Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9.40) với đề tài "Tính tẩu trong đời sống văn hóa người Tày Tuyên Quang" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Yên, bảo vệ năm 2021 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của cây tính tẩu trong đời sống tâm linh và diễn xướng dân gian của tộc người Tày. Trong truyền thống, tính tẩu là nhạc cụ gắn liền với nghi lễ Then; thầy Then sử dụng tiếng tính tẩu cùng lời ca và chùm xóc để mô tả hành trình dẫn đoàn âm binh dâng lễ vật lên mường Trời. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chủ trương bảo tồn chọn lọc và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, tính tẩu được tách khỏi không gian nghi lễ Then (vốn từng bị xem là hoạt động mê tín dị đoan) để trở thành nhạc cụ phục vụ phong trào văn nghệ quần chúng với các nội dung ca ngợi đời sống mới. Sau thời kỳ Đổi mới (1986), cùng với chính sách tự do tín ngưỡng và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nghi lễ Then dần được phục hồi. Năm 2013, thực hành nghi lễ Then và tính tẩu của người Tày được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đến tháng 12 năm 2019, thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái cùng cây tính tẩu chính thức được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghi lễ Then hoặc âm nhạc dân gian vùng Việt Bắc, phần lớn các khảo cứu tập trung tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn hoặc Thái Nguyên. Cho đến thời điểm tác giả triển khai luận án, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vai trò, vị thế và sự biến đổi chức năng của cây tính tẩu trên cả hai phương diện: đời sống tín ngưỡng và đời sống văn nghệ tại một địa bàn cụ thể là tỉnh Tuyên Quang.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ vai trò, vị trí của cây tính tẩu trong đời sống văn hóa tín ngưỡng cũng như sự biến đổi chức năng của nó dưới tác động của các chủ trương, chính sách văn hóa qua các thời kỳ lịch sử; từ đó bàn luận về vị thế của tính tẩu trong đời sống văn hóa của người Tày Tuyên Quang theo tiến trình lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định gồm 3 nội dung cụ thể:
- Tìm hiểu, phân tích vai trò của cây tính tẩu trong văn hóa tín ngưỡng và trong nghi lễ Then của người Tày nói chung, người Tày Tuyên Quang nói riêng ở các phương diện: biểu tượng văn hóa tín ngưỡng, vật thiêng của thầy Then và phương tiện chuyển tải âm nhạc nghi lễ; chỉ ra các nguyên nhân tác động tới sự biến đổi vị thế của tính tẩu trong nghi lễ Then hiện nay.
- Phân tích bối cảnh hình thành loại hình Then văn nghệ của người Tày Tuyên Quang trước và sau Đổi mới; xác định vị thế của tính tẩu trong đời sống văn nghệ quần chúng qua các khía cạnh: nghệ nhân, chế tác, kỹ thuật sử dụng, truyền dạy phổ biến, sưu tầm và sáng tác.
- Thảo luận những vấn đề đương đại của cây tính tẩu, đặc biệt là bài toán bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn hậu vinh danh UNESCO khi thực hành nghi lễ Then truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.
Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm của luận án bao gồm:
- Việc nhà nước từng hạn chế thực hành nghi lễ Then và chủ trương tách tính tẩu, hát Then ra khỏi không gian tín ngưỡng đã tác động như thế nào đến đời sống văn hóa (cả tín ngưỡng và văn nghệ) của người Tày Tuyên Quang qua các thời kỳ?
- Trong quá trình tách khỏi nghi lễ Then, tính tẩu đã được cộng đồng tiếp nhận, bảo tồn, phát huy ra sao và đóng vai trò gì trong việc kiến tạo bản sắc văn hóa tộc người trong giai đoạn hiện nay?
Đối tượng nghiên cứu là cây tính tẩu của người Tày Tuyên Quang trong đời sống văn hóa (bao gồm đời sống văn hóa tín ngưỡng và đời sống văn hóa văn nghệ), xem xét qua mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng, kỹ thuật diễn tấu, quy trình chế tác, đặc điểm âm nhạc cũng như phương thức bảo tồn và phát huy.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn tỉnh Tuyên Quang, tập trung vào 4 điểm nghiên cứu chính: (1) Câu lạc bộ Hát Then Thành Tuyên thuộc Trung tâm Văn hóa tỉnh tại thành phố Tuyên Quang; (2) Xã Tân An, huyện Chiêm Hóa (địa bàn tiên phong trong phong trào truyền dạy hát Then và tính tẩu); (3) Xã Lăng Can, huyện Lâm Bình (khu vực có lực lượng nghệ nhân trẻ); (4) Xã Năng Khả, huyện Na Hang (nơi có các thầy Then kiêm nghệ nhân Then mới). Ngoài ra, tác giả mở rộng khảo sát so sánh tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên (Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc) và Hà Giang.
