Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIEN 1. Nhân học văn hoá 1. Nhân học và nhân học văn hoá 1.
Nhân hoc Mục đích của nhân hoc (Anthropology) là nghiên cứu về con người cho nên các nhánh nghiên cứu của nhân học rất đa dạng. Nhân học bao gồm nhân học hình thể (nhân học sinh vật), nhân học ngôn ngữ, khảo cổ học, nhân học ứng dụng và nhân học văn hóa. Theo giáo trình Nhân học văn hóa Việt Nam tiên dé và phương pháp tiếp cận: “Nhân học là khoa học nghiên cứu về nguồn gốc và tiến hóa của con người. Việc nghiên cứu này có thể tiến hành từ các góc độ khác nhau như: Nghiên cứu về hình thé con người; nghiên cứu về sự phát triển các hoạt động lao động sản xuất; nghiên cứu về ngôn ngữ; nghiên cứu về các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội”.9] Vi thế, “Nhân hoc có thé được định nghĩa là một ngành học về bản chất con người, xã hội con người, và quá khứ con người (xem Greenwood và Stim 1977).
Đây là một ngành học có mục đích miêu tả thế nào là con người theo một nghĩa rộng nhất có thé có được. Vì các nhà nhân học quan tâm đến việc ghi giữ và giải thích những thay đổi này, quan điểm nhân học trong cốt lõi là một quan điểm tiễn hóa”.[43] Gắn với việc nghiên cứu văn chau, tín ngưỡng dân gian, chúng tôi thừa nhận cách hiểu Nhân học theo nghĩa rộng là khoa học nghiên cứu về về nguồn gốc và tiễn hóa của con người. Văn hóa Đối với nhân học như là ngành khoa học nghiên cứu về con người thì văn hoá là một chủ đề nghiên cứu quạn trọng. Các nhà nhân học sử dụng khái niệm nảy theo một nghĩa rộng đề cập đến tất cả các quan niệm được học hỏi và chia sẻ về sản phẩm của một xã hội.
Do đó, Edward Burnett Tylor, nhà nhân học đã đưa cách hiểu về văn hoá, trong đó bao gồm tất cả những trải nghiệm của con người như sau: “Văn hoá hay văn minh là một phức hệ bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khả năng và thói quen nào khác mà con người có được như là một thành viên của xã hội” (Tylor, 1871)” [28; tr. 17 UNESCO, trong Tuyên bố về những chính sách văn hóa (1982) đưa ra quan niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thé coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chat, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của cả xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sông, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng; Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dan thân một cách đạo lí.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thé hiện, tự ý thức được ban thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội của bản thân”.23,24] Giáo trình Nhân hoc đại cương trích dẫn và nhắn mạnh: “Tuy nhiên, đa s6 các nhà nhân học ngày nay hiểu khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng theo đó văn hoá là một lối sống (way of life) được chia sẻ, bao gồm các giá trị, niềm tin và các quy chuẩn được lan truyền trong một xã hội cụ thể từ thế hệ này sang thế hệ khác (Scupin, Raymond và Decorse, Christopher R.164] Từ quan điểm tiếp cận văn hoa, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là “tổng thé các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” còn hiểu theo nghĩa hẹp thì: “văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần”.10] Đề vận dụng khái niệm văn hoá đối với đề tài này, chúng tôi thừa nhận: “Tuy nhiên, giới nghiên cứu hiện nay tương đối thống nhất rằng văn hoá là những cách thức ứng xử, phong tục, tập quán, tri thức do con người tạo ra thoả mạn ba điều kiện: (1) là những thứ mà cá nhân học được khi sống trong một cộng đồng người, thay là vì những hành vi mang tính chất bản năng, (2) là những điều được đa số những thành viên trong cộng động và xã hội chấp nhận, thay là vì nhu cầu hay ý muốn của một cá nhân đơn lẻ, và (3) có sức sống tương đối lâu dài, được duy trì ít nhất qua một thế hệ, thay vì một xu thế ngắn ngủi và chóng tàn”. Nhân học văn hoa Từ cách hiểu như trên, từ thực tiễn cuộc sống, nhiều môn học liên quan đến Nhân học đã hình thành, trong đó, có Nhân học văn hóa. “Nhân học văn hoá (cultural anthropology) là ngành nghiên cứu văn hoá dưới nhiều khía cạnh khác nhau để tìm hiểu con người và những biến đổi về văn hoá trong đời sống con người, nghiên cứu văn hoá những tộc người cụ thé. Nhân học văn hoá xác định con người là chủ thé văn hoá, là đối tượng chính dé nghiên cứu”.164-165] 18 “Văn hoá là sự thích nghi (adaptation) với môi trường tự nhiên: nhân học văn hoá tìm hiểu con người thông qua việc khảo sát cụ thê năng lực thích ứng của con người và sản phâm của sự thích ứng ấy, tức là văn hoá và tính đa dạng của nó, đồng thời rút ra được tính phổ biến nằm sâu trong gốc rễ của tính đa dang ấy.
