Tổng quan nghiên cứu

Khu vực sườn Tây Yên Tử bao quát một không gian địa - văn hóa rộng lớn với diện tích tự nhiên trên 1.300 km2, trải dài qua 111 xã, 9 thị trấn thuộc 5 huyện, thị: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng thuộc tỉnh Bắc Giang và thị xã Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương. Dọc theo cánh cung Đông Triều với đỉnh cao nhất đạt 1.068 m so với mực nước biển, Tây Yên Tử không chỉ lưu giữ cảnh quan thiên nhiên tráng lệ mà còn là nơi hội tụ mật độ đậm đặc các di sản vật thể và phi vật thể từ thời đại nhà Trần giai đoạn 1226 - 1400. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát, hệ thống hóa và đánh giá toàn diện giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích thời Trần ở sườn Tây Yên Tử, từ các trung tâm tự viện Trúc Lâm đến các phòng tuyến quân sự kháng chiến chống Nguyên Mông.

Mục tiêu cụ thể của công trình tập trung vào việc xác lập danh mục, vị trí phân bố của 11 ngôi chùa cổ thuộc Thiền phái Trúc Lâm, 5 di tích đền miếu tiêu biểu cùng hàng chục địa danh quân sự dọc theo hành lang sông Lục Nam dài hơn 100 km. Luận văn hướng đến việc làm sáng tỏ mối liên hệ hữu cơ giữa sườn Tây và sườn Đông Yên Tử trong tổng thể "kinh đô Phật giáo Trúc Lâm", đồng thời phân tích nhãn quan quân sự chiến lược của vua Trần Nhân Tông khi chọn vùng non thiêng này làm nơi tu hành và củng cố thế trận quốc phòng. Kết quả nghiên cứu cung cấp 100% dữ liệu thực địa chuẩn xác, làm luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn hơn 20 cụm di tích trọng điểm và đóng góp trực tiếp vào tiến trình hoàn thiện hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử là Di sản Thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết không gian văn hóa kết hợp với lý thuyết giá trị di sản theo tinh thần Hiến chương Venice năm 1964 và Luật Di sản văn hóa Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009. Không gian văn hóa Tây Yên Tử được tiếp cận như một thực thể địa lý - nhân văn hoàn chỉnh, nơi các yếu tố địa hình đồi núi, mạng lưới thủy văn sông Lục Nam - sông Thương tương tác chặt chẽ với quá trình tụ cư và sáng tạo văn hóa của cộng đồng cư dân bản địa qua các thời kỳ lịch sử.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm then chốt gồm: không gian lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật tôn giáo, di tích lịch sử quân sự và di tích khảo cổ học. Trong đó, di tích lịch sử thời Trần được định vị là những không gian vật chất cụ thể chứa đựng các giá trị tinh thần, tư tưởng độc lập tự chủ và nghệ thuật kiến trúc đặc sắc do vương triều Trần cùng nhân dân Đại Việt kiến tạo trong thế kỷ XIII - XIV.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được xây dựng trên cơ sở tích hợp giữa tư liệu thành văn và tư liệu thực địa điền dã. Về tư liệu thành văn, luận văn khai thác hệ thống chính sử kinh điển như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, các địa chí địa phương như Địa chí Bắc Giang, cùng hơn 30 văn bia, thần tích, ngọc phả Hán Nôm còn lưu giữ tại các di tích. Về dữ liệu điền dã, tác giả tiến hành khảo sát thực địa toàn diện trên địa bàn 5 huyện, thị vùng Tây Yên Tử và đối sánh với khu di tích nhà Trần tại Đông Triều, Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng chủ đạo gồm phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình hình thành hệ thống di tích theo trục thời gian từ năm 1226 đến năm 1400. Phương pháp liên ngành được triển khai đồng bộ thông qua khảo cổ học lịch sử, dân tộc học và phương pháp sử học truyền miệng (lọc nhiễu tư liệu truyền thuyết dân gian).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 11 ngôi chùa Trúc Lâm cổ, 5 ngôi đền thờ nhân vật lịch sử thời Trần và 4 cửa ải quân sự trọng yếu trên tuyến hành lang dài 100 km. Phương pháp chọn mẫu toàn diện (comprehensive sampling) được lựa chọn nhằm đảm bảo không bỏ sót bất kỳ cấu phần nào trong không gian di sản liên tỉnh. Nghiên cứu thực hiện giám định hơn 200 di vật đá cuội ghè thuộc văn hóa Sơn Vi tại 17 điểm khảo cổ trên lưu vực thượng lưu sông Lục Nam cùng hàng trăm hiện vật gạch, ngói, gốm sứ thời Trần. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 4 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã thống kê và lập bản đồ phân bố hoàn chỉnh của 11 ngôi chùa cổ thời Trần dọc sườn Tây Yên Tử. Mạng lưới này trải dài từ khu danh thắng Tây Yên Tử thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động với 4 phân khu chùa ở độ cao từ 145 m đến gần 1.000 m nối thẳng lên chùa Đồng, qua chùa Am Vãi trên núi Am Ni ở độ cao 780 m tại huyện Lục Ngạn, hệ thống 6 chùa tại huyện Lục Nam (gồm chùa Ngọ, chùa Hồ Bấc, chùa Bình Long trên núi Huyền Đinh cao gần 700 m, chùa Hòn Tháp, chùa Yên Mã, chùa Cao trên núi Khám Lạng), đến chốn tổ Vĩnh Nghiêm tại huyện Yên Dũng và cụm chùa Côn Sơn, Thanh Mai tại thị xã Chí Linh ở độ cao 250 m. Trong đó, chùa Vĩnh Nghiêm được xác định là trung tâm Phật giáo quy mô lớn bậc nhất, nơi đào tạo tăng ni, khắc in kinh sách và giữ vị trí đầu mối của Thiền phái Trúc Lâm.

