Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống truyền thông đại chúng, báo chí giữ vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và thực hiện các chức năng xã hội cốt lõi: giáo dục tư tưởng, quản lý gián tiếp - giám sát xã hội, phát triển văn hóa và cung cấp thông tin. Cùng với sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội, các vấn đề dân sinh, đạo đức, lối sống, giáo dục, môi trường và an sinh luôn là mảng đề tài thu hút sự quan tâm lớn của công chúng độc giả. Để phản ánh chân thực, sinh động và định hướng dư luận hiệu quả, ngôn ngữ báo chí đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa tính chính xác thông tấn và năng lực biểu cảm, gợi hình của hệ thống từ vựng.

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Báo chí của tác giả Trương Thị Hoài Thương (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, thực hiện năm 2018 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Đức Luận) đi sâu khảo sát lớp từ ngữ thuộc mảng đề tài văn hóa - xã hội trên Báo Đà Nẵng — cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Đà Nẵng, tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về từ, ngữ, đặc trưng phong cách ngôn ngữ báo chí và bối cảnh hoạt động của Báo Đà Nẵng.
  2. Khảo sát, thống kê, phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, phạm vi sử dụng cùng các mô hình ngữ pháp của lớp từ ngữ biểu thị vấn đề văn hóa - xã hội.
  3. Phân tích các phương diện biểu đạt của từ ngữ trong việc phản ánh các chủ đề văn hóa - xã hội thực tế trên mặt báo.
  4. Rút ra các nhận xét thực tiễn về kỹ năng lựa chọn, sử dụng từ ngữ báo chí nhằm phục vụ cho hoạt động tác nghiệp thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống từ ngữ biểu thị vấn đề văn hóa - xã hội xuất hiện trên các trang báo. Phạm vi khảo sát giới hạn trên ngữ liệu gồm 50 bài báo thuộc chủ đề văn hóa - xã hội đăng tải trên Báo Đà Nẵng trong năm phát hành 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các thành tựu của ngôn ngữ học đại cương, Việt ngữ học và lý luận báo chí truyền thông:

  • Lý thuyết về từ và phân định ranh giới từ trong tiếng Việt: Tác giả tổng thuật các quan niệm ngôn ngữ học của F. de Saussure, L. Bloomfield, V. Solntsev, S. Jakhontov (với 5 quan niệm về từ: từ chính tả, từ từ điển học, từ ngữ âm, từ biến tố, từ hoàn chỉnh). Trong phân định từ tiếng Việt, khóa luận đối chiếu hai khuynh hướng chính: khuynh hướng coi từ trùng với âm tiết/tiếng (M. Emeneau, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp) và khuynh hướng coi từ không hoàn toàn trùng âm tiết (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Kim Thản, Đái Xuân Ninh, Hồ Lê, Nguyễn Tài Cẩn). Đề tài lựa chọn tiếp cận theo quan điểm ngữ pháp học của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn làm khung phân loại cấu tạo từ (phân chia từ đơn gồm 1 tiếng và từ phức gồm từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập, từ láy, từ ngẫu kết).
  • Lý thuyết về cụm từ cố định: Phân biệt ngữ tự do (cụm đẳng lập, cụm chủ vị) và ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ, ngữ cố định định danh), trong đó tập trung khai thác cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt (thành ngữ so sánh, thành ngữ miêu tả ẩn dụ).
  • Đặc trưng ngôn ngữ báo chí: Khóa luận kế thừa nghiên cứu của Hoàng Anh (Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, 2003) và PGS.TS Vũ Quang Hào (Ngôn ngữ báo chí, 2007), xác định 6 đặc trưng ngôn ngữ báo chí: tính chính xác, tính cụ thể, tính đại chúng, tính ngắn gọn và định lượng, tính bình giá và biểu cảm, tính khuôn mẫu.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Ứng dụng kỹ thuật dò tìm, đếm tần số xuất hiện (sử dụng công cụ tìm kiếm Ctrl + F trên văn bản số hóa) để lập bảng định lượng về tần suất từ đơn, từ ghép, từ láy, từ địa phương và các mô hình thành ngữ.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả cấu trúc hình thái, nguồn gốc từ vựng (thuần Việt, Hán - Việt, Ấn - Âu) và cấu trúc ngữ pháp nội tại của các đơn vị ngữ cố định.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: Phân tích ngữ cảnh xuất hiện của từ ngữ, giá trị định danh sự kiện và sắc thái biểu cảm trong bài viết báo chí.

