết cộng đồng, nhu cầu giải trí và sáng tạo nghệ thuật trong lễ hội.
- Lê Hồng Lý (Di tích và lễ hội Tây Thiên - tiềm năng và triển vọng, 1999); Nguyễn Thụy Loan (2001); Nguyễn Minh San (1998); Ngô Đức Thịnh và Lê Hồng Lý (1996): Đánh giá tác động của lễ hội tín ngưỡng đối với phát triển kinh tế, du lịch tâm linh và các hệ lụy nảy sinh khi quản lý bị buông lỏng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Hầu hết các công trình trên tiếp cận lễ hội dưới góc độ mô tả văn hóa dân gian, lịch sử tôn giáo hoặc âm nhạc học. Luận án của NCS. Nguyễn Duy Hùng định vị nghiên cứu vào việc phân tích tác động hai chiều của lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống văn hóa cộng đồng đương đại thông qua việc kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học định lượng bằng bảng hỏi và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ:
- Khái niệm Đời sống văn hóa cộng đồng: Luận án xác định đời sống văn hóa cộng đồng là toàn bộ các hoạt động sống của một cộng đồng trong một không gian văn hóa xác định, bao gồm các phương diện: chính trị, tôn giáo - tín ngưỡng, lao động sản xuất (nông nghiệp, kinh doanh), giáo dục, nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe, quan hệ gia đình - xã hội, vui chơi giải trí.
- Lý thuyết hiện tượng xã hội tổng thể của Marcel Mauss: Đặt lễ hội Phủ Dầy trong mối quan hệ đa chiều, không tách rời yếu tố tâm linh với các yếu tố kinh tế, xã hội, pháp lý và đạo đức.
- Khung phân tích của đề tài: Đặt lễ hội Phủ Dầy ở vị trí trung tâm với 4 giá trị cơ bản: (1) Giá trị tín ngưỡng - tâm linh; (2) Giá trị lịch sử - văn hóa; (3) Giá trị thẩm mỹ - nghệ thuật; (4) Giá trị kinh tế. Khung phân tích xem xét sự tương tác hai chiều (tích cực và tiêu cực) giữa 4 giá trị này với hai nhóm chủ thể: Cộng đồng dân cư địa phương và Cộng đồng khách thập phương.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điền dã thực tế: Quan sát tham dự trực tiếp tại quần thể di tích Phủ Dầy trong và ngoài mùa lễ hội; ghi chép mô tả quy trình nghi lễ; tiến hành phỏng vấn sâu theo hai hình thức: chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu có chủ đích đối với các đối tượng nghệ nhân, thủ nhang, thanh đồng, cung văn và người dân.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp góc nhìn của Văn hóa học, Nhân học để diễn giải ý nghĩa biểu tượng; phương pháp Sử học để xác định khung niên đại và bối cảnh lịch sử của thần tích; phương pháp Xã hội học để lượng hóa các tác động văn hóa - xã hội.
- Phương pháp điều tra xã hội học và xử lý số liệu: Xây dựng hệ thống bảng hỏi cấu trúc điều tra tại địa bàn xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định và du khách hành hương; dữ liệu thu thập được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS để tính toán tỷ lệ phần trăm và mức độ tác động.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến sâu của các chuyên gia văn hóa tâm linh và Đạo Mẫu (GS. Ngô Đức Thịnh, GS. Trần Lâm Biền, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ Lên đồng, nghệ thuật Chầu văn và lễ hội Phủ Dầy; chỉ ra những thành tựu và khoảng trống nghiên cứu. Chương này xác lập hệ thống khái niệm công cụ về lễ hội dân gian, bản chất tổng thể của lễ hội truyền thống, khái niệm đời sống văn hóa cộng đồng và xây dựng mô hình khung lý thuyết phân tích tác động hai chiều giữa 4 nhóm giá trị của lễ hội với cộng đồng địa phương và khách thập phương.
Chương 2: Tổng quan chung về lễ hội Phủ Dầy
Chương 2 trình bày có hệ thống về nguồn gốc, cấu trúc và diễn trình của lễ hội Phủ Dầy:
- Tục thờ Nữ thần, Mẫu thần và hệ thống thần điện Tứ phủ: Phân tích nền tảng xã hội nông nghiệp lúa nước và ý thức mẫu hệ trong văn hóa Việt, sự tiếp biến với Nho giáo và sự tích hợp với Phật giáo, Đạo giáo. Hệ thống thần điện Tứ phủ gồm 9 hàng: (1) Ngọc Hoàng Thượng Đế; (2) Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa); (3) Ngũ vị Vương Quan; (4) Tứ vị Chầu Bà; (5) Ngũ vị Hoàng Tử; (6) Thập Nhị Vương Cô; (7) Thập vị Vương Cậu; (8) Ngũ Hổ; (9) Ông Lốt. Bốn phủ tương ứng 4 miền vũ trụ: Thiên phủ (trời), Địa phủ (đất), Thoải phủ (sông biển), Nhạc phủ (rừng núi).
