phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH NGƢỜI VIỆT. Chƣơng 2: TÍN NGƢỠNG VÀ PHONG TỤC TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH NGƢỜI VIỆT. Chƣơng 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH NGƢỜI VIỆT. 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH NGƢỜI VIỆT 1.
Truyện cổ tích 1. Khái niệm truyện cổ tích Bởi có lịch sử sinh thành, tồn tại và phát triển lâu dài, có nội dung và hình thức nghệ thuật phong phú, đa dạng nên truyện cổ tích đƣợc xem là loại truyện khó định nghĩa nhất trong các thể loại truyện dân gian ngƣời Việt. Đến nay, đã có nhiều quan niệm đƣợc đƣa ra để định nghĩa cho thể loại tự sự dân gian này. Trong cuốn Cổ tích thần kì người Việt, tác giả Tăng Kim Ngân cho rằng: Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy do đó có những yếu tố phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và có ý nghĩa ma thuật.
Chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức của nhân dân về những xung đột đặc trưng cho các thời kì lịch sử khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn nhận thức của nhân dân đối với thực tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan điểm về công lí xã hội và ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại. Truyện cổ tích là những sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kì tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương pháp phản ánh hiện thực và ước mơ. 57] Khi nghiên cứu về truyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi đã đƣa ra nhận xét: Khi nói đến truyện cổ tích hay chuyện đời xƣa chúng ta đều có sẵn quan niệm cho rằng đó là một danh từ chung bao gồm hết thảy mọi chuyện do quần chúng vô danh sáng tác và lƣu truyền qua các thời đại.
Cũng vì thế, xác định nội dung từng loại truyện khác nhau để đi đến phân loại truyện cổ vẫn là công việc hứng 11 thú và luôn có ý nghĩa. Tuy nhiên công việc đó đến nay vẫn chƣa hoàn thành vẫn chƣa có một kiến giải nào khả dĩ gọi là thỏa đáng [2, tr 11, 12]. Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Tiến Tựu, khái niệm “truyện cổ tích” trƣớc đây dùng để chỉ chung toàn bộ truyện kể dân gian. Sau đó, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đã chia truyện cổ dân gian ngƣời Việt thành 5 loại chính (thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cƣời, truyện ngụ ngôn).
Nhờ vậy mà phạm vi các hiện tƣợng đƣợc gọi là “cổ tích” đã đƣợc thu hẹp lại. Tác giả cũng đã dựa vào lịch sử hình thành, phát triển và hình thức nội dung, nghệ thuật của truyện cổ tích để đƣa ra định nghĩa về thể loại này. Theo đó, “cổ tích là loại truyện dân gian có tính phổ biến, hình thành từ thời cổ đại, phát triển, tồn tại qua nhiều thời kì xã hội khác nhau, gắn chặt với quá trình tan rã của công xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ quyền, và phân hóa giai cấp trong xã hội. Nó hƣớng vào những vấn đề cơ bản, những số phận, những quan hệ và xung đột có tính chất riêng tƣ và phổ biến trong xã hội có giai cấp (ở Việt Nam chủ yếu là xã hội phong kiến).
Nó dùng một kiểu tƣởng tƣợng và hƣ cấu riêng (có thể gọi là “tƣởng tƣợng và hƣ cấu cổ tích”) kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù để phản ánh đời sống, và khát vọng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và tiêu khiển của nhân dân. Đây đƣợc coi là khái niệm tƣơng đối đầy đủ và sáng rõ về truyện cổ tích. Bởi khi tiếp cận khái niệm này, ngƣời ta có thể bao quát đƣợc những nội dung cơ bản và hình thức sáng tạo của thể loại tự sự dân gian này. Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian (2012), GS.
Vũ Anh Tuấn và nhóm tác giả cũng đã đƣa ra định nghĩa về truyện cổ tích: .là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kì ảo để thể hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như về công lí xã hội và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động [39, tr 116]. Cách hiểu này ngắn gọn, súc tích, lại có thể giúp ngƣời 12 đọc khái quát đƣợc hình thức sáng tạo cũng nhƣ nội dung cơ bản của truyện cổ tích. Từ việc kế thừa định nghĩa về truyện cổ tích của Giáo trình Văn học dân gian, kết hợp tham khảo khái niệm về thể loại này từ những công trình nghiên cứu khác, luận văn xin đƣợc đƣa ra cách hiểu về truyện cổ tích nhƣ sau: Truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian có cốt truyện hoàn chỉnh, thường kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật như: nhân vật bất hạnh, nhân vật có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh, nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là động vật. Trong truyện chứa các yếu tố hoang đường, kì ảo, đóng vai trò thúc đẩy tình tiết truyện và góp phần truyền tải tư tưởng của các tác giả dân gian.
Đặc trưng của truyện cổ tích Về đặc trƣng của truyện cổ tích, đã có nhiều nhà nghiên cứu sớm đƣa ra ý kiến nhằm định hƣớng nhận thức thể loại văn học dân gian này. Luận văn xin đƣợc trích dẫn một số nghiên cứu nhƣ sau: Trong cuốn Giáo trình văn học dân gian, GS. Vũ Anh Tuấn cùng các tác giả cho rằng truyện cổ tích có 3 đặc trƣng cơ bản: Một là: Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hƣ cấu, kì ảo. Hai là: Truyện cổ tích là câu chuyện đã hoàn tất trong quá khứ, đã trọn vẹn về cốt truyện, nhƣng đồng thời cũng mang tính mở đặc trƣng của văn bản văn học dân gian ở cấp độ chi tiết, mô típ.