Nguồn dữ liệu khảo sát gồm 50 bài viết thuộc các chuyên mục văn hóa, xã hội, phóng sự, ghi chép, điều tra phát hành năm 2017 trên Báo Đà Nẵng, kết hợp tài liệu tham khảo từ các giáo trình chuyên ngành ngôn ngữ và báo chí.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận và giới thiệu tổng quan về cơ quan báo chí cung cấp ngữ liệu:

  • Khái quát về từ ngữ và ngôn ngữ báo chí: Khái quát các trường phái định nghĩa về từ và đơn vị ngữ trong tiếng Việt. Phân tích chi tiết 6 thuộc tính của ngôn ngữ báo chí, nhấn mạnh tính chính xác là yêu cầu sống còn nhằm tránh sai lệch thông tin định hướng dư luận, đồng thời phân tích tính biểu cảm - bình giá như một công cụ giúp phóng sự văn hóa - xã hội tăng sức lôi cuốn đối với độc giả.
  • Khái quát về đề tài văn hóa - xã hội trên báo chí: Đánh giá đặc thù của mảng đề tài văn hóa - xã hội. Khác với các bản tin thời sự chính luận đòi hỏi tính khuôn mẫu cao, bài viết văn hóa - xã hội cho phép tác giả linh hoạt trong việc sử dụng câu chữ, khai thác vốn từ vựng phong phú, tăng tính hình tượng và chiều sâu cảm xúc.
  • Lịch sử hình thành và phát triển của Báo Đà Nẵng: Tác giả điểm lại các mốc lịch sử phát triển của tờ báo từ tờ Cờ Độc lập (1945), tờ Tin Tức (1946), báo Chiến Thắng (1947), báo Giải Phóng Quảng Đà (1963), báo Quảng Nam - Đà Nẵng (1976). Đến ngày 02/01/1997, khi chia tách địa giới hành chính tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Báo Đà Nẵng chính thức phát hành số đầu tiên với tần suất 4 số/tuần. Từ ngày 01/01/1999, báo nâng cấp thành nhật báo (xuất bản 6 số/tuần và ấn phẩm Cuối tuần). Năm 2008, báo ra mắt phiên bản điện tử tiếng Việt và trang thông tin đối ngoại tiếng Anh Da Nang Today. Tòa soạn đặt tại số 06 Trần Phú, thành phố Đà Nẵng. Chương này cũng liệt kê các chuyên mục định kỳ tiêu biểu như Nếp sống văn hóa - văn minh đô thị, Những con đường Đà Nẵng, Người Quảng xa quê, Phóng sự - Ký sự.

Chương 2: Khảo sát, phân loại, miêu tả từ ngữ biểu thị văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng

Chương 2 là trọng tâm định lượng và miêu tả ngữ liệu khảo sát từ 50 bài báo phát hành năm 2017:

1. Về mặt cấu tạo từ: Kết quả thống kê cho thấy sự phân hóa rõ nét về tần suất xuất hiện giữa từ đơn và từ phức. Từ đơn chiếm đa số tuyệt đối trên mặt báo do tính chất tường minh, ngắn gọn, giúp bạn đọc nắm bắt thông tin nhanh chóng.

Bảng 1: Thống kê tần suất xuất hiện của một số từ đơn thông dụng (đơn vị: lượt)

STT Từ đơn khảo sát Tần suất xuất hiện (lượt) Từ loại
1 Tiền 739 Danh từ
2 Nước 730 Danh từ
3 Người 650 Danh từ
4 Nhà 563 Danh từ
5 Chạy 561 Động từ
6 Học 541 Động từ
7 Nó 439 Đại từ
8 Đất 437 Danh từ
9 Xe 391 Danh từ
10 Cao 287 Tính từ
11 Đứng 257 Động từ
12 Nhớ 124 Động từ

Đối với từ phức, từ ghép chính phụ xuất hiện với mật độ vừa phải nhưng gắn liền với chủ đề chính trị - xã hội như nhà nước (42 lần), văn hóa (47 lần), chính quyền (35 lần). Từ ghép đẳng lập xuất hiện ít hơn (quần áo, ao hồ, vùng sâu vùng xa). Từ láy xuất hiện chủ yếu là từ láy bộ phận (đơn sơ, bấp bênh, bảo kê, khắc khoải), trong khi từ láy toàn bộ (thăm thẳm) và từ ngẫu kết có số lượng rất hạn chế.

2. Về mặt nguồn gốc từ vựng:

  • Từ thuần Việt: Chiếm tỷ lệ áp đảo trong hệ thống danh từ, động từ, tính từ chỉ hoạt động, sinh hoạt thường nhật (nhà, cửa, ruộng, vườn, trẻ em, người lớn, chân lấm tay bùn).
  • Từ Hán - Việt: Chiếm số lượng lớn trong các bài viết mang tính đúc kết, chính luận xã hội hoặc phản ánh tệ nạn, pháp luật (tổ quốc, đồng bào, chủ quyền, mại dâm, ma túy, giáo sư, nghệ thuật, quần chúng).
  • Từ gốc Ấn - Âu (tiếng Anh, tiếng Pháp): Từ gốc Anh dùng trong các lĩnh vực công nghệ, đời sống mới (Internet, taxi); từ gốc Pháp đã được Việt hóa hoặc phiên âm (xích lô, cano, mô-tô, bùng binh, quây tôn).

