Mở đầu công trình Timothy Corrigan nói rằng: “Lịch sử quan hệ giữa phim ảnh và văn chương là một lịch sử yêu ghét lẫn lộn, đương đầu và phụ thuộc lẫn nhau”, làm câu chủ đề của toàn bộ nội dung cuốn sách. Đây là công trình nghiên cứu mang tính hàn lâm cao, chứa đựng nhiều thông tin về mối quan hệ văn học với điện ảnh theo dòng lịch sử. Cũng trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra vấn đề chuyển thể từ văn học sang điện ảnh từ tiền cổ điển đến thể nghiệm và mở rộng giá trị của điện ảnh và văn học. Năm 2016, Lê Thị Dương xuất bản công trình Chuyển thể văn học – điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản) trên nền tảng lý thuyết liên văn bản.
Áp dụng lý thuyết này, Lê Thị Dương đã đưa ra cái nhìn khách quan của công việc chuyển thể. Lê Thị Dương cho rằng lịch sử chuyển thể giữa văn học với phim điện ảnh đã tổng kết hai phương thức cở bản: Chuyển thể trung thành với nguyên tác và chuyển thể tự do trên cơ sở vận dụng tính liên văn bản của tác phẩm kiếp sau (phim chuyển thể) với tác phẩm kiếp trước (tác phẩm văn học). Lê Thị Dương đã phân tích việc chuyển thể trung thành và không trung thành với tác phẩm gốc bằng những dẫn chứng cụ thể, đảm bảo tính khách quan khoa học. Lê Thị Dương đưa ra kết luận chuyển thể không chỉ là một dạng đặc biệt của liên văn bản mà còn có thể xem là mấu chốt của liên văn bản.
Chúng tôi nhận thấy rằng chuyển thể luôn luôn là một quá trình, vì vậy một sản phẩm chuyển thể như phim điện ảnh nói chung, phim chuyển thể từ truyện cổ Grimm nói riêng luôn có mối quan hệ với tác phẩm truyện cổ tích dù ít hay nhiều tùy thuộc vào phương pháp 5 chuyển thể. Điều này phù hợp với cái nhìn của lý thuyết liên văn bản. Một tác phẩm không tồn tại theo cách độc lập, nó luôn có mối quan hệ với tác phẩm trước đó. Năm 2017, Đào Lê Na xuất bản cuốn Chân trời của hình ảnh – từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa Akira.
Trong công trình này tác giả đã dịch từ Adaptation sang tiếng Việt là cải biên, vì vậy thuật ngữ cải biên được tác giả sử dụng trong toàn bộ tác phẩm. Đào Lê Na mở rộng phạm vi nghiên cứu cải biên trong sự phức hợp các lý thuyết gồm: liên văn bản, giải kiến tạo, văn hóa học và phiên dịch học đã đưa cải biên trở về với lý thuyết nghiên cứu chuyên sâu. Tác giả công trình viết: “Cải biên là một bộ phận của liên văn bản. Liên văn bản cho thấy sự dịch chuyển các ký hiệu từ văn bản nguồn là tác phẩm văn học đến văn bản đích là tác phẩm điện ảnh.
Ngoài ra, xem xét cải biên từ góc nhìn liên văn bản sẽ thấy được hành trình xuyên suốt của các văn bản kể cả văn bản nguồn lẫn văn bản đích bởi tất cả các văn bản đều hấp thụ, biến đổi và trở thành từ các văn bản khác. Bộ phim cũng chỉ là kết quả của tiến trình liên văn bản, […]. Từ góc nhìn giải kiến tạo, tác phẩm điện ảnh cải biên sẽ được trả lại vị trí của chính nó, tức là mối quan hệ thứ bậc của tác phẩm nguồn và tác phẩm phái sinh, văn bản trước và văn bản sau sẽ bị xóa nhòa, thay vào đó là mối quan hệ đồng đẳng của các loại hình nghệ thuật, của sân chơi liên văn bản. Từ góc nhìn văn hóa học sẽ cho thấy hệ tư tưởng mang tính thống trị xã hội tác động đến quan điểm của những nhà làm phim.
Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng giúp người nghiên cứu nhìn nhận nguyên nhân, mục đích và bối cảnh xã hội của cải biên và sẽ kiến giải được tại sao có những bộ phim cải biên từ cùng một tác phẩm văn chương nhưng lại có sự thay đổi rất lớn. Từ góc nhìn của phiên dịch học, việc cải biên tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh được xem là một kiểu dịch liên ký hiệu, do đó tính tương đương cũng được xem xét trong quá trình cải biên. Ngoài ra trong công trình này, Đào Lê Na đã nghiên cứu trường hợp tác giả cải biên bậc thầy Kurosawa Akira và các phim chuyển thể xuất sắc của ông, làm đối tượng khảo nghiệm lại những lý luận tác giả đưa ra ở phần đầu công trình.2 Nghiên cứu chuyển thể truyện cổ tích thành phim điện ảnh Donald Haase đã biên tập và xuất bản ở Mỹ bộ công trình Bách khoa toàn thư Greenwood về truyện dân gian và truyện cổ tích (The Greenwood Encyclopedia of Folteles and Fairy tales) năm 2008, cung cấp cái nhìn toàn diện về truyện kể dân gian nói chung, truyện cổ tích nói riêng trên quy mô lớn. Đây là một công trình được biên tập kỹ lưỡng, gồm rất nhiều bài viết của rất nhiều tác giả có quốc tịch khác nhau đến từ khắp nơi trên thế giới, với các mục được sắp xếp theo bảng bảng chữ cái Latinh.
Truyện cổ Grimm với tư cách là một đại diện tiêu biểu nhất của truyện cổ tích nhân loại đã có rất nhiều bài nghiên cứu. Bên cạnh đó, các bài viết của nhiều tác giả đã cung cấp thông tin về Grimm, Hans Christian Andersen, Charles Perrault và các truyện kể truyền thống khác trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt bộ sách còn có các hình vẽ minh họa bổ sung cho nội dung truyện cổ, giúp người đọc có thể mở rộng trí tưởng tượng và tiếp nhận thêm tri thức. Bộ sách còn chứa rất nhiều bài viết về các dạng chuyển thể của truyện cổ dân gian, cung cấp cái nhìn đa dạng cho nhiều ngành nghiên cứu.
Các truyện cổ được giới thiệu trong bộ sách đang không ngừng gây ảnh hưởng tới các thể loại văn hóa đại chúng như phim, truyện tranh, sân khấu và các loại hình tự sự khác. Trong công trình này, Donald Haase đã tập hợp một số bài viết về phim ảnh nói chung được chuyển thể từ truyện cổ Grimm. Truyện cổ Grimm đã là nguồn nội dung cho điện ảnh khai thác trong nhiều năm qua trên diện rộng. Các phim chuyển thể này hầu hết đều được sản xuất tại các nước thuộc Châu Âu và Bắc Mỹ.
Những nước này có mối liện hệ gần về văn hóa hay văn học dân gian. Vì thế việc chuyển thể truyện cổ Grimm không còn là vấn đề xa lạ với họ. Truyện cổ Grimm đã được chuyển thể thành phim ảnh nói chung như phim hoạt hình, phim điện ảnh, phim truyền hình, sân khấu nhạc kịch. Tác giả Carolina Fernández-Rodríguez trong bài viết “Phim Cô Lọ lem” đã viết về lịch sử chuyển thể truyện Cô Lọ lem thành phim từ những ngày đầu của điện 7 ảnh với hệ thống thu hình và trình chiếu với hai màu đen trắng.
Nhà làm phim thử nghiệm người Pháp Georges Méliès đã sản xuất bộ phim đầu tiên Cô Lọ lem (Cendrillon) vào năm 1889. James Kirkwood đạo diễn phim Cô Lọ lem (Cinderella) năm 1914. Lotte Reiniger đạo diễn phim Cô Lọ lem (Aschenputtel) năm 1922. Herbert Brenon đạo diễn phim Nụ hôn cho nàng Lọ lem (A Kiss for Cinderella) năm 1925.
