mở đầu, nối câu, kết câu và kết đoạn, đồng thời cũng là loại nhạc cụ đệm cho múa, và đôi khi còn là đạo cụ trong múa" [69,tr. Lục Văn Pảo trong công trình nghiên cứu về Pụt Tày đã có những so sánh giữa Then và Pụt. Đề cập đến Then, tác giả cho rằng nhạc cụ dùng trong Then là: "Then đàn tính một dây, hai dây, ba dây để đệm và hƣớng dẫn âm đệm. Nhƣ vậy có thể nhận thấy rằng: Các công trình nghiên cứu đã đánh giá rất cao yếu tố âm nhạc trong câu hát, điệu nhạc trong đời sống văn hóa ngƣời Tày (Nùng) trong đó có tính tẩu.
Nguyễn Thị Yên trong nghiên cứu về Then Tày khi đề cập đến nghi lễ Then cho biết: Điểm khác biệt của nghi thức Then với Tào, Pụt, Thầy phù thủy là "làm Then" phải dùng âm nhạc của tính tẩu để thực hiện. Thầy Then sẽ tiếp xúc với thế giới siêu nhiên thông qua việc đàn, hát, tụng niệm kết hợp với các phép thuật để điều khiển hành trình dâng lễ và trở về. Vì vậy, khi "làm Then", thầy Then không thể thiếu nhạc cụ hỗ trợ là cây đàn (tức là sử dụng tính tẩu) và chùm xóc. Đối với các tộc ngƣời Tày, ngƣời Thái (Thái Trắng) [103] và một bộ phần ngƣời Nùng ở Lạng Sơn [133] thì Then đã đƣợc coi là một nghi lễ tín ngƣỡng tiêu biểu gắn với tính tẩu.
Tác giả đã mô tả cách các thầy Then nam Quảng Uyên (Cao Bằng) sử dụng tính tẩu trong nghi lễ Then cấp sắc với nhận xét: "So với các hình thức biểu diễn khác thì có lẽ song tấu hay hơn cả vì hai thầy thạo nghề, đàn hay hát giỏi, chất lƣợng hòa tấu cao hơn so với nhóm đông ngƣời" [129,tr.102] vì khi "các thầy vừa đánh đàn vừa hát cùng một lúc theo kiểu hỗn tấu nên rất khó nghe" [129,tr.111] Cũng trong sách Then Tày, tác giả đã chỉ ra sự hình thành và biến đổi của cây đàn tính, nghề làm Then làm bốn loại: Cây đàn tính ra đời do nhu cầu giải trí; cây đàn tính cho các bà Pụt hành nghề tín ngƣỡng; cây đàn tính phục vụ cho nghi lễ cung đình; cây đàn tính là công cụ làm nghề thầy cúng [129,tr. Khi phân tích về sự hình thành và biến đổi của dòng Then nữ Cao Bằng tác giả có lý giải nhƣ sau: "Có thể lý giải vai trò của Bế Văn Phụng với sự ra đời của dòng Then nữ ở Cao Bằng nhƣ sau: trƣớc khi vào cung, Then tồn tại trong dân gian dƣới 11 luan an hình thức Sliên – Pụt mang nhiều yếu tố bản địa. Khi vào cung, dựa trên bài bản của Pụt mà các trí thức kiêm nghệ sĩ, nhà thơ và thầy cúng nhƣ Bế Văn Phụng đã bổ sung cho phù hợp với nhu cầu thƣởng thức cũng nhƣ tâm lý của tầng lớp vua quan. Chính vì thế mà Then đƣợc đổi mới và cách tân về phần văn bản lời hát: từ ngữ trau chuốt, hành văn lƣu loát giàu hình ảnh hơn, nhiều tích cổ bằng từ Hán Việt có pha trộn tiếng Kinh.
Xã hội trong Then là xã hội đã có sự phân chia đẳng cấp khá phù hợp với chế độ vua quan phong kiến lúc bấy giờ. Nghệ thuật biểu diễn cũng đƣợc cải biên, các điệu múa mang tính chất cung đình nhƣ múa chầu có lẽ xuất hiện trong thời kỳ này. Lúc này cây đàn tính trở thành nhạc cụ chính, còn chùm xóc chỉ có tác dụng phụ họa, sử dụng bằng cách móc vào ngón chân cái làm nhạc đệm. Đây cũng là thời kỳ Đạo giáo dân gian ngƣời Kinh xâm nhập vào Then thể hiện qua hệ thống công tƣớng của thầy phù thủy và qua hiện tƣợng nhập đồng.