Thứ hai, luận văn chỉ ra hệ thống phòng tuyến quân sự kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII gắn kết chặt chẽ với địa hình tự nhiên. Tuyến phòng ngự phía Tây Yên Tử được cấu thành bởi 4 cửa ải chiến lược gồm: ải Khả Lý ở độ cao 500 m trên dãy Bảo Đài, ải Động Bản tại Biển Động, ải Nội Bàng tại khu vực làng Ải - núi Ải và đại bản doanh Vạn Kiếp. Đi kèm với các ải là hệ thống địa danh căn cứ huấn luyện và hậu cần độc đáo như Đấu Đong Quân, Bãi Quần Ngựa, Thao Trường, Xứ đồng Lò Muối, Xứ đồng Nom Hơm, Bãi Tân Tiên Nha và căn cứ rèn luyện voi chiến Bình Voi - An Gạo.

Thứ ba, nghiên cứu ghi nhận 5 di tích đền thờ tiêu biểu tôn vinh các nhân vật lịch sử kiệt xuất: đền Quan Sang thờ Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo trên núi Huyền Đinh, đền Kiếp Bạc tại Chí Linh, đền Quan Quận thờ dũng tướng Vi Hùng Thắng hy sinh trong trận chiến bảo vệ ải Nội Bàng năm 1285, đền thờ vua Trần Minh Tông tại Tiên La được lập từ thế kỷ XIV sau khi nhà vua ban cấp 3 mẫu ruộng làm quỹ đò qua sông Thương, và đền Thanh Nhàn Từ thờ Thái sư Trần Thủ Độ cùng Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung tại Nham Sơn.

Số liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết nhằm minh họa tương quan không gian giữa các loại hình di tích:

Nhóm loại hình di tích Số lượng di tích tiêu biểu Địa bàn phân bố chính Tình trạng bảo tồn hiện nay
Di tích chùa tháp Trúc Lâm 11 chùa Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng, Chí Linh 9 chùa đã tôn tạo/đang hoạt động (81,8%), 2 phế tích khảo cổ (18,2%)
Cửa ải & phòng tuyến quân sự 4 cửa ải chính Dãy Bảo Đài, sông Lục Nam, Lục Đầu Giang Tồn tại dưới dạng phế tích, địa danh lịch sử và tầng văn hóa khảo cổ
Đền thờ nhân vật lịch sử 5 đền miếu Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Dũng, Chí Linh 100% được duy trì thờ tự, trùng tu qua các thời kỳ lịch sử
Địa điểm khảo cổ học tiền sử 17 điểm văn hóa Sơn Vi Thượng lưu sông Lục Nam (Lục Ngạn, Sơn Động) Hơn 200 hiện vật đá cuội ghè được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bắc Giang

