chương 1 Huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó có dân tộc Nùng chiếm đa số và cũng là chủ thể văn hóa mang đậm dấu ấn của người Nùng nơi giao thoa văn hóa giữa người Tày, Nùng và người Kinh từ dưới xuôi lên, nên rất đa dạng và phong phú, dân cư đông đúc, phân bố theo các thung lũng sông suối, khe đồi hình thành nên các xóm làng với nhiều thành phần dân tộc sinh sống, sản xuất đan xen từ lâu đời, cùng với quá trình di cư của các dân tộc từ nơi khác đến, đây cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nên đến với Hữu Lũng là đến với mảnh đất giàu truyền thống và đậm đà, đa dạng bản sắc văn hóa của các dân tộc, nơi lưu giữ dấu ấn nhiều giá trị văn hóa vật thể cũng như văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc. 16 Chương 2 HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA Ở HUYỆN HỮU LŨNG 2. Di tích lịch sử, văn hóa vật thể 2.
Khái quát hệ thống di tích lịch sử, văn hóa vật thể Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa tồn tại một cách hữu linh, con người có thể nhận biết một cách cảm tính, trực tiếp qua các giác quan (cung điện, chùa tháp, hiện vật trưng bày trong bảo tàng, thắng cảnh thiên nhiên…) có giá trị văn hóa, lịch sữ, khoa học được cộng đồng dân tộc, nhân loại thừa nhận. Theo điều 4 Luật di sản văn hóa 2001 “Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.
Theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm văn hóa hữu hình, tồn tại dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc và kiểu dáng. trong không gian và thời gian xác định. Di sản văn hóa vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử xã hội rõ rệt, được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người và luôn chịu sự thách thức bào mòn của quy luật thời gian trong những tác động, chi phối của con người. Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc.
Hiện nay, vấn đề bảo tồn những di sản văn hóa vật thể lâu đời vô cùng khó khăn, đòi hỏi phải có công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ. Các ngôi đền ở huyện Hữu Lũng số lượng tương đối lớn 21 ngôi (xin xem phụ lục 1) với một huyện giáp ranh giữa miền núi, trung du cận đồng bằng, phân bố rộng khắp ở các thôn, xã trong huyện, tập trung dọc theo các tuyến đường bộ chính, các con sông, suối và ở các vị trí trọng yếu nơi diễn ra các sự kiện lịch sử quan trọng, trong đó có các ngôi đền tiêu biểu như: Đền Bắc Lệ (xã Tân Thành), đền Đèo Kẻng, 17 đền Chúa Cà Phê, đền Voi Xô (xã Hòa Thắng), đền Quan Giám Sát, đến Chầu Lục (xã Hòa Lạc), Chùa Cã (xã Minh Sơn), đền Suối Ngang (xã Hòa Thắng), đền Phố Vị (xã Hồ Sơn)… Các ngôi đền có quy mô trung bình, được xây dựng và trùng tu nhiều lần, kiến trúc cơ bản ảnh hưởng chủ yếu của Phật giáo, hòa lẫn với tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc. Số lượng các ngôi chùa không nhiều có 6 ngôi (xin xem phụ lục 1), chủ yếu có ở một số xã, với quy mô nhỏ, thường ở vị trí cao, thoáng mát, như chùa Cã (xã Minh Sơn), chùa Sơn Lộc Tự, chùa An Lộc Thịnh (xã Yên Thịnh), chùa Làng Hạ (xã Hòa Lạc), chùa Đẩu (xã Đồng Tân)… Làm nơi đến cầu trời, khấn phật và vãn cảnh của bà con trong vùng, du khách thập phương. Đình làng tương đối lớn 40 ngôi (Xin xem phụ lục 1), có ở hầu khắp các thôn, xã trong huyện, trong đó có những xã như Minh Sơn có 08 ngôi, xã Hữu Liên có 05 ngôi.
Với quy mô trung bình. Hiện nay qua thời gian do thời tiết và chiến tranh loạn lạc, hầu hết không còn giữ được hệ thống kiến trúc và điêu khắc cũ, trước kia chủ yếu là làm bằng gỗ từ cột, kèo, rui, mè, kể cả các bức vách của một số ngôi đình, do nơi đây sẵn có các loại gỗ quý, kích cỡ to lớn, nhất là gỗ lim. Đến nay do không bảo vệ và quản lý được, tư vấn, thiết kế, đồng thời các loại vật liệu như gỗ không còn nữa, nên qua các lần trùng tu, sửa chữa nhân dân đã thay thế bằng hệ thống xi măng, cốt thép, gạch ngói thông thường. Một số đình làng đang trong tình trạng xuống cấp cần được tu bổ, sửa chữa.
Số lượng nghè của huyện Hữu Lũng không nhiều có 5 ngôi (xin xem phụ lục 1), với quy mô nhỏ. Như nghè Ông Vũ, nghè bà chúa Mỏ Dương (xã Yên Thịnh), nghè Tục Tăng (xã Hữu Liên), nghè Đồng Lai (xã Đồng Tân), nghè Ngòi Na (xã Sơn Hà). Các nhà thờ họ quy mô không lớn với 5 nhà thờ (xin xem phụ lục 1), do điều kiện kinh tế và số nhân khẩu trong họ ở mức trung bình, nên hầu hết các ngôi nhà thờ họ mới được xây dựng trong những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI. Chất liệu chủ yếu bằng xi măng, gạch đỏ và cát sỏi có sẵn tại địa phương.