- Thời gian: Khảo cứu diễn trình lịch sử của tính tẩu qua các thời kỳ, tập trung vào hai giai đoạn mốc: trước Đổi mới (từ sau năm 1945 đến trước năm 1986) và từ sau Đổi mới (1986) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2021).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 4 nhóm hướng chính:
Nhóm nghiên cứu về biến đổi âm nhạc nghi lễ trong đời sống văn hóa tộc người: Tác giả điểm lại công trình của Nguyễn Thị Yên (nghiên cứu về việc sân khấu hóa nghi lễ hầu đồng và khai thác hát văn phục vụ kháng chiến trước năm 1975); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Thương Thương (2012) về Hát Nhuôn của người Thái ở Mường Nọc (Nghệ An); luận án tiến sĩ của Bùi Thị Mai Lan (2017) về Sình ca của người Cao Lan ở Phú Thọ; luận văn của Trần Bạch Dương (2011) về Xắc bùa của người Mường ở Mường Vang (Hòa Bình); luận văn của Nguyễn Tuệ Chi (2011) về nghệ thuật gõ Đuống của người Mường tại Phú Thọ. Các công trình này chỉ ra quy luật chung: dưới tác động của lịch sử và chính sách xã hội, các loại hình diễn xướng nghi lễ dân gian dần chuyển biến từ chức năng phụng sự tâm linh sang chức năng sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thế tục, phục vụ cố kết cộng đồng và biểu diễn sân khấu.
Nhóm nghiên cứu đề cập đến tính tẩu trong nghi lễ Then: Về nguồn gốc, Nguyễn Thụy Loan đưa ra giả thuyết tính tẩu có thể xuất hiện từ thời đại Hùng Vương (thế kỷ III và thế kỷ II trước Công nguyên) dựa trên những mảnh dây đồng nhỏ khai quật được và hình khắc nhạc cụ dây có cần trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Công trình "Bước đầu nghiên cứu về Then Việt Bắc" (1974) tập hợp các bài viết của Dương Kim Bội, Nông Văn Hoàn, Đỗ Minh, Lạc Dương, Vi Quốc Bảo, Lường Văn Thắng, Nông Minh Châu. Dương Kim Bội khẳng định Then và đàn tính là tiếng nói nghệ thuật gắn liền với tâm thức người Tày - Nùng. Đỗ Minh xác định tính tẩu là nhạc cụ chủ đạo dùng để đệm hát, độc tấu các đoạn mở đầu, nối câu, kết đoạn và làm đạo cụ múa. Lục Văn Pảo so sánh Then với Pụt, chỉ ra Then sử dụng đàn tính từ một đến ba dây để dẫn âm đệm. Nguyễn Thị Yên trong chuyên khảo "Then Tày" phân tích vai trò của tính tẩu như công cụ giao tiếp siêu nhiên, phân biệt Then với Tào, Pụt và Phù thủy; đồng thời mô tả nghệ thuật song tấu đàn tính của các thầy Then nam tại Quảng Uyên (Cao Bằng) và vai trò của Bế Văn Phụng trong việc hình thành dòng Then nữ cung đình. Trần Hoàng Tiến nhận định đàn tính là nguồn khải lực để Then thoát hồn, thông quan với thần linh. Dương Quốc Huy khảo sát Then đàn tính tại Định Hóa (Thái Nguyên); Nguyễn Thị Tuyết Nhung nghiên cứu nghệ thuật trình diễn Then Tày tại Bắc Sơn (Lạng Sơn).
Nhóm nghiên cứu về đặc điểm âm nhạc của tính tẩu: Đỗ Minh đúc kết 7 đặc điểm của âm nhạc Then (tính chất thính phòng, kết cấu biểu đạt nội dung văn học có cốt truyện, tiếp thu chất liệu dân ca, biến đổi theo luật thơ, tính chất nghệ thuật tổng hợp đàn - hát - múa, màu sắc tôn giáo nghi lễ theo từng địa phương, và sự tập trung ở các nghệ nhân lành nghề). Nông Thị Nhình gọi nhạc cụ này là "Tính Then" thuộc họ dây, chi gảy, chỉ ra 4 hình thức đệm: đệm dạo đầu, đệm lưu không, đệm cho hát và đệm cho múa. Nhạc sĩ Hoàng Tuấn trong "Âm nhạc Tày" phân tích cấu trúc đàn tính 2 dây và 3 dây, quy tắc đánh lưu không nối đoạn và vai trò đệm cho điệu múa Sluông. Nguyễn Văn Thiều (2011) nghiên cứu âm nhạc đàn tính 2 dây trong lễ Then đầy tháng tại Bạch Thông (Bắc Kạn).
Nhóm nghiên cứu về Then và tính tẩu tại Tuyên Quang: Các tài liệu ghi nhận hoạt động của Nghệ nhân Nhân dân Hà Thuấn trong việc truyền dạy hát Then và chế tác tính tẩu; các nghệ nhân Thàm Ngọc Kiến, Hà Ngọc Cao, Nguyễn Văn Bảng cung cấp tư liệu về sự phát triển của Then tính trên nền tảng Then quạt cổ. Các ấn phẩm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Viện Âm nhạc ghi nhận số lượng 50 câu lạc bộ Then - Tính trên địa bàn. Nguyễn Ngọc Thanh và Ma Thị Thanh Minh (cuốn "Hát Then, Cọi") khảo sát các làn điệu Then tại Chiêm Hóa.