Như vậy văn hoá là kết quả của sự phát triển hình thành nên một thiết chế thích ứng với môi trường thiên nhiên của “loài động vật đặc biệt” này. Có lẽ đây là điểm mau chốt nhất của nhân học thuộc trường phái chức năng của Malinowski, trong đó văn hoá được coi là thiết chế nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu về mặt sinh vật của con người”. “Văn hoá là sự thích ứng với môi trường xã hội: Văn hoá là thiết chế thoả mãn tính thiết yếu sinh vật của con người nhưng văn hoá chỉ được sáng tạo ra nhờ “sức mạnh tô chức” của tập thé và tổ chức tập thê xã hội này là thiết chế bảo trợ con người. Đây cũng là điểm liên quan mật thiết với khái niệm văn hoá trong nhân học theo thuyết co cấu chức năng của Radcliffe - Brown, vì khái niệm này dẫn đến việc coi van dé quan trọng nhất của nhân học là nghiên cứu t6 chức xã hội của con người” [8; tr.
Vậy nên: “Nhân học văn hóa là khoa học nghiên cứu về con người - cộng đồng người từ góc nhìn văn hóa. Nói cách khác, nhân học văn hóa là khoa học nghiên cứu về văn hóa của các dân tộc. Nhân học văn hóa sử dụng khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm các giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo ra”. Hướng tiếp cận nhân học văn hóa khi nghiên cứu văn chau Có thể thấy, hướng tiếp cận nhân học văn hóa khi tìm hiểu các hoạt động liên quan đến văn hóa tín ngưỡng bao giờ cũng chú ý tới các yếu t6 nôi trội (spceciafic domains) trong các hoạt động văn hóa tín ngưỡng của con người.
Từ đó, mô tả, phân tích và chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa các vùng văn hóa, các nền văn hóa trên thế giới. Từ việc nghiên cứu, mô tả đặc điểm hình dạng tự nhiên của con người, nhân học đã tiếp tục nghiên cứu, mô tả, phân tích dé làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong mỗi nền văn hóa, xã hội nhằm mục đích hiểu biết tường tận về con người. Hai đặc trưng cơ bản của nhân học văn hóa cần phải chú ý trong quá trình nghiên cứu con người chính là tính toàn diện (holistic) và tính đối sánh (comparative). Tính toàn diện đảm bảo không ngừng mở rộng diện nghiên cứu còn tính đối sánh đảm bảo phải chỉ ra đặc điểm tương đồng và khác biệt của mỗi xã hội trước khi khái quát hóa 19 những đặc điểm nỗi bật thuộc về nhân loại.
Nhân hoc văn hóa là một môn liên ngành tập hợp dữ liệu thuộc nhiều ngành như chính trị, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật. dé tìm hiểu về con người với tư cách là chủ thé trong sang tao văn hóa, tô chức đời sống xã hội. Trong quá trình giải mã văn chầu xuất hiện trong diễn xướng nghi lễ hầu đồng ở Phủ Giầy, chúng tôi hình dung mình tiếp cận văn bản dưới góc độ nhân học văn hóa thông qua các thao tác nghiên cứu được gợi dẫn từ công trình xuất bản năm 1973 của Clifford Geetz Diễn giải về văn hóa (The interpretation of Cultures). Đó là bằng cách mô tả, phân tích một cách chỉ tiết từng tập tục, nghi lễ, huyền thoại xuất hiện trong các văn chau.
Vận dụng thao tác so sánh, chúng tôi tiễn hành so sánh văn bản chữ Nôm xuất hiện trước 1945 đã được phiên thành chữ quốc ngữ với văn bản hiện tồn ghi bang chữ quốc ngữ lưu hành ở Phủ Giây. Văn hóa, theo Clifford Geetz là “trật tự hệ thống biểu tượng và nghĩa” (ordered system of meaning and of symbols) va “Van hóa của mỗi dân tộc là một tập hợp các văn ban” (the culture of a people is an ensemble of texts)”. Cách tiếp cận nhân học văn hoá do đó, khác với các cách tiếp cận khác ở chỗ tiếp cận hệ thống văn bản van chau từ góc độ nhân học văn hoá sẽ được người nghiên cứu vận dụng triệt dé các phương pháp nghiên cứu, các quan điểm nghiên cứu được các nhà nhân học đúc rút từ các công trình nghiên cứu lý thuyết nhân học văn hoá để tìm hiểu, lý giải cụ thể về đặc điểm riêng, nét độc đáo không phải của hệ thống văn chầu mà của việc vận dụng hệ thống văn chau trong việc thực hành nghi lễ hầu đồng diễn ra tại Phủ Giầy. Do là việc nghiên cứu biểu hiện niềm tin văn hoá tâm linh của người dân địa phương trong một thời gian dài, có tinh lặp lại, tính ôn định.
Chúng tôi đã khảo sát việc thực hành diễn xướng hát chau văn trong nghi lễ hầu đồng, trong hát thi, hát thờ, trong các budi tập luyện của các cung văn và trong sinh hoạt diễn ra thường xuyên của Câu lạc bộ hát chầu văn xã Kim Thái.