Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu và khai thác lễ hội Vật cầu Kim Sơn phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy" được thực hiện bởi sinh viên Ngô Thị Thùy (Khoa Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, năm 2011) dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Hương.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong chiến lược phát triển kinh tế, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó du lịch văn hóa gắn với di tích lịch sử và lễ hội truyền thống chiếm vị trí quan trọng. Huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa lâu đời, từng là nơi vua Mạc Đăng Dung chọn xây dựng kinh thành vào thế kỷ XVI và gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm. Địa phương sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú như Khu tưởng niệm nhà Mạc (xã Ngũ Đoan), đền Mõ (xã Kiến Quốc), lễ hội rước lợn Ông Bồ (làng Kỳ Sơn), chùa Văn Hòa...

Nổi bật tại làng Kim Sơn, xã Tân Trào là lễ hội Vật cầu Kim Sơn. Đây là lễ hội truyền thống gắn liền với địa danh Kim Sơn kháng Nhật và tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước. Mặc dù từng bị gián đoạn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lễ hội đã được khôi phục từ năm 1997. Tuy nhiên, việc khai thác lễ hội này vào hoạt động du lịch vẫn còn hạn chế, chưa được đông đảo du khách biết đến. Do đó, việc nghiên cứu giá trị văn hóa và đề xuất giải pháp khai thác lễ hội phục vụ phát triển du lịch địa phương là yêu cầu thực tiễn cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu sâu tiến trình phát triển, nhận diện các giá trị văn hóa, lịch sử và nét đặc sắc của lễ hội Vật cầu Kim Sơn; từ đó đề xuất định hướng khai thác hiệu quả tài nguyên này nhằm phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy, Hải Phòng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng kết và phân tích cơ sở lý luận về du lịch, tài nguyên du lịch và lễ hội truyền thống.
    2. Tìm hiểu, so sánh sự khác nhau giữa lễ hội Vật cầu Kim Sơn xưa và nay.
    3. Làm rõ các giá trị và ý nghĩa văn hóa của lễ hội.
    4. Đánh giá thực trạng khai thác lễ hội phục vụ du lịch hiện nay.
    5. Đề xuất các giải pháp khai thác lễ hội hiệu quả phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Vật cầu tại làng Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Tìm hiểu tổng quan về loại hình hội vật cầu/cướp cầu truyền thống tại vùng đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam) và tập trung nghiên cứu thực địa tại làng Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng.
    • Về nội dung: Khảo sát các phong tục, tiến trình tổ chức lễ hội cổ truyền và hiện đại, đánh giá hiện trạng tài nguyên và hoạt động du lịch tại địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận vận dụng các khái niệm và cơ sở lý luận chuyên ngành du lịch học và văn hóa học:

  • Khái niệm du lịch: Trích dẫn định nghĩa của I. Pirôgionic (1985) về hoạt động du lịch của dân cư trong thời gian rỗi và định nghĩa tại Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/06/2005).
  • Tài nguyên du lịch: Khái niệm, vai trò, đặc điểm và phân loại thành hai nhóm chính: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, động thực vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể).
  • Khái niệm và đặc trưng lễ hội: Dẫn giải quan điểm của Giáo sư Hà Văn Tấn về bản chất của "Lễ" (tính thiêng, nghi lễ tôn giáo, sự kính ý) và "Hội" (sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trò chơi dân gian); lý thuyết phân loại lễ hội của Giáo sư Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm "Cơ sở văn hóa Việt Nam" (lễ hội gắn với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đời sống cộng đồng).
  • Mối quan hệ hai chiều giữa lễ hội và du lịch: Phân tích tác động tích cực (bảo tồn di sản, tạo nguồn thu, giải quyết việc làm) và tác động tiêu cực (thương mại hóa, quá tải cục bộ, ô nhiễm môi trường, biến tướng văn hóa).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Tổng hợp sách báo, công trình nghiên cứu văn hóa dân gian, báo cáo kinh tế - xã hội và tài liệu lưu trữ của địa phương.
  • Phương pháp phân tích hệ thống: Đánh giá cấu trúc, giá trị văn hóa của lễ hội và tác động qua lại giữa tài nguyên lễ hội với hệ thống kinh tế - xã hội địa bàn.
  • Phương pháp điền dã: Trực tiếp khảo sát thực địa tại xã Tân Trào, quan sát không gian di tích đình Kim Sơn, tiếp xúc và phỏng vấn các bô lão, cán bộ văn hóa và người dân địa phương.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp được cung cấp bởi Ủy ban nhân dân xã Tân Trào, Phòng Văn hóa Thông tin huyện Kiến Thụy, các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng và các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian đã công bố.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về du lịch và tài nguyên du lịch nhân văn, cụ thể:

  • Làm rõ bản chất của tài nguyên du lịch nhân văn: Được hình thành từ quá trình sáng tạo của con người, mang tính nhận thức sâu sắc, ít phụ thuộc vào mùa vụ khí hậu so với tài nguyên tự nhiên nhưng lại chịu tác động định tính từ thị hiếu du khách.
  • Phân tích hai thành tố cấu thành lễ hội: Phần "Lễ" mang tính trang nghiêm, linh thiêng, thể hiện lòng biết ơn và cầu mong mùa màng tốt tươi, quốc thái dân an; phần "Hội" là đời sống sinh hoạt dân gian vui tươi, nơi hội tụ các trò chơi truyền thống và tinh thần cộng đồng.
  • Tổng kết các đặc điểm cốt lõi của lễ hội truyền thống: Tính thiêng, tính cộng đồng, tính địa phương, tính cung đình và tính đương đại.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động lễ hội hiện nay: Bên cạnh việc góp phần bảo tồn bản sắc, nhiều lễ hội đang đối mặt với nguy cơ thương mại hóa, mê tín dị đoan và mở rộng quy mô tràn lan (dẫn ý kiến của GS.TS. Ngô Đức Thịnh).

Chương 2: Lễ hội vật cầu Kim Sơn

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về loại hình hội vật cầu ở Việt Nam, hệ thống lễ hội truyền thống tại Hải Phòng, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Kiến Thụy và chi tiết về lễ hội Vật cầu Kim Sơn qua các giai đoạn.

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    LỄ HỘI VẬT CẦU KIM SƠN                                         |
|  - Địa điểm: Đình làng Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng                         |
|  - Chu kỳ: 3 năm/lần vào ngày mùng 6 tháng Giêng (ngày kỵ húy Thành hoàng Thiên Quan Vũ Muối)      |
|  - Cấu trúc: 3 giáp (Đượng, Nam, Bắc) - Quả cầu củ chuối hột tươi (nặng 14-20kg, đường kính 30-40cm)|
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+

1. Khảo cứu các hội vật cầu/cướp cầu tiêu biểu tại Việt Nam

Tác giả tổng hợp sự phân bố của trò chơi vật cầu truyền thống gắn với tín ngưỡng cư dân nông nghiệp lúa nước và tinh thần thượng võ:

  • Hội vật cầu Đồ Sơn (Hải Phòng): Mở từ mùng 4 đến mùng 6 tháng Giêng, gắn với tích Nữ tướng Lê Chân thời Hai Bà Trưng tập trận và rèn quân bằng củ chuối.
  • Hội cướp cầu làng Yên Xá (Bắc Ninh): Quả cầu bằng gỗ sơn đỏ, đưa về hai lỗ chiêm và mùa để cầu mùa lúa.
  • Hội cướp cầu vùng hạ Yên Thế (Tân Yên, Bắc Giang): Chia 2 hoặc 4 giáp, cầu sơn son thếp vàng tranh cướp đưa vào đình.
  • Hội cướp cầu Phù Ninh (Gia Lâm, Hà Nội): Cướp cầu đưa vào giỏ tre chôn ở hai đầu sân đình.
  • Hội cướp cầu làng Gừa (Liêm Thuận, Thanh Liêm, Hà Nam): Mùng 4 tháng Giêng, quả cầu gỗ sơn son mây sóng kích thước như bóng chuyền.
  • Hội đảo vũ xã Thạch Trực (Vĩnh Phúc): Cướp dừa thay cho cướp cầu, ném dừa xuống ao đình để cầu mưa.

2. Khái quát hệ thống lễ hội truyền thống tiêu biểu tại Hải Phòng

STT Tên lễ hội Thời gian tổ chức Địa điểm tổ chức
1 Hội chọi trâu Đồ Sơn Mùng 9 tháng 8 âm lịch Quận Đồ Sơn
2 Hội đền Nghè Từ 8 đến 10 tháng 2 âm lịch Quận Lê Chân
3 Lễ hội núi Voi Từ 12 đến 14 tháng 2 âm lịch Huyện An Lão
4 Hội đền Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngày 28 tháng 11 âm lịch Huyện Vĩnh Bảo
5 Hội đu xuân Thủy Nguyên Dịp Tết Nguyên Đán Huyện Thủy Nguyên
6 Lễ hội xuống biển Cát Bà Từ 4 đến 6 tháng 1 âm lịch Làng chài Trân Châu, huyện Cát Hải
7 Hội đình Hạ Ngày 20 tháng 8 âm lịch Quận Hồng Bàng
8 Hội đình Dư Hàng Ngày 18 tháng 2 âm lịch Dư Hàng Kênh, huyện An Hải
9 Hội đền An Lư Ngày 11 tháng 11 âm lịch Xã An Lư, huyện Thủy Nguyên

3. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Kiến Thụy

  • Vị trí và địa hình: Huyện nằm phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, cách trung tâm 20 km; diện tích tự nhiên 10.753 ha (107,53 km²); dân số 126.046 người (tháng 4/2009) gồm 18 đơn vị hành chính. Địa hình phong phú gồm 4 loại: đồi, đồng bằng, bờ và đáy biển.
  • Thủy văn: Tiếp giáp sông Văn Úc (chảy qua huyện 14,75 km, rộng trung bình ~100m, sâu ~4m, lưu lượng 120 m³/s, mang 9 triệu tấn phù sa bồi tụ) và sông Đa Độ (chảy qua huyện >20 km, trữ lượng cung cấp 120.000 m³/ngày cho các nhà máy nước).
  • Đa dạng sinh học: Hệ động vật trên cạn gồm 122 loài (51 họ, 18 bộ) với 7 loài trong Sách đỏ Việt Nam (rắn ráo thường, rắn cạp nong, rắn hổ mang, tắc kè, bồ nông chân xám, cò thìa, rái cá thường). Hệ thực vật có 300 loài bậc cao thuộc 250 họ cùng rừng ngập mặn ven biển rộng 860 ha tại xã Đại Hợp.
  • Kinh tế - hạ tầng: 2.483 ha nuôi trồng thủy sản (24% đất canh tác); năng suất lúa đạt 10,7 tấn/ha (đứng thứ 3 toàn thành phố); toàn huyện có 41 trang trại chăn nuôi tập trung và 74 di tích lịch sử văn hóa.

4. Lịch sử, quy trình và nét khác biệt của Lễ hội Vật cầu Kim Sơn (Xưa và Nay)

  • Lịch sử: Hội gắn liền với việc suy tôn Thành hoàng làng là "Đương Cảnh thành hoàng làng Thiên Quan Vũ Muối" - một vị tướng thời nhà Mạc đã sáng lập trò vật cầu để tuyển chọn binh tướng. Lễ hội mở 3 năm một lần vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch (ngày kỵ húy của thần).
  • Cấu trúc đội thi: Dân làng chia thành 3 giáp tương ứng với 3 thôn: Giáp Đượng (Đông), Giáp Nam và Giáp Bắc. Mỗi giáp cử 5 "giai cầu" (trai tráng chưa vợ, to khỏe, tiếng reo to dài) và 1 "tổng cờ" mặc võ phục, tay cầm cờ đuôi nheo chỉ huy.
  • Quả cầu thi đấu: Làm từ củ chuối hột tươi gọt tròn nhẵn, đường kính 30 - 40 cm, nặng từ 14 đến 20 kg, bọc giấy hồng điều trang trí hoa văn tứ linh (long - ly - quy - phượng).
  • Không gian sân bãi: Sân đình có 1 hố cầu cái ở trung tâm và 3 hố cầu quân bố trí theo hình tam giác đều cách đều hố cái 13 m hướng về 3 xóm.
  • Diễn biến thi đấu: Trải qua 3 keo vật quyết liệt. Các giai cầu phải ôm cầu trong lòng (không được vác) để đưa vào hố cầu quân của giáp mình. Kết thúc keo thứ ba, quả cầu được gieo xuống ao đình để thực hiện nghi thức "tắm cầu", dân làng và các đô vật cùng lao xuống tranh từng mẩu cầu lấy "khước" đem về cho lợn ăn để trừ dịch bệnh và mau lớn.
  • Điểm mới của lễ hội ngày nay: Có thêm quả cầu tre lớn trang trí dán giấy hồng điều và rước chùm bóng bay thả lên trời; ban tổ chức có sự tham gia điều hành chuyên nghiệp của chính quyền các cấp; loại bỏ các thủ tục phân chia thứ bậc, ngôi thứ phong kiến trong tế lễ.
       [Hố cầu quân Giáp Đượng]
                /        \
              13m        13m
              /            \
[Hố cầu quân Giáp Bắc] - 13m - [Hố cầu quân Giáp Nam]
                \        /
              (Hố cầu cái)

