mở đầu có thể kể đến các nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, Trần Văn Huyên,… Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [54, tr22]. 14 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt văn hóa hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [33, tr 431]. Năm 1994, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm…khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, làng xóm, vùng, miền, quốc gia, xã hội,…Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng.”; còn theo nghĩa hẹp “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (kí hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng có đặc thù riêng”.
Như vậy, từ các khái niệm trên có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người.
Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra. Văn hóa được hình thành trong quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử nên nó có bề dày và chiều sâu. Văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa, bằng những kinh nghiệm con người tích lũy và truyền đạt lại trong cộng đồng qua không gian và thời gian. Đó cũng chính là những giá trị tương đối ổn định và trở thành những khuôn mẫu được tích lũy, tái tạo trong cộng đồng người và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục, tập 15 quán.
Và như thế văn hóa như mạch nguồn nuôi dưỡng con người, xã hội phát triển theo hướng tiến bộ hơn. Tín ngưỡng và phong tục 1. Tín ngưỡng Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người. Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững.
Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung. Cơ sở của tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" hay gọi là "cái thiêng" cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể cảm nhận, quan sát được. Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người.
Nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm. Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" được thể hiện qua các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thành hoàng, Đạo Mẫu. Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc.
thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng chung của con người. Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ.
Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ 16 biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo.
Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa. Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo mà người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào.
Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả mãn điều họ cầu xin. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt là tính dụng. Tôn giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của họ trong cuộc sống. Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo có nhiều chỗ gần gũi với nhau vì nó cùng có nguồn gốc từ lòng tin tuyệt đối vào một đấng cao siêu huyền bí nào đó, nhưng chúng cũng có nhiều điểm khác nhau.
Tôn giáo với tư cách một giáo lí, giáo pháp chính là sự phát triển một tín ngưỡng, được cộng đồng thể chế, quy phạm hoá cao độ. Mỗi tôn giáo cần có: Một hệ thống giáo lí; Một vị giáo chủ đứng đầu (Chúa Trời, đức Phật Thích Ca, Lão Tử); Một hệ thống thể chế, nghi lễ thờ tự và nơi thờ tự; Một hệ thống tổ chức gồm giáo luật nghiêm chỉnh, giáo hội với các tín đồ. Tôn giáo dân gian không hẳn là tôn giáo với những thể cách trên, nó chủ yếu mới là sự sùng tín, nó nằm trong tâm thức của con người trong sinh hoạt dân dã và được biểu hiện ra chủ yếu trong phong tục tập quán sinh hoạt chứ chưa được thể chế hóa hay trở thành giáo luật. Các nhà nghiên cứu thường gọi chung đối tượng này là tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian hoặc đôi khi cũng dùng khái niệm tôn giáo dân gian.
Khái niệm tín ngưỡng vì vậy rộng rãi hơn và dân dã hơn khái niệm tôn giáo. 17 Văn học dân gian Việt Nam nói chung và truyện cổ tích nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt tín ngưỡng dân gian được phản ánh khá đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng được phản ánh ở đây không chỉ thể hiện được rõ nét văn hóa của người Việt mà còn là của cả dân tộc.
Đối với văn học dân gian Việt Nam nói chung và tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt nói riêng thì tín ngưỡng là chỗ dựa tâm linh cho những sáng tạo nghệ thuật. Hơn thế nữa, ở loại truyện này chúng ta còn có thể thấy tín ngưỡng còn được nghệ thuật hóa để trở thành những biểu tượng mang ý nghĩa kép: ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa nhân văn. Trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi khảo cứu một số nhóm truyện phản ánh tín ngưỡng là: tín ngưỡng thờ thần, tín ngưỡng thờ tự nhiên và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Phong tục Gắn liền với tín ngưỡng là phong tục (phong: gió, tục: thói quen, phong tục: thói quen lan rộng).
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất. Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chí một dòng họ, gia tộc.
Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại. Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người như: phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão,. Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm. Hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người.
Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm nay, nó đã trở thành luật tục sâu đậm và gắn chặt trong tâm thức người dân và thậm chí có sức mạnh hơn cả những đạo luật. Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc, phong tục của người Việt Nam cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến 18 đổi văn hoá xã hội. Tuy nhiên có những phong tục mất đi những cũng có nhưng phong tục vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người Việt Nam. Nhiều phong tục đẹp của người Việt đã được soi bóng trong ca dao, truyện cổ,…mang một ý nghĩa văn hóa, thẩm mĩ đẹp đẽ.