Các quan điểm lý thuyết về quá trình chuyển đổi di sản: Luận án phân tích sự đối thoại giữa hai luồng quan điểm:
- Oscar Salemink nhận định hiện tượng "văn nghệ hóa" di sản là một quá trình "phi bối cảnh hóa", khi các yếu tố âm nhạc, vũ đạo bị tách rời khỏi không gian thực hành nghi lễ nguyên hợp để đưa lên sân khấu, dẫn đến nguy cơ làm mai một bản chất văn hóa truyền thống.
- Đặng Hoành Loan cho rằng việc tách Hát Then - Đàn Tính ra khỏi nghi lễ Then đã hình thành một dạng thức sinh hoạt liên hoan nghệ thuật cộng đồng mới, đáp ứng nhu cầu sáng tạo thẩm mỹ của người dân hiện đại mà không làm mất đi tín ngưỡng Then vốn có trong tâm thức đồng bào.
- Nguyễn Thị Yên phân định rõ diễn xướng Then nghi lễ (cội nguồn, gắn với tính thiêng, căn số, truyền nghề khắt khe) và diễn xướng Then văn nghệ (nghệ thuật đại chúng, sân khấu hóa), khẳng định bảo tồn Then nghi lễ gặp nhiều thách thức hơn.
Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, luận án định vị là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận cây tính tẩu dưới góc độ Văn hóa học tại địa bàn Tuyên Quang, xem xét toàn diện tính tẩu trong thế cân bằng động giữa đời sống tín ngưỡng và đời sống văn nghệ, phân tích vai trò chủ thể của nghệ nhân và đề xuất hướng bảo tồn di sản hậu vinh danh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ:
- Khái niệm "đời sống văn hóa": Luận án tiếp thu quan điểm của Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng và đặc biệt là khung phân tích cấu trúc đời sống văn hóa của Trần Đức Ngôn. Đời sống văn hóa được định nghĩa là kết quả tương tác giữa con người với môi trường văn hóa, gồm 3 nhóm hoạt động cốt lõi: tiếp nhận - hưởng thụ văn hóa; thực hành - truyền bá văn hóa; sáng tạo văn hóa. Từ khung lý thuyết này, tác giả phân định hai phân hệ cấu thành: "đời sống văn hóa tín ngưỡng" (gắn với thế giới tâm linh, cái thiêng, phục vụ mục đích tế lễ) và "đời sống văn hóa văn nghệ" (thuộc văn hóa giải trí thế tục, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật đại chúng).
- Khái niệm "Then văn nghệ" / "Then mới": Xuất hiện sau năm 1945, là dạng thức diễn xướng sân khấu hóa khai thác chất liệu âm nhạc, làn điệu từ Then nghi lễ cổ nhưng đặt lời mới theo thể thơ 7 chữ, bổ sung các từ ngữ đương đại (như Cách mạng, Bác Hồ, Tổ quốc, máy cày, sản xuất) và sử dụng tính tẩu làm nhạc cụ đệm chính.
- Khái niệm "diễn xướng" và "diễn xướng nghi lễ Then": Dựa trên lý thuyết diễn xướng của Richard Bauman (diễn xướng là quá trình chuyển đổi ký hiệu học - intersemiotic, mang tính sáng tạo của cá nhân tại chỗ) và quan niệm của Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Thị Yên. Diễn xướng nghi lễ Then là nghệ thuật nguyên hợp, tích hợp văn học, âm nhạc, vũ đạo, mỹ thuật tạo hình và hành vi tế lễ trong môi trường tâm linh.
- Cơ sở đường lối, chính sách văn hóa: Luận án tham chiếu Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 (nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng); Chính cương Đại hội II Đảng Lao động Việt Nam (1951) về phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa dân tộc thiểu số; Thư của Trung ương Đảng gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III (1962); và chủ trương năm 1974 của Ban Thường vụ Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc về việc sưu tầm, cải tiến nghệ thuật Then ("tước bỏ mặt tiêu cực, giữ gìn phát huy cái tinh hoa").
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Văn hóa học, Dân tộc học (Nhân học văn hóa) và Âm nhạc học.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả trực tiếp thực hiện các đợt điền dã tại các huyện Chiêm Hóa, Lâm Bình, Na Hang và thành phố Tuyên Quang. Các kỹ thuật thu thập dữ liệu gồm quan sát tham dự các nghi lễ Then thực tế (tham dự lễ Then Cốm mới của nhà Then quạt Ma Thị Như tại Tân An, Chiêm Hóa; dự lễ Lẩu Then cấp sắc của thầy Phù thủy Hà Công Tụ tại Hòa An, Chiêm Hóa; đối sánh với lễ Then cấp sắc của Then Liễu Thị Thơ tại Lạng Sơn). Phỏng vấn sâu các nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú, thầy Then và nghệ nhân văn nghệ tiêu biểu như: Hà Thuấn, Thàm Ngọc Kiến, Nguyễn Văn Bảng, Lương Long Vân, Hà Ngọc Cao, Hà Phúc Tự, Hoàng Văn Sơn.