Chương 3: Khai thác lễ hội vật cầu Kim Sơn phục vụ phát triển du lịch huyện Kiến Thụy

Chương 3 tập trung vào đánh giá thực trạng và đưa ra các nhóm giải pháp chuyên ngành:

  • Thực trạng khai thác: Lễ hội đã bước đầu thu hút khách thập phương nhưng chưa hình thành các tour tuyến chuyên nghiệp; các dịch vụ bổ trợ du lịch chưa phát triển đồng bộ; cơ sở hạ tầng giao thông và bãi đỗ xe mùa lễ hội còn thiếu thốn.
  • Đánh giá tác động:
    • Tích cực: Khơi dậy niềm tự hào truyền thống "Kim Sơn kháng Nhật", bảo tồn di sản văn hóa vật thể (đình Kim Sơn) và phi vật thể, tạo sinh kế thời vụ cho người dân.
    • Tiêu cực: Nguy cơ rác thải, mất trật tự giao thông cục bộ trong ngày chính hội nếu thiếu phương án quản lý khoa học.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    1. Tu bổ, tôn tạo di tích đình Kim Sơn: Bảo tồn kiến trúc cổ, nạo vét ao đình, mở rộng khuôn viên sân vật cầu.
    2. Tuyên truyền, quảng bá du lịch: Đẩy mạnh thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, xuất bản ấn phẩm, phối hợp với các công ty lữ hành tại Hải Phòng và Hà Nội xây dựng tour chuyên đề.
    3. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch: Bồi dưỡng kiến thức văn hóa, kỹ năng đón tiếp và hướng dẫn viên tại điểm cho cán bộ văn hóa xã và ban khánh tiết đình làng.
    4. Nâng cao ý thức của người dân địa phương: Vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, ứng xử văn minh với du khách, loại trừ hiện tượng mê tín dị đoan hoặc ép giá dịch vụ.
    5. Tổ chức đa dạng các trò chơi dân gian: Bổ sung các hoạt động giao lưu văn nghệ, hội thi ẩm thực truyền thống, cờ tướng, kéo co... nhằm làm phong phú phần hội.
    6. Kiến nghị với các cấp quản lý: Đề nghị UBND huyện Kiến Thụy và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng quy hoạch kết nối Kim Sơn với tuyến du lịch liên hoàn Đồ Sơn - Núi Voi (An Lão) - Núi Phù Liễn (Kiến An) và Khu tưởng niệm vương triều Mạc.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã tập hợp và hệ thống hóa toàn diện các dữ liệu thực tế về địa lý, sinh thái và văn hóa lễ hội tại địa bàn nghiên cứu:

  • Thống kê chi tiết các chỉ số tự nhiên - kinh tế huyện Kiến Thụy: Diện tích 10.753 ha, 18 xã/thị trấn, 2 con sông lớn (Đa Độ dài >20 km, Văn Úc dài 14,75 km mang 9 triệu tấn phù sa), 122 loài động vật (7 loài Sách đỏ), 300 loài thực vật bậc cao, 74 di tích lịch sử và năng suất lúa đạt 10,7 tấn/ha.
  • Khôi phục chi tiết quy trình thực hành lễ hội Vật cầu Kim Sơn truyền thống từ ngày 18 tháng Chạp (lễ mộc dục, chạp thần), ngày 30 Tết (tế Tống cựu nghinh tân, đặt cầu lên hương án) đến chính hội mùng 6 tháng Giêng với 3 keo vật và lễ tắm cầu.
  • Xác định quy cách chuẩn mực của các đạo cụ: Củ chuối hột tươi nặng 14 - 20 kg, đường kính 30 - 40 cm; sân đấu hình tam giác đều cạnh 13 m; cơ cấu 3 giáp mang 3 màu cờ áo (đỏ, vàng, xanh) cùng 15 giai cầu và 3 tổng cờ.

Giải pháp và kiến nghị

Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa bảo tồn di sản và phát triển sản phẩm du lịch nhân văn: Tu bổ di tích đình Kim Sơn, đẩy mạnh quảng bá lữ hành, đào tạo nhân lực tại chỗ, nâng cao nhận thức cộng đồng và đa dạng hóa phần hội gắn với kết nối tour liên huyện.