Tác giả Trần Hoàng Tiến trong bài viết “Tiệm cận tín ngƣỡng ngƣời Tày qua nghi lễ Hát Then”, cho rằng: "Đàn tính sử dụng trong Then là "nguồn khải lực để Then thoát hồn, thông quan với các loại thần linh" [110]. Có thể nhận thấy việc phản ánh các thông tin chính của Then vẫn là: "xác định thực trạng về nghệ thuật Then" [110] và "chỉ ra đƣợc sự khác nhau giữa các điệu Then" [110] dựa vào âm nhạc. Tuy nhiên, phần đa các tác giả chỉ dựa vào nội dung của lời ca của điệu Then để khẳng định. Luận văn Thạc sĩ về Văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên của Dƣơng Quốc Huy cho biết: “Hát Then, đàn tính là linh hồn cho các lễ nghi, hội hè.
Tiếng đàn tính vang vọng, lời Then nồng ấm cùng yếu tố thiêng là món ăn tinh thần hơn tất thảy các món ăn tinh thần khác” [38,tr. Theo tác giả: “Then là một loại hình nghi lễ biểu diễn mang đậm yếu tố sân khấu; Ông Then là ngƣời thuộc nhiều đƣờng Then và có căn Then, mƣợn lời ca, tiếng đàn cùng chùm xóc nhạc dẫn đƣờng đến với các đấng siêu nhiên để thỉnh cầu hay cảm tạ. Then cũng đƣợc hiểu là có "nhiều dạng", mỗi dạng lại có nhiều điệu hát khác nhau. Nhạc dùng cho nhạc cụ của Then trong các nghi lễ, các khúc Then đƣợc tạo nên một cách có hệ thống, bài bản theo trình tự nội dung trình diễn.
Họ tin 12 luan an khi tiếng đàn tính cùng lời Then cất lên là lúc các ông Then đang bắt đầu cuộc hành trình với từng đƣờng Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời” [38,tr. Nguyễn Thị Tuyết Nhung trong Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then của người Tày ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn cho rằng: “Âm nhạc của cây đàn tính dùng để đệm cho múa hoặc phối hợp với chùm xóc nhạc biểu đạt hành trình của âm binh…" [72]. Trong nghiên cứu này tác giả đề cập đến tính tẩu với vai trò là một thành tố trong "Nghệ thuật âm nhạc" và là một đạo cụ múa trong Then. Tác giả cho biết: "Nếu trong nghi lễ Then lời Then (thơ, tụng, niệm…) có vai trò dẫn dắt nội dung nghi lễ thì âm nhạc có vai trò bổ trợ và phụ họa với lời Then để chỉ đƣờng dẫn lối cho ngƣời xem biết đƣợc từng hoạt cảnh, chƣơng đoạn đang diễn ra trong một cuộc Then”.
Có thể thấy: Trong nghiên cứu này, tác giả đã có cái nhìn tổng quát nghệ thuật diễn xƣớng Then trong xu thế phát triển chung của xã hội. Đối với "Nghệ thuật âm nhạc" [72]. Có thể thấy: Trong các nghiên cứu về văn hóa, tính tẩu của ngƣời Tày thƣờng đƣợc nhắc đến cùng Then, với vai trò là một nhạc cụ không thể thiếu khi thực hành nghi lễ Then. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ đề cập qua chứ chƣa có đƣợc những nghiên cứu cụ thể về vai trò của tính tẩu trong đời sống của họ.