- Phương pháp âm nhạc học: Căn cứ vào thang âm, điệu thức, tiết luật và kỹ thuật diễn tấu của tính tẩu để phân tích so sánh vai trò âm nhạc giữa Then nghi lễ và Then văn nghệ, chỉ ra sự dịch chuyển từ cấu trúc ngẫu hứng, linh hoạt sang hình thức nhịp điệu quy chuẩn hóa theo nhịp phách cố định.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu thứ cấp kết hợp khảo cứu dữ liệu truyền thông số trên các nền tảng mạng xã hội (Facebook, YouTube) liên quan đến các câu lạc bộ đàn tính và nghệ nhân Then đương đại.
Nguồn dữ liệu của luận án:
- Dữ liệu sơ cấp: Ghi chép điền dã, băng ghi âm giai điệu, tư liệu hình ảnh, biên bản phỏng vấn sâu nghệ nhân và thầy cúng tại Tuyên Quang từ năm 2011 đến năm 2021; số liệu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.
- Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê dân số tỉnh Tuyên Quang tháng 4 năm 2019; báo cáo kiểm kê di sản của Viện Âm nhạc Quốc gia; các văn bản thư tịch cổ và tài liệu khảo cổ học năm 2009 của Trình Năng Chung (Viện Khảo cổ học) về khu mộ táng đồng bào Tày tại xã Trùng Khánh, huyện Na Hang.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 1 tập trung xây dựng bức tranh tổng quan nghiên cứu, xác lập khung khái niệm và phân tích đặc điểm địa bàn nghiên cứu Tuyên Quang.
Về lịch sử tộc người, người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có nguồn gốc từ khối Bách Việt. Tác giả dẫn giải mốc lịch sử năm 1085 khi biên giới Đại Việt và Trung Hoa được xác lập, dẫn đến sự phân tách giữa khối Tày - Nùng ở Việt Nam và người Choang ở Lưỡng Quảng. Người Tày tại Tuyên Quang có sự dung hợp giữa cư dân bản địa, người Tày di cư từ Cao Bằng sang sau biến cố nhà Mạc thất thủ, cùng một bộ phận người Kinh hóa Tày và người Nùng hóa Tày. Khảo cổ học năm 2009 của Trình Năng Chung tại Pù Quân và Heo Uẩn (xã Trùng Khánh, huyện Na Hang) phát hiện 39 ngôi mộ hung táng cổ và tấm bia đá thời Vĩnh Khánh (1729-1732) đời vua Lê Duy Phường, khẳng định sự cư trú lâu đời của người Tày nơi đây. Theo số liệu thống kê dân số tháng 4 năm 2019, người Tày tại Tuyên Quang có 205.624 người, chiếm hơn 26,2% tổng dân số toàn tỉnh, cư trú chủ yếu tại các thung lũng, triền núi thấp của huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình.
Về hệ thống tín ngưỡng dân gian, người Tày Tuyên Quang có 4 hình thức thầy cúng thực hành: Tào, Phù Thủy, Pụt và Then. Mối quan hệ giữa các loại hình này được luận án tổng hợp:
| Tiêu chí so sánh |
Thầy Tào |
Thầy Phù Thủy |
Thầy Pụt |
Thầy Then |
| Người thực hành |
Nam giới |
Nam giới |
Nam giới hoặc Nữ giới |
Nam giới hoặc Nữ giới |
| Đối tượng nối nghề |
Trong hoặc ngoài dòng họ |
Trong hoặc ngoài dòng họ |
Trong hoặc ngoài dòng họ |
Trong dòng họ |
| Phương thức truyền nghề |
Có căn theo nghề hoặc yêu thích theo nghề |
Có căn theo nghề hoặc yêu thích theo nghề |
Có căn theo nghề hoặc yêu thích theo nghề |
Bắt buộc phải có căn số theo nghề |
| Trang phục hành lễ |
Pháp sư |
Pháp sư |
Áo chàm thông thường |
Quần áo chàm, mũ Then, đai |
| Dụng cụ hành lễ |
Trống, chiêng, não bạt, xích lình, đồng âm dương |
Trống, chiêng, não bạt, xích lình, đồng âm dương |
Chùm xóc, lệnh bài, thanh âm dương |
Tính tẩu, chùm xóc, thẻ đồng âm dương |
| Đặc điểm diễn xướng |
Cúng bằng tiếng Quan Hỏa (Trung Quốc) |
Cúng bằng tiếng Tày và tiếng Kinh |
Cúng bằng tiếng Tày và tiếng Quan Hỏa |
Cúng và hát bằng tiếng Tày |
| Văn tự sử dụng |
Chữ Nho |
Chữ Nho |
Chữ Nho |
Chữ Nôm Tày |
Về tên gọi và cấu tạo của tính tẩu: Nhạc cụ này có các tên gọi dân gian như "ăn tẩu", "ăn tính tẩu", "đàn tính", "đàn Then". Nghệ nhân Nhân dân Hà Thuấn giải thích theo ngữ nghĩa tiếng Tày: "tính" là đàn, "tẩu" là quả bầu. Quy tắc chế tác truyền thống tuân theo công thức "Sam căm tẩu, cẩu căm càn" (bầu đàn rộng ba nắm tay, cần đàn dài chín nắm tay). Cần đàn cho then nữ dài khoảng 70 cm, cần đàn cho then nam dài khoảng 90 cm. Bầu đàn làm từ quả bầu đắng già phơi khô, cắt bỏ phần cuống, mặt đàn bịt bằng tấm gỗ mỏng khoét cụm lỗ thoát âm hình hoa thị; ngựa đàn (con nhạn) làm bằng thanh tre già hoặc sừng trâu, sừng bò đặt giữa mặt đàn. Cần đàn làm bằng gỗ nhẹ, thẳng, nhẵn bóng; tai đàn gắn 2 hoặc 3 trục chỉnh dây.