Ba là: Truyện cổ tích mang tính giáo huấn cao, mỗi câu chuyện là một bài học về đạo đức, ứng xử, về lẽ công bằng, thƣởng phạt công minh. Truyện cổ tích là truyện kể hoàn toàn hư cấu và kì ảo Trong ngôn ngữ dân gian, “cổ tích” không chỉ có ý nghĩa định danh mà còn là sự định tính, chỉ cái gì đó xa xƣa không có thật. Một câu chuyện kết thúc đẹp đẽ, không giống với hiện thực đƣợc xem nhƣ là “truyện cổ tích”. Puskin đã nói: “Truyện cổ tích là bịa đặt nhưng trong mỗi câu chuyện bịa đặt đó có những bài học cho các cô cậu bé”.
Mỗi tình huống, mỗi cốt truyện đều không có thực , không diễn ra trên thực tế, nhƣng đó là sự hình dung, là cách nhìn khái quát của 13 nhân dân về hiện thực xã hội. Quan trọng nhất là mỗi câu chuyện đó gợi ra một câu chuyện cần nâng niu, chăm sóc; đƣa ra một bài học về luân lí, đạo đức; bày tỏ đƣợc khát vọng sống và tinh thần lạc quan của con ngƣời. Chính đặc điểm này đã giúp ngƣời đọc nhận diện truyện cổ tích khi nó đứng cạnh những thể loại văn học dân gian khác nhƣ thần thoại, truyền thuyết. Có thể thấy, ở thể loại thần thoại, ngƣời nghe và ngƣời kể hoàn toàn tin vào câu chuyện đƣợc kể/nghe, thậm chí niềm tin đó đƣợc biến thành những hình thức sinh hoạt tín ngƣỡng, thờ cúng của con ngƣời.
Với thể loại truyền thuyết, ngƣời kể vì tính mục đích nên có thể tin hoặc không tin vào câu chuyện đang kể, nhƣng phải tạo ra niềm tin ở ngƣời nghe về chiến công, kì tích của các anh hùng. Còn ở thể loại cổ tích, cả ngƣời kể và ngƣời nghe hoàn toàn không tin tƣởng vào câu chuyện đang diễn ra, ai cũng biết rằng, đó là sự sáng tạo của dân gian. Chính những sáng tạo đó đã tạo nên không khí huyền ảo, phi hiện thực xung quanh các sự kiện, nhân vật, khiến những câu chuyện cổ tích trở nên hấp dẫn. Truyện cổ tích là những truyện kể đã hoàn tất Truyện cổ tích là những câu chuyện về sự thƣởng - phạt công bằng theo quan điểm của nhân dân - “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.
Vì thế, mỗi truyện cổ tích đều đã hoàn thành về cốt truyện, tức là có sự kết thúc ấn định theo quan điểm của nhân dân: kết thúc có hậu, ngƣời có công đƣợc thƣởng, ngƣời có tội bị trừng phạt. Những cố gắng thay đổi về kết cấu cốt truyện cổ tích (ở những mô típ cơ bản và kết thúc) sẽ hoặc phá vỡ tính chỉnh thể hoặc làm biến đổi, méo mó chủ đề của tác phẩm [39]. Đặc trƣng này của truyện cổ tích có liên 14 quan chặt chẽ với đặc trƣng về tính hƣ cấu, kì ảo của thể loại này. Những chi tiết “mộng mơ”, kì ảo nhƣ chàng Thạch Sanh mồ côi lấy đƣợc công chúa, cóc hóa thành hoàng tử, cô thôn nữ lấy đƣợc nhà vua, con ngƣời có thể cƣỡi trên tấm thảm biết bay, lên trời kêu oan, xuống thủy cung.
đều nhằm dẫn đến một kết thúc có hậu. Tất cả những chi tiết tƣởng nhƣ hoang đƣờng này lại thể hiện một ƣớc mơ rất thực của con ngƣời: hạnh phúc và sự công bằng. Trong cuốn Văn hóa dân gian, những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu và thể loại, Chu Xuân Diên cũng đã khẳng định bản chất của truyện cổ tích là câu chuyện tƣởng tƣợng, kì ảo, đem đến cho ngƣời đọc thế giới của tất cả những điều vô lí. Vì thế “không nên bằng cách bình luận văn học và thậm chí cả bằng cách “sửa chữa” truyện cổ tích theo hƣớng hợp lí hóa cho phù hợp với tƣ duy logic của con ngƣời hiện nay mà làm mất đi cái vô lí ấy của truyện cổ tích.
Vấn đề là giải thích đƣợc cái vô lí ấy, phát hiện ra cái hợp lí của bản thân truyện cổ tích” [3, tr 334]. Có thể thấy, “cái vô lí” trong truyện cổ tích đƣợc xem nhƣ bản thân nó phải vậy, việc sửa chữa để tìm một văn bản cho phù hợp với thời đại của chúng ta hoàn toàn không cần thiết. Bởi rõ ràng, đứa trẻ nào cũng cảm thấy hả hê và tin tƣởng vào sự công bằng mà thế giới “ngày xửa ngày xƣa” mang lại cho chúng.