Đóng góp của tác giả

Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống hóa đầu tiên ở cấp độ đại học chuyên ngành Văn hóa Du lịch về lễ hội Vật cầu Kim Sơn sau khi được phục dựng từ năm 1997. Tác giả đã làm rõ giá trị lịch sử thời Mạc và truyền thống kháng Nhật của vùng đất Kiến Thụy, cung cấp tài liệu thực chứng cho việc xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù của thành phố Hải Phòng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, quan sát định tính và điền dã phỏng vấn; thiếu số liệu điều tra xã hội học định lượng (chưa khảo sát dung lượng mẫu du khách thực tế bằng bảng hỏi chuyên sâu). Do nguồn kinh phí và thời gian nghiên cứu hạn chế, khóa luận chưa xây dựng được phương án tính toán tài chính chi tiết cho các tour du lịch thử nghiệm.
  • Hướng mở rộng: Cần triển khai các nghiên cứu tiếp theo về đánh giá sức chứa du lịch của không gian đình Kim Sơn trong mùa lễ hội; khảo sát mức độ hài lòng và hành vi chi tiêu của khách du lịch; thiết kế các tuyến du lịch đường sông dọc sông Đa Độ kết hợp tham quan lễ hội Kim Sơn và các di tích vương triều Mạc.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học khi nghiên cứu về tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống đồng bằng sông Hồng và các trò diễn dân gian thượng võ.
  • Các đơn vị kinh doanh lữ hành: Các công ty du lịch tại Hải Phòng và miền Bắc có thể tham khảo cấu trúc lễ hội, thời gian diễn ra và các điểm di tích phụ cận để thiết kế tour du xuân, tour du lịch văn hóa - lịch sử đầu năm.
  • Cơ quan quản lý địa phương: UBND xã Tân Trào và Phòng Văn hóa Thông tin huyện Kiến Thụy có thể sử dụng các đề xuất tu bổ, kịch bản tổ chức phần hội và phương án vệ sinh môi trường để nâng cao chất lượng công tác quản lý lễ hội định kỳ 3 năm một lần.

Câu hỏi thường gặp

1. Lễ hội Vật cầu Kim Sơn được tổ chức theo chu kỳ như thế nào và vào ngày nào trong năm?
Lễ hội được tổ chức theo chu kỳ 3 năm một lần vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch (ngày kỵ húy của Thành hoàng làng Thiên Quan Vũ Muối).

2. Quả cầu dùng trong trận vật có cấu tạo và kích thước chuẩn như thế nào?
Quả cầu được làm từ củ chuối hột tươi vườn nhà gọt tròn nhẵn, đường kính khoảng 30 - 40 cm, nặng từ 14 đến 20 kg, bên ngoài bọc giấy hồng điều và trang trí hoa văn tứ linh (long - ly - quy - phượng) bằng giấy trang kim.

3. Cơ cấu tham gia của các đội thi (giáp) trong lễ hội được quy định ra sao?
Làng Kim Sơn chia thành 3 giáp (Giáp Đượng/Đông, Giáp Nam, Giáp Bắc) với 3 màu áo/cờ phân biệt là đỏ, vàng, xanh. Mỗi giáp có 5 giai cầu (trai tráng khỏe mạnh chưa vợ) và 1 tổng cờ mặc võ phục cầm cờ đuôi nheo chỉ huy.

4. Nghi thức "tắm cầu" ở cuối lễ hội có ý nghĩa gì đối với đời sống cư dân?
Khi keo vật thứ ba kết thúc, quả cầu được gieo xuống ao đình để các giai cầu và dân làng cùng lao xuống tranh cướp một mẩu cầu lấy "khước" may mắn. Theo quan niệm dân gian, mang mẩu chuối này về cho lợn ăn sẽ giúp vật nuôi mau lớn và không bị dịch bệnh.

5. Lễ hội Vật cầu Kim Sơn có nguồn gốc gắn liền với nhân vật lịch sử nào?
Lễ hội gắn với việc suy tôn Thành hoàng làng là Thiên Quan Vũ Muối - một vị tướng thời nhà Mạc từng trấn giữ vùng đất này và tổ chức trò chơi vật cầu để rèn luyện thể lực, tuyển chọn binh sĩ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ngô Thị Thùy đã phác thảo toàn diện bức tranh văn hóa - lịch sử độc đáo của lễ hội Vật cầu Kim Sơn tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Công trình không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn mà còn miêu tả chân thực từng nghi thức tế lễ, trò diễn dân gian và sự biến đổi của lễ hội qua các thời kỳ. Đây là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn, đóng góp các giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn di sản truyền thống song hành với định hướng phát triển du lịch bền vững tại địa phương.