Về kỹ thuật diễn tấu: Đàn có thể diễn tấu ở tư thế ngồi khoanh chân (đặt bầu lên đùi phải) hoặc đứng (tỳ bầu vào sườn phải). Kỹ thuật tay trái sử dụng 4 ngón (ngón 1: trỏ, 2: giữa, 3: áp út, 4: út; ngón cái giữ cần đàn), vận hành trong âm vực quãng 9-10 qua hai thế tay bấm cơ bản, kết hợp kỹ thuật vuốt (Glisse) và luyến (Coulé). Kỹ thuật tay phải chỉ sử dụng ngón tay trỏ gảy vào (nốt đen) hoặc gảy ra (nốt đơn, vuốt hợp âm 3 dây) theo quy ước truyền dạy do Nghệ sĩ Nhân dân Triệu Thủy Tiên hệ thống hóa.
Chương 2: Tính tẩu trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày Tuyên Quang
Chương 2 đi sâu phân tích vị trí của tính tẩu trong không gian thiêng của Then nghi lễ.
Thứ nhất, tính tẩu là vật thiêng của thầy Then. Đàn tính không đơn thuần là nhạc cụ mà được xem là linh khí, là "ngựa thần" chở thầy Then vượt các cung trời (Mường Đất, Mường Nước, Mường Trời) trong các khóa lễ cầu an, giải hạn, lẩu Then cấp sắc hay Then cốm mới. Cây đàn được lập bàn thờ riêng hoặc treo ở nơi trang trọng trong nhà thầy Then; người bình thường không được tùy tiện chạm vào hay gảy đàn khi chưa có lễ xin phép thần linh.
Thứ hai, mối liên hệ giữa tính tẩu và thế giới quan của thầy Then: Cấu trúc 3 dây đàn tượng trưng cho ba cõi (Trời - Đất - Nước) hoặc biểu thị các đạo quân âm binh hỗ trợ thầy hành lễ. Tiếng đàn mô phỏng tiếng vó ngựa, tiếng vượt thác qua ghềnh, tiếng gió rít qua các cửa ải nhà Trời. Âm thanh tính tẩu đóng vai trò là nhịp cầu giao tiếp giữa thế giới thực tại và cõi siêu nhiên, tạo ra trạng thái xuất thần (thoát hồn) giúp thầy Then nhập vai chỉ huy âm binh.
Thứ ba, âm nhạc tính tẩu trong diễn xướng nghi lễ: Luận án phân tích cấu trúc âm nhạc tính tẩu trong Then qua khảo sát các khóa lễ cụ thể tại Chiêm Hóa và Na Hang. Khác với âm nhạc thế tục, âm nhạc tính tẩu trong nghi lễ có tính ngẫu hứng cao, giai điệu đàn đi liền sát với ngữ điệu lời tụng khấn bằng tiếng Tày. Người thầy Then vừa đàn, vừa hát, chân vừa rung chùm xóc nhạc tạo thành chỉnh thể phức điệu hoàn chỉnh.
Thứ tư, những bước thăng trầm lịch sử của nghi lễ Then tại Tuyên Quang: Luận án chỉ ra các giai đoạn lịch sử ảnh hưởng trực tiếp đến tính tẩu tín ngưỡng. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975) cùng thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp trước năm 1986, nghi lễ Then bị kiểm soát chặt chẽ do quan niệm xem đây là tàn dư mê tín dị đoan. Thầy Then phải cất giấu tính tẩu trên gác bếp hoặc tháo rời dây đàn; việc thực hành nghi lễ diễn ra âm thầm vào ban đêm. Sau năm 1986, không gian tín ngưỡng được cởi trói, nghi lễ Then phục hồi nhưng đứng trước tình trạng thiếu hụt đội ngũ kế cận do quy định khắt khe về căn số và cơ chế truyền nghề khép kín trong dòng tộc.