3. Về phạm vi sử dụng:

  • Từ nghề nghiệp: Phân bố đa dạng theo các lĩnh vực được báo chí phản ánh gồm ngành giáo dục (tiến sĩ, giảng viên cơ hữu, tuyển sinh), ngành y tế (phẫu thuật tạo hình, điều trị bỏng, dự phòng), văn hóa - nghệ thuật (nhà sáng tác, văn học nghệ thuật, hát đối), quản lý thị trường (thuốc lá điếu, nhập lậu).
  • Từ ngữ địa phương: Khảo sát phát hiện 38 lượt xuất hiện các từ ngữ địa phương xứ Quảng và miền Trung (răng, mi, giựt, chi, rứa, cha mạ, chừ, ri, chừng mô, chu choa, mô tê răng rứa chi nờ). Từ địa phương chủ yếu xuất hiện trong các câu trích dẫn nguyên văn lời thoại của nhân vật hoặc bài ký sự nhằm tạo sự gần gũi, tái hiện sắc thái văn hóa bản địa.

4. Khảo sát và phân loại ngữ pháp thành ngữ: Khảo sát 50 bài báo đã ghi nhận 25 thành ngữ. Tác giả phân loại cấu tạo thành ngữ theo số lượng yếu tố và mô hình đối xứng cú pháp:

Bảng 2: Thống kê phân loại thành ngữ theo số lượng yếu tố

STT Loại thành ngữ Số lượng Tỷ lệ (%) Ví dụ tiêu biểu
1 Thành ngữ đối xứng 4 yếu tố 15 60% Ích nước lợi nhà, mưa to gió lớn, ao tù nước đọng
2 Thành ngữ đối xứng 6 yếu tố 4 16% Con sâu làm rầu nồi canh, nói một đằng làm một nẻo
3 Thành ngữ đối xứng 8 yếu tố 3 12% Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, bán mặt cho đất bán lưng cho trời
4 Thành ngữ khác (3 và 5 yếu tố) 3 12% Anh hùng rơm, vạn sự khởi đầu nan, lá lành đùm lá rách
Tổng 25 100%

Khóa luận phân tích chi tiết 10 mô hình cấu tạo của nhóm thành ngữ đối xứng 4 yếu tố:

  1. Danh - Tính + Danh - Tính: "Chân yếu tay mềm" (1 thành ngữ, chiếm 4%).
  2. Động - Tính + Động - Tính: "Mưa to gió lớn", "mưa thuận gió hòa" (2 thành ngữ, chiếm 8%).
  3. Tính - Động + Tính - Động: "Dở khóc dở cười" (1 thành ngữ, chiếm 4%).
  4. Danh - Danh + Danh - Danh: "Non sông gấm vóc" (2 thành ngữ, chiếm 8%).
  5. Động - Danh + Động - Danh: "Uống nước nhớ nguồn" (1 thành ngữ, chiếm 4%).
  6. Tính - Danh + Tính - Danh: "Ích nước lợi nhà", "hồng nhan bạc phận" (3 thành ngữ, chiếm 12%).
  7. Danh - Động + Danh - Động: "Ao tù nước đọng", "mắt nhắm mắt mở" (2 thành ngữ, chiếm 8%).
  8. Danh - Tính + Danh - Danh: "Chân lấm tay bùn" (1 thành ngữ, chiếm 4%).
  9. Danh - Tính + Danh - Động: "Đất lành chim đậu" (1 thành ngữ, chiếm 4%).
  10. Danh - Đại từ + Danh - Đại từ: "Con ông cháu cha" (1 thành ngữ, chiếm 4%).

Xét theo nguồn gốc cấu tạo, thành ngữ thuần Việt và phi Hán Việt chiếm đa số với 20/25 thành ngữ (tỷ lệ 80%), thành ngữ Hán - Việt chỉ có 5/25 (tỷ lệ 20%).

Xét về chức năng cú pháp trong câu:

  • Thành ngữ giữ chức năng vị ngữ: 12/25 trường hợp (tỷ lệ 48%).
  • Thành ngữ giữ chức năng định ngữ: 6/25 trường hợp (tỷ lệ 24%).
  • Thành ngữ giữ chức năng chủ ngữ: 4/25 trường hợp (tỷ lệ 16%).
  • Thành ngữ giữ chức năng bổ ngữ: 3/25 trường hợp (tỷ lệ 12%).