Green đạo diễn phim Ella Cinder năm 1926. Ngoài ra, câu chuyện về Cô lọ lem còn được các đạo diễn Nhật Bản Kenji Mizoguchi đưa vào phim Naniwa hika năm 1936. Đạo diễn người Nga Grigory Aleksandrov chuyển thể thành nhạc kịch Con đường sáng (Svetly put’) năm 1940. Đạo diễn người Tây Ban Nha chuyển thể thành phim Cô Lọ lem (La Nueva Cenicienta) năm 1964.
Vào năm 1973, đạo diễn người Séc Václav Vorlícek chuyển thể thành phim Ba điều ước của Lọ lem (Tri orísky pro Popelku). Nền công nghiệp điện ảnh Mỹ cũng cho ra đời không ít các tác phẩm chuyển thể từ câu chuyện Cô Lọ lem như phim Giày thủy tinh (The Glass Slipper) năm 1955 của đạo diễn Charles Walters. Phim Cinderefella năm 1960 của đạo diễn Frank Tashlin. Phim Đôi dép và bông hồng: Chuyện Nàng Lọ lem (Slipper and the Rose: The story of Cinderella) năm 1976 của đạo diễn Bryan Forbes.
Và rất nhiều biến thể phim chuyển thể khác lấy cảm hứng từ truyện cổ tích này trong lịch sử phát triển của điện ảnh như phim Nàng Rebeca (Rebeca) của Alfred Hitchcock năm 1940 và phim Yểu điệu thục nữ (My Fair Lady) năm 1964 của George Cukor. Ở mục “Chuyển thể truyện cổ tích” trong bài viết “Phim và Video”, tác giả Jessica Tiffin đã nhận định về xu hướng chuyển thể của miền điện ảnh Mỹ và Châu Âu: “Trong khi điện ảnh thương mại Mỹ sản xuất nhiều tác phẩm chuyển thể từ những câu chuyện yêu thích trong khuôn khổ các thể loại nổi tiếng của Hollywood, các phiên bản Châu Âu thường liên kết với nhận thức mang tính dân gian mạnh mẽ, ca tụng truyện cổ tích thông qua điện ảnh như chứng nhận của di sản văn hóa. Đây là một phần trong những nguyên nhân của sự quảng bá truyện cổ Grimm trong phim. Đạo diễn Fritz Genschow đã thể hiện truyền thống mạnh mẽ của phim cổ tích Đức 8 trong các tác phẩm phim cổ tích Bà chúa tuyết (Fra Holle) năm 1954 và Cô Lọ lem (Aschenputtel) năm 1955” (sđd tr.
Ngoài ra, vấn đề chuyển thể truyện cổ tích trong vùng Châu Âu cũng bị ảnh hưởng bởi xu thế xã hội và địa chính trị, tác giả viết thêm: “Phim cổ tích không thoát khỏi xu hướng được thể hiện đầu tiên trong các phiên bản văn học thế kỷ mười tám và mười chín, với hình thức thích hợp được viết lại cho phù hợp với mô phạm giáo dục trẻ em. Yếu tố này có thể thấy rõ trong các câu chuyện cổ tích của Disney. Những câu chuyện này nhấn mạnh yếu tố về giới tính và giai cấp mang tính bảo thủ; xu hướng này được nhìn thấy rõ nhất trong các chế độ xã hội chủ nghĩa khác nhau, đáng chú ý nhất là Đông Đức và Nga. Tại cộng hòa Dân chủ Đức, Deutsche Film AG (Hãng phim Đức) đã thể hiện sự quan tâm đến phim cổ tích với khuynh hướng giáo dục chính trị xã hội chủ nghĩa.
Các đạo diễn nổi tiếng như Gottfried Kolditz đã tạo ra các phiên bản phim cổ tích Grimm gồm: Bạch Tuyết và bảy chú lùn (Schneewittchen und die sieben Zwerge) năm 1961 và Bà chúa tuyết (Frau Holle) năm 1963. Walter Beck, trong số những phim nổi tiếng của ông gồm có các phiên bản phim Vua Drosselbart (König Drosselbart) năm 1965 và Hoàng tử ếch (Froschkönig) năm 1987. Phim cổ tích của Liên Xô có rất nhiều, nhưng nhìn chung ít quan tâm tới việc truyền bá, tán dương những đức tính phổ quát như làm việc chăm chỉ nhưng một vài phim gắn thông điệp chính trị nặng nề.