- Không gian kiến trúc quần thể di tích Phủ Dầy: Tọa lạc tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát (cùng quay hướng Tây Nam), Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh (rộng 652m², 5 vòng tường, tường ngoài dài 24m, có 60 nụ sen đá, mộ hình bát giác với đồ hình bát quái và họa tiết bầu sữa mẹ), đền Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn.
- Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Sự tích giáng sinh làm con gái Lê Thái Công (đặt tên Giáng Tiên), kết duyên với Đào Lang, mất năm 21 tuổi; các lần giáng trần chu du, đối đáp thơ văn với Phùng Khắc Khoan; biến cố trận "Sùng Sơn đại chiến" giữa triều đình với Liễu Hạnh và sự can thiệp giảng hòa của Phật Thích Ca; triều đình phong sắc Nữ Hoàng Công Chúa, Chế Thắng Đại Vương.
- Diễn trình lễ hội Phủ Dầy:
- Ngày 1/3 âm lịch: Lễ tế mở cửa Phủ (lễ khai hội) của nhân dân hai làng Tiên Hương và Vân Cát.
- Ngày 2/3 âm lịch: Lễ rước nước và mộc dục tại phủ Tiên Hương (8 cô gái đồng trinh khiêng kiệu bát cống ra đền Giếng Găng lấy nước, rước về dùng khăn lụa đỏ lau tượng Mẫu).
- Ngày 3/3 và 4/3 âm lịch: Ngày giỗ Mẫu và đại lễ quốc tế; lễ vật truyền thống gồm 10 mâm cỗ lễ (mỗi mâm 100 chiếc bánh dầy dán chữ Thọ giấy trang kim, 1 con lợn mổ để sống, 1 hương án chuối tiêu).
- Ngày 5/3 âm lịch: Lễ rước thỉnh kinh từ phủ Vân Cát lên chùa Dần (chùa Pháp Vân).
- Ngày 6/3 âm lịch: Lễ rước Thánh Mẫu từ phủ Tiên Hương lên chùa Gôi.
- Ngày 7/3 âm lịch: Nghi thức kéo chữ (Hoa Trượng Hội) dùng gậy tre dài 4–5m bọc giấy màu, đầu cắm lông gà để xếp các chữ Hán: "Mẫu nghi thiên hạ", "Quốc thái dân an", "Thiên hạ thái bình"; gắn với tích bà Vương Phi Phùng Thị Ngọc Đài (Trần Thị Ngọc Đài) cứu dân phu thời Hậu Lê.
- Nghi thức Hầu đồng (Lên đồng): Diễn ra quanh năm (các dịp Thượng Nguyên, Nhập hạ, Tán hạ, Tất niên, tiệc Mẫu tháng 3, tiệc Trần Triều tháng 8 và các ngày tiệc Thánh); cấu trúc thực hành gồm chủ đền làm lễ chúng sinh và lễ Thánh, thanh đồng, hai người hầu dâng và ban cung văn hát dẫn nhịp các giá hầu.
Chương 3: Tác động - ảnh hưởng qua lại giữa lễ hội Phủ Dầy với đời sống văn hóa cộng đồng
Chương 3 công bố kết quả khảo sát định lượng và định tính về sự tương tác giữa lễ hội Phủ Dầy và hai nhóm cư dân (địa phương và khách thập phương) thông qua hệ thống 11 bảng số liệu thống kê:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng số liệu trong luận án |
| Bảng 3.1 |
Số liệu phân loại thành phần cư dân cộng đồng địa phương ở lễ hội Phủ Dầy |
| Bảng 3.2 |
Số liệu đánh giá tác động tích cực của lễ hội Phủ Dầy tới đời sống văn hóa cộng đồng địa phương |
| Bảng 3.3 |
Số liệu đánh giá tác động tiêu cực của lễ hội tới đời sống văn hóa cộng đồng địa phương |
| Bảng 3.4 |
Số liệu đánh giá mức độ tác động của các giá trị lễ hội Phủ Dầy tới đời sống cộng đồng địa phương |
| Bảng 3.5 |
Số liệu đánh giá tầm quan trọng của vai trò lễ hội Phủ Dầy tới đời sống cộng đồng địa phương |
| Bảng 3.6 |
Số liệu đánh giá mức độ tác động của lễ hội Phủ Dầy tới đời sống của nhóm học sinh địa phương |
| Bảng 3.7 |
Số liệu phân loại thành phần nhóm cộng đồng cư dân thập phương trong lễ hội Phủ Dầy |
| Bảng 3.8 |
Số liệu đánh giá mức độ tác động tích cực của lễ hội đến đời sống văn hóa cộng đồng cư dân thập phương |
| Bảng 3.9 |
Số liệu đánh giá mức độ tác động tiêu cực của lễ hội tới đời sống văn hóa cộng đồng cư dân thập phương |
| Bảng 3.10 |
Số liệu đánh giá mức độ tác động của giá trị lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống cộng đồng thập phương |
| Bảng 3.11 |
Số liệu đánh giá mức độ quan trọng của vai trò lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống cộng đồng thập phương |
Các luận điểm và phát hiện chính của chương:
- Tác động tích cực: Lễ hội tạo sinh kế và nguồn thu nhập từ các ngành dịch vụ thương mại, ăn uống, lưu trú; thúc đẩy tinh thần đoàn kết làng xóm; thỏa mãn nhu cầu tâm linh, giải tỏa áp lực tâm lý; bảo lưu nghệ thuật diễn xướng dân gian (hát văn, kéo chữ, múa lân rồng).