Những nghiên cứu về đặc điểm âm nhạc của tính tẩu Trong những nghiên cứu liên quan đến tính tẩu ngƣời Tày có bài viết của Đỗ Minh “Về phần âm nhạc trong Then Việt Bắc” đã trình bày khá chi tiết về đặc điểm âm nhạc trong nghi lễ Then; đặt Then trong môi trƣờng diễn xƣớng Then nói chung; đƣa ra một cái nhìn rõ nét hơn về tính tẩu trong nghi lễ Then thông qua những nhận định về Then [69], đó là: (1) "Then là loại hình âm nhạc thính phòng" [69,tr.159]; (2) "Âm nhạc trong Then đƣợc diễn tả biểu hiện nội dung văn học có cốt truyện dài ngắn khác nhau. Chính vì vậy mà kết cấu âm nhạc ở đây khác với dân ca" [69,tr.160]; (3) "Âm nhạc trong Then đã thu hút khá nhiều chất liệu trong dân ca [69,tr.160]; 13 luan an (4) "Âm nhạc trong Then cũng là dân ca, nó đƣợc thay đổi và biến dạng theo luật của vần thơ, ngôn ngữ và nội dung văn học" [69,tr.161]; (5) "Âm nhạc trong Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm: hát, múa, đàn, lời thơ,. không thể tách rời một yếu tố nào ra mà đánh giá đƣợc toàn diện đặc tính nghệ thuật của Hát Then" [69,tr.161-162]; (6) "Then là loại hình nghệ thuật dân gian nhƣng mang đậm màu sắc tôn giáo nghi lễ. Then ở mỗi địa phƣơng lại có màu sắc khác nhau đã tạo cho âm nhạc trong Then có đƣợc sự giàu có tƣơng đối về màu sắc, khúc thức và tiết tấu [69,tr.162-163]; (7) Then đƣợc tập trung ở các nghệ nhân mang tính chuyên nghiệp, lành nghề" [69,tr.
Đỗ Minh cũng cho biết: “Hát Then là loại hình nghệ thuật diễn xƣớng nghi lễ tập trung hầu hết ở những nghệ nhân chuyên nghiệp lành nghề do nghề nối nghề, tiếng đàn, tiếng hát điêu luyện, đạt tới trình độ nghệ thuật cao trên cơ sở giữ gìn bí quyết nhà nghề. Ngoài các nghệ nhân thì nhân dân cũng có nhiều ngƣời biết Hát Then và sử dụng đàn tính đạt tới trình độ gần nhƣ chuyên nghiệp” [69,tr. Ông cũng đã đƣa ra những dẫn chứng cụ thể về thực hành Then ở các địa phƣơng thuộc khu vực Việt Bắc, những nhận định về tính tẩu và so sánh sự giống và khác nhau của cây đàn ở mỗi địa phƣơng. Theo Đỗ Minh: “Tính tẩu - một cây đàn độc đáo trong nghệ thuật Hát Then là nhạc cụ chính đệm cho Hát Then, độc tấu nối các câu, các chƣơng – đoạn và là đạo cụ để múa”[69,tr,164-165].
Kỹ thuật đánh đàn, gảy đàn, tƣ thế đánh đàn;. đƣợc tác giả mô tả chi tiết, sinh động, phong phú với nhận định: “nhạc Then đƣợc sinh ra từ các nghệ nhân có tài hoa biết khai thác và vận dụng từ cây đàn [69,tr. Đồng thời, ông đƣa ra ý kiến về khả năng phát triển "tiếng đàn, điệu Hát Then của dân tộc Tày – Nùng và các dân tộc anh em khác" [69,tr. Tác giả Nông Thị Nhình trong công trình nghiên cứu Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày –Nùng – Dao Lạng Sơn, cho biết: “Cây đàn tính của ngƣời Tày là "Tính Then", là nhạc cụ họ dây, chi gẩy.
Từ góc độ âm nhạc, tác giả đã chỉ ra: “Tính Then đƣợc dùng để đánh nhạc đệm trong các nghi lễ Then. Các ông bà Then vừa hát vừa đàn đệm cho mình,. nhiều đoạn "Tính Then" trình diễn nhƣ một nhạc cụ độc tấu" 14 luan an [66,tr. Tác giả đã giới thiệu cấu tạo cây đàn và diễn giải một số cách gọi của ngƣời Tày về cây đàn – cây tính tẩu” [66,tr.
Đặc biệt với việc đặt tên cho nhạc cụ là “Tính Then” (đàn then), tác giả đã khẳng định vị trí của tính tẩu trong nghi lễ Then là rất quan trọng. Trong nghiên cứu Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày – Nùng, Nông Thị Nhình đã chia âm nhạc Then ra nhiều hình thức, làn điệu khác nhau. Tác giả cho rằng: "Then là loại diễn xƣớng thƣờng một ngƣời hát với cây tính Then và chùm xóc nhạc" [67,tr. Đặc biệt, nhạc cụ trong Then đƣợc tác giả gọi là "Tính Then" [67,tr.126], là nhạc cụ gắn liền với nghi lễ Then.