Chương 3: Tính tẩu trong đời sống văn hóa văn nghệ của người Tày Tuyên Quang
Chương 3 khảo sát quá trình chuyển dịch của tính tẩu sang đời sống văn nghệ quần chúng và bán chuyên nghiệp.
Về bối cảnh lịch sử của Then văn nghệ: Từ năm 1962, sau Hội diễn ca nhạc dân tộc lần thứ nhất, tính tẩu chính thức bước lên sân khấu biểu diễn đại chúng. Sau năm 1986, các chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc đã tạo đà cho các phong tràu văn nghệ phát triển mạnh mẽ. Toàn tỉnh Tuyên Quang đã hình thành mạng lưới hơn 50 câu lạc bộ đàn tính - hát Then tại các xã, phường, trường học, tiêu biểu là Câu lạc bộ Hát Then Thành Tuyên và phong trào tại xã Tân An (Chiêm Hóa).
Về nghệ nhân và không gian trình diễn: Xuất hiện tầng lớp nghệ nhân mới không hành nghề cúng bái (tiêu biểu như Nghệ nhân Nhân dân Hà Thuấn). Không gian diễn xướng chuyển dịch từ góc nhà sàn linh thiêng quanh bàn thờ Then sang sân khấu hội trường, nhà văn hóa thôn bản, hội diễn quần chúng, các điểm du lịch cộng đồng (homestay) tại Lâm Bình, Na Hang và các kênh truyền thông số.
Về những biến đổi của tính tẩu trong Then văn nghệ:
- Biến đổi trong chế tác: Thay vì dùng quả bầu đắng tự nhiên với kích thước không đồng đều, nhiều cơ sở sản xuất bán công nghiệp sử dụng khuôn ép gỗ, nhựa composite làm bầu đàn; cần đàn được gắn thêm phím bấm bằng kim loại hoặc đánh dấu vị trí nốt nhạc; tai đàn bằng gỗ được thay thế bằng khóa kim loại của đàn ghi-ta để dễ căn chỉnh cao độ; dây đàn bằng tơ tằm truyền thống được thay hoàn toàn bằng dây cước ni-lông công nghiệp.
- Biến đổi trong cách sử dụng: Tính tẩu chuyển từ hình thức độc diễn (một thầy Then vừa đàn vừa hát) sang hòa tấu dàn nhạc nhiều cây đàn tính, tốp ca nữ cầm đàn tính biểu diễn phối hợp vũ đạo tập thể, hoặc tính tẩu kết hợp với các nhạc cụ phương Tây trong các tác phẩm ca múa nhạc chuyên nghiệp.
- Biến đổi về tiết tấu và giai điệu: Tiết tấu âm nhạc Then văn nghệ mất đi tính ngẫu hứng tự do của nghi lễ mà tuân thủ cấu trúc nhịp phách cố định (nhịp 2/4, 4/4); giai điệu được biến hóa theo thang âm bình quân phương Tây để phục vụ dàn hợp xướng; tốc độ diễn tấu nhanh hơn, mang sắc thái vui tươi, rộn rã.
- Hoạt động sưu tầm và sáng tác: Bên cạnh việc ghi chép lại các làn điệu cổ bằng chữ quốc ngữ, các nghệ nhân quần chúng và nhạc sĩ chuyên nghiệp đã sáng tác hàng trăm bài Then mới với nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, xây dựng nông thôn mới và phong cảnh quê hương Tuyên Quang.
Chương 4: Tính tẩu trong đời sống văn hóa người Tày Tuyên Quang: Những vấn đề bàn luận
Chương 4 nâng các khảo sát thực tế lên tầm thảo luận học thuật về văn hóa học.
Vấn đề 1: Tính tẩu là biểu tượng văn hóa tộc người và phương tiện kết nối cộng đồng. Trong bối cảnh nhiều yếu tố văn hóa truyền thống như nhà sàn, trang phục chàm hay ngôn ngữ mẹ đẻ đang suy giảm ở thế hệ trẻ người Tày đô thị, cây tính tẩu cùng làn điệu Then đã trở thành biểu tượng nhận diện tộc người nổi bật nhất. Cây đàn tính xuất hiện trong các ngày hội đại đoàn kết, lễ hội Lồng tồng, các sự kiện ngoại giao văn hóa, đóng vai trò kết nối cộng đồng người Tày giữa các vùng miền và giữa người Tày với các tộc người láng giềng.
Vấn đề 2: Tính tẩu với việc bảo tồn, phổ biến và khai thác nghệ thuật Then. Việc đại chúng hóa tính tẩu qua hệ thống câu lạc bộ và đưa vào trường học đã giúp bảo lưu kỹ năng gảy đàn và tình yêu âm nhạc dân tộc trong thế hệ trẻ. Tuy nhiên, việc thương mại hóa phục vụ du lịch trải nghiệm cũng đặt ra nguy cơ làm biến dạng cấu trúc âm nhạc truyền thống, biến tính tẩu thành thứ đạo cụ trang trí thuần túy trên sân khấu.