- Tác động tiêu cực: Tình trạng quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông; ô nhiễm môi trường và tiếng ồn; hiện tượng thương mại hóa nghi lễ quá mức; phát sinh tệ nạn mê tín dị đoan, cờ bạc trá hình; ảnh hưởng đến thời gian lao động sản xuất nông nghiệp và việc học tập của học sinh địa phương trong những ngày cao điểm lễ hội.
- Tác động chiều ngược lại của cộng đồng đối với lễ hội: Ý thức tham gia tổ chức của dân làng giúp duy trì quy chuẩn tế lễ cổ truyền; dòng tiền công đức, tài trợ từ du khách thập phương đóng góp tôn tạo cảnh quan di tích; song áp lực thị hiếu của du khách cũng thúc đẩy việc sân khấu hóa và biến đổi một số lề lối hầu đồng truyền thống.
Chương 4: Những vấn đề đặt ra cho lễ hội Phủ Dầy trong đời sống văn hóa cộng đồng
Chương 4 phân tích các nhân tố làm biến đổi giá trị lễ hội trong bối cảnh đương đại:
- Các nhân tố tác động: Sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường; sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch - dịch vụ tâm linh; quá trình đô thị hóa nông thôn; và các chính sách quản lý văn hóa của Nhà nước.
- Xu hướng biến đổi: Sự lấn át của yếu tố kinh tế thương mại trước giá trị tâm linh thuần túy; hiện tượng sân khấu hóa và phô trương vật chất trong các khóa hầu đồng; sự biến đổi không gian văn hóa di tích dưới áp lực phục vụ lượng khách đông đảo.
- Vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa bảo tồn nguyên gốc di sản phi vật thể với nhu cầu thương mại hóa dịch vụ; việc kiểm soát các biểu hiện lệch chuẩn, lạm dụng tín ngưỡng để trục lợi cá nhân; năng lực quản lý của ban quản lý di tích cơ sở.
- Các nhóm khuyến nghị, giải pháp: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội; phân định rõ trách nhiệm giữa chính quyền địa phương, ban quản lý di tích và các thủ nhang, thanh đồng; quy hoạch hạ tầng không gian dịch vụ tách biệt khu vực hành lễ tôn nghiêm; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm loại bỏ các hủ tục và bảo tồn nghệ thuật Chầu văn, trò kéo chữ cổ truyền.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa, khái quát hóa và làm rõ cơ sở lý luận về lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ và lễ hội Phủ Dầy trong đời sống văn hóa cộng đồng dưới góc độ Văn hóa học.
- Vận dụng thành công lý thuyết "hiện tượng xã hội tổng thể" của Marcel Mauss để thiết lập khung phân tích đánh giá mối quan hệ tương tác hai chiều biện chứng giữa các giá trị lễ hội và các nhóm cộng đồng cư dân.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Nhận diện và lượng hóa cụ thể thực trạng tác động qua lại giữa lễ hội Phủ Dầy với đời sống văn hóa của cư dân địa phương và du khách thập phương vùng đồng bằng Bắc Bộ thông qua hệ thống 11 bảng số liệu điều tra thực nghiệm.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng về mặt tích cực lẫn mặt hạn chế của hoạt động thực hành tín ngưỡng và dịch vụ tâm linh tại quần thể Phủ Dầy.
- Đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị cụ thể có giá trị ứng dụng cho các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của lễ hội Phủ Dầy.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thời gian ở thời điểm đương đại; không gian khảo sát thực nghiệm tập trung tại quần thể di tích Phủ Dầy (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) và hai nhóm cư dân địa phương - khách thập phương tham gia lễ hội, chưa mở rộng điều tra so sánh định lượng đồng bộ tại các trung tâm thờ Mẫu khác như Tây Thiên (Vĩnh Phúc), Phố Cát (Thanh Hóa) hay Phủ Tây Hồ (Hà Nội).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng về tác động kinh tế - văn hóa của các lễ hội thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ trên toàn quốc; đánh giá biến đổi xã hội học văn hóa của cộng đồng thực hành tín ngưỡng sau khi Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học văn hóa: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học định lượng (SPSS) trong nghiên cứu lễ hội truyền thống. Đặc biệt, Chương 1 (tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết) và Chương 2 (hệ thống hóa thần điện Tứ phủ và diễn trình nghi lễ) là tài liệu chuẩn xác phục vụ giảng dạy, nghiên cứu.
- Đối với các nhà quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Chương 3 (số liệu thực trạng tác động) và Chương 4 (các kiến nghị giải pháp) cung cấp các dữ liệu thực chứng phục vụ công tác xây dựng quy chế quản lý lễ hội, quy hoạch không gian du lịch văn hóa tâm linh và cân bằng giữa phát triển kinh tế dịch vụ với bảo tồn di sản văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát không gian kiến trúc và lăng mộ Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Dầy với các thông số cụ thể nào?
Trả lời: Luận án chỉ ra quần thể Phủ Dầy gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát (đều quay hướng Tây Nam), Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đền thờ Lý Nam Đế và chùa Linh Sơn. Trong đó, Lăng mộ Mẫu Liễu nằm ở thôn Tiên Hương trên khu đất rộng 652m², gồm 5 vòng tường, cạnh ngoài dài 24m, quay hướng Tây, có 60 nụ sen bằng đá trên các cột trụ; kiến trúc mộ hình bát giác với đồ hình bát quái và các đường viền hình núm vú quả lựu (bầu sữa mẹ).
2. Nghi thức kéo chữ (Hoa Trượng Hội) trong lễ hội Phủ Dầy diễn ra vào thời gian nào và có quy cách thực hiện ra sao?
Trả lời: Nghi thức kéo chữ diễn ra vào ngày 7 tháng 3 âm lịch. Dân phu sử dụng các cây gậy tre dài từ 4 đến 5 mét bọc giấy màu xanh đỏ, đầu cắm búi lông gà. Dưới sự điều khiển của Tổng cờ, phu cờ di chuyển, đứng, ngồi và ngả gậy để xếp thành các bộ chữ Hán như: "Mẫu nghi thiên hạ", "Quốc thái dân an", "Thiên hạ thái bình". Khi ngồi xuống, các phu cờ vứt gậy xuống đất mô phỏng tích vứt cuốc xẻng của dân phu làng Bảo Ngũ tạ ơn Mẫu Liễu Hạnh và Vương Phi Phùng Thị Ngọc Đài.
3. Hệ thống thần điện Đạo Mẫu Tứ phủ được luận án sắp xếp theo trật tự các hàng như thế nào?
Trả lời: Luận án sắp xếp thần điện Tứ phủ thành 9 hàng thứ bậc: Hàng thứ nhất là Ngọc Hoàng Thượng Đế; Hàng thứ hai là Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa); Hàng thứ ba là Ngũ vị Vương Quan; Hàng thứ tư là Tứ vị Chầu Bà; Hàng thứ năm là Ngũ vị Hoàng Tử; Hàng thứ sáu là Thập Nhị Vương Cô; Hàng thứ bảy là Thập vị Vương Cậu; Hàng thứ tám là Ngũ Hổ; Hàng thứ chín là Ông Lốt.
4. Luận án sử dụng những công cụ và phương pháp nào để lượng hóa tác động của lễ hội đối với đời sống cộng đồng?
Trả lời: Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu ngẫu nhiên và có chủ đích. Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê trên phần mềm SPSS, trình bày thông qua 11 bảng số liệu (từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.11) để đánh giá tỷ lệ phần trăm và mức độ tác động tích cực, tiêu cực trên các phương diện đời sống của cộng đồng địa phương và khách thập phương.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Duy Hùng là công trình khoa học chuyên ngành Văn hóa học đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về lễ hội Phủ Dầy trong đời sống đương đại. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Văn hóa học, Nhân học và Xã hội học định lượng (SPSS), tác giả đã làm rõ bản chất tương tác hai chiều giữa 4 nhóm giá trị cốt lõi của lễ hội với đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương và du khách thập phương. Các dữ liệu thực chứng và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể và quản lý lễ hội truyền thống tại Việt Nam hiện nay.