Thảo luận kết quả

Địa hình sườn Tây Yên Tử có cấu trúc lòng chảo xen kẽ núi cao hiểm trở và các thung lũng ven sông Lục Nam, tạo nên thế "tầm long trắc địa" tự nhiên. Địa thế này cho phép bao quát toàn bộ vùng biên cương Đông Bắc, tạo thành lá chắn nhiều tầng bảo vệ kinh thành Thăng Long. So với các công trình trước đây chỉ nhìn nhận Yên Tử đơn thuần dưới góc độ tôn giáo hoặc chỉ nghiên cứu biệt lập từng di tích như chùa Vĩnh Nghiêm hay Côn Sơn, luận văn đã chứng minh một luận điểm mang tính bước ngoặt: sự hiện diện của vua Trần Nhân Tông tại Yên Tử từ năm 1299 không chỉ nhằm mục đích khai sáng một dòng thiền thuần Việt mà còn mang tầm nhìn quân sự tối cao, trực tiếp giám sát tuyến phòng thủ chiến lược trước nguy cơ xâm lược từ phương Bắc.

Sự gắn kết hữu cơ giữa hệ thống tự viện và căn cứ quân sự thể hiện sâu sắc hào khí Đông A và tư tưởng "hộ quốc an dân" của Phật giáo thời Trần. Dữ liệu khảo cứu cho thấy đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân vùng Kinh Bắc luôn song hành với ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang cùng tỉnh Hải Dương cần phối hợp hoàn thành cắm mốc chỉ giới khoanh vùng bảo vệ cấp độ 1 và cấp độ 2 cho 100% các điểm di tích thời Trần trên địa bàn 5 huyện trong giai đoạn 2017 - 2020. Mục tiêu nhằm chấm dứt hoàn toàn tình trạng xâm hại đất đai di tích, bảo đảm tính toàn vẹn cho 11 cảnh quan chùa tháp và 5 khu đền thờ lịch sử.

Thứ hai, Viện Khảo cổ học phối hợp cùng Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đẩy mạnh khai quật khảo cứu học thuật tại các phế tích chưa được phục dựng toàn diện như chùa Hồ Bấc, chùa Bình Long và khu vực ải Khả Lý, ải Nội Bàng trong giai đoạn 2018 - 2022. Phấn đấu nâng tỷ lệ thám sát địa tầng đạt ít nhất 30% diện tích các phế tích nhằm thu thập thêm hiện vật kiến trúc thời Trần, phục vụ công tác phục dựng chuẩn xác.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương cần xây dựng đề án liên kết phát triển tuyến du lịch di sản tâm linh Tây Yên Tử - Đông Yên Tử dọc theo hành lang sông Lục Nam dài 100 km trong giai đoạn 2020 - 2025. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng khách du lịch văn hóa từ 15% đến 20% mỗi năm, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch và gìn giữ môi trường sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử rộng hơn 12.000 ha.

Thứ tư, ngành giáo dục và thông tin truyền thông địa phương cần thực hiện số hóa 100% tư liệu Hán Nôm, văn bia, truyền thuyết dân gian liên quan đến di tích thời Trần trước năm 2025. Xây dựng chương trình giáo dục di sản ngoại khóa cho trên 50.000 lượt học sinh, sinh viên mỗi năm nhằm nâng cao trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc kế thừa và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học và tôn giáo học. Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu thực địa chuẩn xác, tư liệu Hán Nôm dịch thuật và phân tích chuyên sâu về sự hình thành, phát triển của Thiền phái Trúc Lâm cùng nghệ thuật quân sự thời Trần.

Nhóm thứ hai là các nhà quản lý văn hóa, cán bộ hoạch định chính sách tại các cơ quan ban ngành của tỉnh Bắc Giang, Hải Dương và Quảng Ninh. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để hoàn thiện hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Yên Tử là Di sản Thế giới, đồng thời xây dựng quy hoạch bảo tồn di tích cấp quốc gia đặc biệt.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp lữ hành, chuyên gia quy hoạch du lịch văn hóa. Luận văn gợi mở các tuyến điểm tham quan liên vùng dọc sông Lục Nam, kết hợp trải nghiệm văn hóa tâm linh Trúc Lâm với khám phá sinh thái bản địa của các dân tộc Dao, Sán Dìu, Cao Lan.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Việt Nam học, Văn hóa học. Tài liệu đóng vai trò là giáo trình tham khảo giá trị phục vụ học tập, giảng dạy lịch sử địa phương và phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội nhân văn.