Vấn đề 3: Những thách thức bảo tồn tính tẩu trong không gian tín ngưỡng hậu vinh danh. Luận án nhấn mạnh sự mất cân đối sâu sắc giữa Then văn nghệ và Then nghi lễ. Trong khi Then văn nghệ được đầu tư kinh phí tổ chức liên hoan, hội diễn rầm rộ, thì Then nghi lễ – cái nôi sản sinh ra cây tính tẩu – lại tiếp tục đối mặt với nguy cơ mai một âm thầm. Đội ngũ thầy Then cao tuổi qua đời không có người kế nghiệp do rào cản căn số; một bộ phận công chúng và cán bộ quản lý cấp cơ sở vẫn giữ định kiến xem thực hành Then tâm linh là hủ tục. Luận án cảnh báo nếu Then nghi lễ biến mất, tính tẩu sẽ mất đi cội nguồn tâm linh nuôi dưỡng chiều sâu biểu cảm của nhạc cụ này.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tiếp cận một cách toàn diện và có hệ thống về cây tính tẩu của người Tày Tuyên Quang trên cả hai bình diện văn hóa tín ngưỡng và văn hóa văn nghệ.
- Làm rõ quy luật biến đổi văn hóa tộc người dưới tác động của đường lối, chính sách văn hóa nhà nước qua các giai đoạn lịch sử (từ cấm đoán, tách rời di sản đến phục hồi và vinh danh quốc tế).
- Khẳng định vai trò hạt nhân chủ động, sáng tạo của đội ngũ nghệ nhân dân gian trong việc gìn giữ, cải biên và truyền dạy tính tẩu, biến một nhạc cụ phụng sự thần linh thành biểu tượng bản sắc tộc người trong đời sống đương đại.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học xác thực về số lượng nghệ nhân, câu lạc bộ, quy trình chế tác và kỹ thuật diễn tấu tính tẩu tại 4 huyện/thành phố của tỉnh Tuyên Quang.
- Cung cấp cơ sở thực tiễn và dữ liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý văn hóa trong việc xây dựng đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể hậu vinh danh UNESCO.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Cần có chính sách đãi ngộ, tôn vinh và hỗ trợ kinh phí cụ thể cho các thầy Then thực hành tín ngưỡng, không chỉ tập trung khen thưởng các nghệ nhân Then văn nghệ.
- Trả tính tẩu về với không gian văn hóa bản địa bằng cách tôn trọng các thực hành nghi lễ Then gia đình và dòng họ của người dân, tránh can thiệp hành chính thô bạo.
- Đưa tính tẩu vào chương trình giáo dục địa phương tại các trường học miền núi một cách bài bản, gắn kết việc học đàn với việc học tiếng Tày và tri thức dân gian truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực địa chuyên sâu mới tập trung chủ yếu tại 4 địa bàn trọng điểm của tỉnh Tuyên Quang (thành phố Tuyên Quang, huyện Chiêm Hóa, huyện Lâm Bình, huyện Na Hang); các cứ liệu so sánh tại tỉnh bạn (Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang) chủ yếu mang tính đối sánh bổ trợ.
- Một số tư liệu liên quan đến hoạt động của các câu lạc bộ đàn tính đương đại phải thu thập qua khảo sát mạng xã hội (Facebook, YouTube), do đó mức độ kiểm chứng chiều sâu nhân khẩu học của các thành viên mạng xã hội còn có những giới hạn nhất định.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về kỹ thuật chế tác và âm luật tính tẩu của người Tày Tuyên Quang với tính tẩu của người Thái Tây Bắc và người Choang tại Quảng Tây (Trung Quốc).
- Khảo sát sự thích ứng kinh tế của làng nghề chế tác tính tẩu trong bối cảnh phát triển du lịch di sản và kinh tế số hiện nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Âm nhạc học và Nhân học văn hóa khi tiếp cận các đề tài về biến đổi văn hóa, âm nhạc nghi lễ dân gian và di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
- Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu và trường văn hóa nghệ thuật (như Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc) trong việc biên soạn bài giảng về nhạc cụ dân tộc và nghệ thuật diễn xướng Then.
- Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng Đông Bắc trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản, xây dựng hồ sơ tôn vinh nghệ nhân và thiết kế các sản phẩm văn hóa du lịch cộng đồng.
- Phần đáng tham khảo nhất là các mô tả chi tiết về kỹ thuật chế tác "Sam căm tẩu, cẩu căm càn", bảng phân loại đối sánh 4 hình thức thầy cúng Tày, và các chương đoạn phân tích sự biến đổi của kỹ thuật diễn tấu tay trái, tay phải của đàn tính.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên tắc "Sam căm tẩu, cẩu căm càn" trong chế tác tính tẩu của người Tày có ý nghĩa kỹ thuật như thế nào?
