Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2. Lễ hội vật cầu Kim Sơn Chương 3. Khai thác lễ hội vật cầu Kim Sơn phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy. Sinh viên: Ngô Thị Thùy 7 Lớp: VH1101 Khóa luận tôt nghiệp CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm du lịch Trong xu thế phát triển chung của thời đại, cùng nhịp sống hối hả bon chen, thêm vào đó là việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống nên du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội và hoạt động du lịch đang đƣợc phát triển mạnh mẽ. Vậy du lịch bắt nguồn từ đâu? Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng. Nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tornos” có nghĩa là đi một vòng. Sau khi ngƣời La Mã xâm chiếm Hy Lạp thì từ này đƣợc đổi thành “Tornus”.
Trong quá trình phát triển của tiếng Anh và tiếng Pháp nó phát triển thành “Tourism” và “Tourisme”. Đầu tiên du lịch đƣợc hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm ngƣời rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi giải trí hay chữa bệnh. Hoạt động du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ. Khái niệm du lịch có thể đƣợc xác định nhƣ sau: “ Du lịch là một hoạt động của dân cƣ trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” (I.
Pirôgionic, 1985) Theo luật du lịch đã đƣợc Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” Sinh viên: Ngô Thị Thùy 8 Lớp: VH1101 Khóa luận tôt nghiệp 2. Quan niệm về tài nguyên du lịch 2. Quan niệm về tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và sự kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên và nhân văn (văn hóa) có thể sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, thăm quan hay du lịch. Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tƣợng văn hóa - lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dƣới ảnh hƣởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch.
Từ những điều trình bày trên đây có thể xác định khái niệm tài nguyên du lịch nhƣ sau : Tài nguyên du lịch là một tổng thể tự nhiên và năn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí tuệ của con ngƣời, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này đƣợc sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch. Vai trò của tài nguyên du lịch trong việc phát triển du lịch Du lịch là một trong những ngành có định hƣớng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch ảnh hƣởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch.
Quy mô hoạt động du lịch một vùng, quốc gia đƣợc xác định trên cơ sở khối lƣợng nguồn tài nguyên du lịch, quết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch. Số lƣợng tài nguyên vốn có, chất lƣợng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia.Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch 2. Đặc điểm tài nguyên du lịch -Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo, có sức hấp dẫn với du khách.
Sinh viên: Ngô Thị Thùy 9 Lớp: VH1101 Khóa luận tôt nghiệp - Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình. - Tài nguyên du lịch dễ khai thác bởi tài nguyên có sẵn trong tự nhiên do tạo hóa sinh ra hoặc do con ngƣời tạo nên do đó dễ khai thác, không tốn kém tiền vào đầu tƣ các tài nguyên. - Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau, tạo nên tính mùa vụ trong du lịch. - Tài nguyên du lịch đƣợc khai thác tại chỗ để tạo sản phẩm du lịch mà không di chuyển đƣợc.
Đây chính là cơ sở để đƣa ra biện pháp quản lý, khai thác hiệu quả làm phát triển giá trị vốn có của tài nguyên du lịch. Phân loại tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm - Tài nguyên du lịch tự nhiên : tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch : + Địa hình + Khí hậu + Nguồn nƣớc + Thực, động vật + Tài nguyên du lịch nhân văn + Di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc + Các lễ hội + Các đối tƣợng du lịch gắn với dân tộc học + Các đối tƣợng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác. Tài nguyên du lịch nhân văn 2. Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn nói ngắn gọn là các đối tƣợng, hiện tƣợng do con ngƣời tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du Sinh viên: Ngô Thị Thùy 10 Lớp: VH1101 Khóa luận tôt nghiệp lịch bao gồm: Di tích lịch - sử văn hóa, lễ hội phong tục tập quán và các công trình đƣơng dại do hội đồng và con ngƣời sáng tạo.
có sức hấp dẫn du khách, có tác động giải trí, hƣởng thụ mang ý nghĩa thiết thực và đƣợc đƣa vào khai thác phục vụ du lịch. Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn do con ngƣời tạo ra, hay nói cách khác nó là đối tƣợng và hiện tƣợng đƣợc tạo ra một cách nhân tạo. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân văn có những đặc điểm khác biệt với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên : - Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn., tác dụng giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu. - Việc tìm hiểu các đối tƣợng nhân tạo diễn ra trong thời gian rất ngắn.
Nó thƣờng kéo dài một vài giờ , cũng có thể một vài phút. Do vậy trong khuôn khổ một chuyến du lịch ngƣời ta có thể hiểu rõ nhiều đối tƣợng nhân tạo. Tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp nhất đối với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình. Số ngƣời quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thƣờng có văn hóa cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.
- Tài nguyên du lịch nhân văn thƣờng tập trung ở các điểm quần cƣ và các thành phố lớn. - Ƣu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính mùa vụ, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tƣợng và các điều kiện tự nhiên khác. Vì thế tài nguyên du lịch nhân tạo làm giảm nhẹ tính mùa vụ nói chung của dòng du lịch. - Sở thích của những ngƣời tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và khác nhau.
Nó gây nhiều khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn. Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên di lịch nhân văn chủ yếu dựa vào cơ sở định tính xúc cảm và trực cảm. Sinh viên: Ngô Thị Thùy 11 Lớp: VH1101 Khóa luận tôt nghiệp - Tài nguyên du lịch nhân văn tác động theo từng giai đoạn, có thể phân chia nhƣ sau: + Thông tin, ở giai đoạn này khách du lịch nhận đƣợc những tin tức chung nhất, có thể nói là mờ nhạt về đối tƣợng nhân tạo, thƣờng thông qua thông tin miệng hay các phƣơng tiện thông tin đại chúng. + Tiếp xúc: là giai đoạn khách du lịch có nhu cầu tiếp xúc bằng mắt thƣờng với đối tƣợng, tuy chỉ lƣớt qua nhƣng là quan sát bằng mắt thực.
+ Nhận thức: khách du lịch làm quen với đối tƣợng cơ bản, đi sâu vào nội dung của nó, thời gian tiếp xúc lâu hơn. + Đánh giá, nhận xét: Với kinh nghiệm sống của bản thân về nhận thức, khách du lịch so sánh đối tƣợng này với đối tƣợng khác gần với nó. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn Các nhà nghiên cứu phân tài nguyên du lịch nhân văn thành hai loại chính là tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. • Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Gồm: + Di sản văn hoá thế giới vật thể. + Các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng cấp quốc gia và địa phƣơng. + Các cổ vật và bảo vật quốc gia. + Các công trình đƣơng đại.
• Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử - văn hoá, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dƣợc cổ truyền, văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian. Gồm các dạng tài nguyên dƣới đây: Sinh viên: Ngô Thị Thùy 12 Lớp: VH1101 Khóa luận tôt nghiệp + Di sản văn hoá thế giới truyền miệng và phi vật thể. + Các lễ hội truyền thống. + Nghề và làng nghề thủ công cổ truyền.
+ Văn hoá nghệ thuật. + Văn hoá ẩm thực. + Văn hoá ứng xử, phong tục, tập quán. + Thơ ca và văn học.
+ Văn hoá các tộc ngƣời. + Các phát minh, sáng kiến khoa học.