Câu hỏi thường gặp

Tây Yên Tử bao gồm những địa bàn hành chính nào trong nghiên cứu?
Nghiên cứu xác định Tây Yên Tử nằm trên địa bàn 5 huyện, thị gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng thuộc tỉnh Bắc Giang và thị xã Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương, với tổng diện tích tự nhiên trên 1.300 km2, gồm 111 xã, phường, thị trấn trải dài dọc theo sườn Tây dãy núi Yên Tử.

Tại sao luận văn khẳng định vua Trần Nhân Tông lên Yên Tử mang mục đích quân sự?
Bên cạnh mục đích tôn giáo, việc Phật Hoàng tu hành trên đỉnh Yên Tử cao 1.068 m kết hợp lập các am chùa dọc sườn Tây cho phép nhà vua trực tiếp quan sát toàn cảnh vùng biên giới Đông Bắc, kiểm soát 4 cửa ải huyết mạch từ Lạng Sơn về Thăng Long nhằm kịp thời phòng thủ đất nước.

Những ngôi chùa Trúc Lâm tiêu biểu nhất ở sườn Tây Yên Tử gồm những di tích nào?
Hệ thống gồm 11 ngôi chùa, tiêu biểu nhất là chốn tổ Vĩnh Nghiêm (trung tâm đào tạo tăng đồ lớn nhất thời Trần), chùa Côn Sơn, chùa Thanh Mai, chùa Am Vãi trên núi Am Ni cao 780 m, chùa Bình Long trên núi Huyền Đinh và cụm 4 chùa thuộc khu danh thắng Tây Yên Tử.

Hệ thống di tích thời Trần tại Tây Yên Tử được phân thành những nhóm chính nào?
Luận văn phân chia thành 2 nhóm lớn: nhóm di tích khảo cổ học gồm các phế tích kiến trúc chùa tháp, doanh trại, cửa ải bị tàn phá còn nằm trong lòng đất; và nhóm di tích kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, đền miếu còn được bảo tồn, tôn tạo và phục vụ đời sống tâm linh hiện nay.

Luận văn đóng góp những giá trị khoa học gì cho hồ sơ Di sản Thế giới Yên Tử?
Luận văn đã phục dựng bức tranh toàn cảnh về mạng lưới di tích sườn Tây, chứng minh sườn Tây và sườn Đông Yên Tử là một chỉnh thể không gian văn hóa - tôn giáo không thể tách rời, bổ sung 100% căn cứ khoa học thực địa khẳng định tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản.

Kết luận

  • Xác lập hệ thống gồm 11 ngôi chùa Trúc Lâm cổ, 5 đền thờ danh nhân và 4 phòng tuyến quân sự thời Trần trên không gian hơn 1.300 km2 tại sườn Tây Yên Tử.
  • Làm sáng tỏ luận điểm vua Trần Nhân Tông lập dòng thiền Trúc Lâm gắn liền với tầm nhìn chiến lược phòng thủ quân sự bảo vệ độc lập dân tộc.
  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã, khảo cổ và văn bản học Hán Nôm chuẩn xác về trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm và các cửa ải kháng chiến chống Nguyên Mông.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi về quy hoạch cắm mốc, khai quật khảo cổ, phát triển du lịch di sản và số hóa tư liệu phục vụ bảo tồn đến năm 2025.
  • Hoàn thiện bức tranh địa - văn hóa Yên Tử thống nhất từ Đông sang Tây, tạo nền tảng vững chắc phục vụ hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO.

Công trình là đóng góp học thuật xuất sắc vào kho tàng nghiên cứu lịch sử trung đại Việt Nam. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cộng đồng xã hội cần tiếp tục đẩy mạnh liên kết liên tỉnh để bảo tồn nguyên vẹn và phát huy xứng tầm giá trị của quần thể di tích lịch sử - văn hóa thời Trần tại Tây Yên Tử.