Đây là quy ước đo lường dân gian truyền thống bằng nắm tay của người thợ: "bầu ba nắm, cán chín nắm". Chiều dài cần đàn được căn chỉnh theo giới tính và độ tuổi người sử dụng: đàn dành cho then nữ dài khoảng 70 cm, đàn dành cho then nam dài khoảng 90 cm. Quy tắc này đảm bảo tỷ lệ cân xứng giữa hộp cộng hưởng (quả bầu) và chiều dài dây đàn, giúp người chơi dễ dàng thực hiện hai thế tay bấm cơ bản trong tầm với tự nhiên.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa 4 hình thức thực hành tín ngưỡng Tào, Phù Thủy, Pụt và Then của người Tày Tuyên Quang là gì?
Sự khác biệt thể hiện rõ qua đối tượng hành nghề, dụng cụ và ngôn ngữ diễn xướng. Thầy Tào và Phù Thủy chỉ là nam giới, cúng bằng tiếng Quan Hỏa hoặc tiếng Tày/Kinh, sử dụng chữ Nho với các nhạc cụ gõ mạnh (trống, chiêng, não bạt, xích lình). Thầy Pụt và Then có thể là nam hoặc nữ; nhưng duy nhất chỉ có thầy Then mới sử dụng cây tính tẩu làm nhạc cụ chính, hát cúng hoàn toàn bằng tiếng Tày và sử dụng văn bản chữ Nôm Tày. Đồng thời, việc nối nghề Then bắt buộc phải có căn số và giới hạn chặt chẽ trong dòng họ.
3. Chứng tích khảo cổ học nào khẳng định sự cư trú lâu đời của người Tày tại địa bàn Tuyên Quang?
Đó là phát hiện năm 2009 của Viện Khảo cổ học do Trình Năng Chung chủ trì tại Pù Quân và Heo Uẩn (xã Trùng Khánh, huyện Na Hang). Các nhà khoa học đã khai quật 39 ngôi mộ hung táng cổ và một tấm bia đá khắc 19 chữ Hán có niên đại thời Vĩnh Khánh (1729-1732) đời vua Lê Duy Phường. Đây là thời kỳ hậu Mạc sau khi triều đình nhà Mạc thất thủ tại Cao Bằng, xác thực quá trình tụ cư sinh sống lâu đời của người Tày tại vùng thung lũng Na Hang.
4. Luận án nhìn nhận thế nào về hai quan điểm trái chiều của Oscar Salemink và Đặng Hoành Loan quanh hiện tượng "văn nghệ hóa" Then và tính tẩu?
Tác giả xem đây là hai góc nhìn bổ trợ cho nhau trong nghiên cứu văn hóa. Quan điểm của Oscar Salemink cảnh báo đúng thực trạng "phi bối cảnh hóa", khi việc sân khấu hóa làm mất đi tính nguyên hợp và chiều sâu tâm linh của nghi lễ cổ truyền. Ngược lại, quan điểm của Đặng Hoành Loan phản ánh đúng thực tế đời sống: việc tách tính tẩu ra thành phong trào Then văn nghệ đã thỏa mãn nhu cầu sáng tạo thẩm mỹ mới của cộng đồng, giúp di sản tiếp tục sống trong lòng xã hội hiện đại mà không triệt tiêu tâm thức tín ngưỡng của người dân.
5. Kỹ thuật gảy tay phải của cây tính tẩu có những quy ước chuyên biệt nào?
Khác với các nhạc cụ dây khác, tính tẩu chỉ sử dụng duy nhất ngón tay trỏ của bàn tay phải để gảy. Kỹ thuật gảy gồm hai thao tác cơ bản: gảy vào (gạt từ ngoài vào lòng bàn tay, áp dụng cho các nốt đen) và gảy ra (búng từ lòng bàn tay ra ngoài, áp dụng cho các nốt đơn). Khi đánh các hợp âm nhấn mạnh lướt qua cả 3 dây, nghệ nhân sử dụng kỹ thuật gảy ra để tạo độ vang mở rộng cho toàn bộ hộp cộng hưởng.
Kết luận
Luận án "Tính tẩu trong đời sống văn hóa người Tày Tuyên Quang" của Nguyễn Thị Thanh Thảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về cây đàn tính trong cả hai môi trường thực hành tín ngưỡng và văn nghệ quần chúng tại tỉnh Tuyên Quang. Bằng phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp phân tích âm nhạc học, tác giả đã làm rõ tiến trình biến đổi chức năng, cấu tạo chế tác và kỹ thuật diễn xướng của tính tẩu dưới tác động của các chủ trương văn hóa xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Luận án khẳng định tính tẩu là biểu tượng cốt lõi của bản sắc văn hóa Tày, đồng thời đặt ra những cảnh báo học thuật và định hướng giải pháp cấp thiết nhằm bảo vệ không gian Then nghi lễ truyền thống trước nguy cơ mai một trong giai đoạn hậu vinh danh UNESCO.