Các di tích lịch sử, văn hóa vật thể tập trung ở các xã Tân Thành, Minh Sơn, Yên Thịnh, Minh Tiến, Vân Nham, Nhật Tiến, Hữu Liên, Thanh Sơn, Hòa Lạc, Cai 18 Kinh, thị trấn Hữu Lũng, Đồng Tiến, Sơn Hà, Thiện Kỵ, Yên Bình. Trong đó nơi có nhiều tích lịch sử, văn hóa vật thể nhất là thị trấn Hữu Lũng với 15 di tích. Một số di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu 2. Đền Thuốc Sơn Đền này nằm giáp ranh giữa thôn Đá Đỏ và thôn Làng Bến, xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Di tích này cách Ủy ban nhân xã Cai Kinh khoảng 6 km theo hướng Đông Bắc, cách trung tâm huyện khoảng 13 km về hướng Tây Nam. Đền Thuốc Sơn được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVIII, trên nền đất cao, đẹp bên bờ sông Thương. Phía trước đền có một cây Đa cổ thụ, bên cạnh gốc đa có một ngôi mộ của vị nữ tướng Đài Ái Tôn Thần. Đền được trùng tu, xây dựng nhiều lần, lần gần nhất vào năm 1995, kiểu kiến thúc chữ “Đinh", tường xây bằng gạch chỉ, mái lợp ngói đỏ, hai đầu hồi có bưng che mái, diện tích ngôi đền vào khoảng hơn 60 m2.
Cửa đền hướng Tây, với 3 cửa bằng nhau, theo kiểu Tam quan, trong đó có một cửa chính và hai cửa phụ. Chiều cao của đền từ nền lên đỉnh mái là 4 m, vì, kèo, li tô được làm bằng tre, xà dọc thuộc loại gỗ thường, không có chạm khắc gì và có đôi rắn xanh, trắng (thanh xà, bạch xà) cuốn cột đầu hướng vào bàn thờ, xung quanh là đồng, ruộng, bãi sản xuất của nhân dân thôn Làng Bến và Đá Đỏ, bên trái đền là con đường nhỏ liên thôn. Tượng pháp trong đền có rất ít và được bài trí sơ sài, gian đại bái (chính giữa) có chiếu lễ và bàn thờ nữ tướng Đài Ái Tôn Thần, ngồi trên ngai, bên cạnh trái là bài vị Thần của người cùng nhị vị đôi cô theo hầu (Đệ nhất nương cô và Đệ nhị nương cô), được đặt thấp hơn. Bên phải gian đại bái là bàn thờ thần Nam Tào, bên trái là bàn thờ thần Bắc Đẩu.
Gian hậu cung liền với bàn thờ chính thờ Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghì mắt, phía dưới có đường chạy đàn để đi lại và thắp hương. Tất cả các pho tượng ở đây đều được làm bằng gỗ mít, được sơn son thiếp vàng, có kích thước nhỏ 40 x 50 cm, ngoài ra còn có một số đồ thờ khác như chuông đồng nhỏ, chuông thỉnh, mõ… cùng nhiều bát hương bằng sứ men trắng, vẽ Lưỡng Long chầu nguyệt, đây là đồ thờ 19 mới được công đức. Đền được bày trí theo kiểu tiền thần, hậu phật rất phổ biến ở các ngôi đền. Qua nghiên cứu tư liệu, cùng với các văn bản nhà đền còn lưu giữ là hai bản sắc phong thời Nguyễn, cùng với lời kể của các cụ cao niên trong thôn Làng Bến và Đá Đỏ truyền khẩu lại, ngôi mộ và cây đa cổ thụ được hình thành cùng một thời điểm.
Truyện kể lại rằng “Ngày xưa, tại vùng đất tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang, người dân yên vui sinh sống, mọi người hăng hái lao động sản xuất trong cảnh yên bình. Bỗng một ngày kia, quân giặc từ hướng Bắc xuống cướp phá, chúng hung hãn đốt phá nhà cửa, ruộng vườn và giết hại dân lành, chúng bắt phụ nữ về làm vợ hầu hạ chúng. Trước tình cảnh đó vua Lê Hiển Tông (1740- 1786), đã cử nhiều đạo quân, cùng tướng sĩ đi dẹp giặc phương Bắc, trong đó có một đạo quân do nữ tướng Đài Ái chỉ huy. Khi lên tới nơi, thấy quân giặc rất đông và hung hãn đạo quân của bà đã đánh nhau với quân giặc rất quyết liệt, nữ tướng, cùng quân sĩ đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng do quân giặc đông, quân ta ngày càng ít, tình thế cam go, nữ tướng phải chốt chặn quân địch, cho quân ta rút lui, mải đánh nhau với giặc, nữ tướng đã rơi khăn mũ, hiện nguyên là một nữ giới, thấy vậy quân giặc quyết đánh và hò nhau đuổi bắt, vị nữ tướng một mình một ngựa, khi chạy đến thượng nguồn sông Thương, trời đã về chiều, nhìn thấy dòng sông nước chảy xiết không thể qua nổi, quân giặc lại ở ngay phía sau, nữ tướng đã tuốt gươm tự vẫn, quyết không để thân mình rơi và tay giặc.