Chương 3: Các phương diện biểu đạt của từ ngữ về vấn đề văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng

Chương 3 đi sâu phân loại và phân tích ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ theo từng tiểu nhóm đề tài cụ thể được tác giả xác lập trong đề cương nghiên cứu:

  • Nhóm từ ngữ biểu thị vấn đề tệ nạn xã hội: Các thuật ngữ pháp lý và từ ngữ miêu tả hành vi vi phạm liên quan đến ma túy, mại dâm (bảo kê, dụ dỗ, chăn dắt, cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng).
  • Nhóm từ ngữ về hoạt động đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội: Từ ngữ phản ánh phong trào và nhiệm vụ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Đà Nẵng.
  • Nhóm từ ngữ biểu thị đời sống văn hóa, lễ hội và các cơ quan quản lý văn hóa trên địa bàn thành phố (lễ hội Mục đồng, hò khoan xứ Quảng, trại sáng tác văn học nghệ thuật).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu định lượng và định tính cụ thể dựa trên việc xử lý ngữ liệu thực tế:

  • Về mặt định lượng: Xác lập các bảng số liệu chính xác về tần suất từ đơn (với các từ có tần suất cao hàng đầu như tiền - 739 lượt, nước - 730 lượt, người - 650 lượt), phân loại 25 thành ngữ với tỷ lệ thành ngữ đối xứng 4 yếu tố chiếm 60%, thành ngữ thuần Việt chiếm 80%, thành ngữ đóng vai trò vị ngữ chiếm 48%, và thống kê 38 lượt sử dụng từ ngữ địa phương.
  • Về mặt thực tiễn nghề nghiệp: Khóa luận chứng minh tính quy luật trong việc dùng từ của phóng viên Báo Đà Nẵng: ưu tiên dùng từ thuần Việt và từ đơn để đảm bảo tính đại chúng, dễ hiểu; kết hợp chọn lọc từ Hán - Việt nhằm tăng tính khái quát chính luận; đan xen từ địa phương xứ Quảng và thành ngữ dân gian để tạo phong vị gần gũi, sinh động cho các thể loại phóng sự, ghi chép.
  • Đóng góp của tác giả: Khóa luận cung cấp cái nhìn tổng thể về đặc điểm từ vựng trên một tờ báo Đảng địa phương trong giai đoạn 2017, đóng góp tư liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu ngôn ngữ báo chí và phương pháp giảng dạy tiếng Việt thực hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dung lượng khảo sát dừng lại ở 50 bài báo trong phạm vi 1 năm phát hành (2017) trên một ấn phẩm báo in/báo điện tử địa phương (Báo Đà Nẵng). Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay của sinh viên nên phạm vi khảo sát từ vựng chưa bao quát toàn bộ các chuyên mục và chưa so sánh đối chiếu liên thế hệ với các giai đoạn lịch sử trước đó của tờ báo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng dung lượng mẫu khảo sát trên nhiều cơ quan báo chí địa phương khác nhau của khu vực miền Trung, hoặc mở rộng so sánh sự biến đổi từ ngữ giữa báo in truyền thống và báo mạng điện tử đa phương tiện.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Báo chí, Truyền thông và Ngữ văn: Tham khảo khung lý thuyết phân loại từ vựng theo cấu tạo, nguồn gốc, phạm vi sử dụng và phương pháp thống kê ngữ liệu báo chí bằng công cụ định lượng đơn giản.
  • Người làm nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí địa phương: Cung cấp hệ thống ngữ liệu thực tế và các bảng phân loại cấu trúc thành ngữ tiếng Việt (đặc biệt là 10 mô hình cấu tạo của thành ngữ đối xứng 4 yếu tố) được ứng dụng trong văn bản báo chí.
  • Phóng viên, biên tập viên trẻ: Học hỏi cách kết hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ toàn dân chuẩn mực với lớp từ địa phương và thành ngữ dân gian nhằm nâng cao sức hấp dẫn cho tác phẩm báo chí về mảng văn hóa - xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả khóa luận lựa chọn quan điểm của nhà ngôn ngữ học nào làm cơ sở để phân loại từ tiếng Việt?
Tác giả lựa chọn quan điểm của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, theo đó hình vị tiếng Việt là tiếng (âm tiết), từ đơn gồm 1 tiếng và từ phức gồm từ ghép (ghép đẳng lập, chính phụ, ngẫu kết) và từ láy.

2. Tiền thân lịch sử của Báo Đà Nẵng trải qua những tên gọi nào trước khi mang tên chính thức từ năm 1997?
Theo thống kê lịch sử của khóa luận, báo đã trải qua các tên gọi: tờ Cờ Độc lập (1945), tờ Tin Tức (1946), báo Chiến Thắng (1947), báo Giải Phóng Quảng Đà (1963), và báo Quảng Nam - Đà Nẵng (1976 - 1996).

3. Nhóm từ đơn nào có tần suất xuất hiện cao nhất trong 50 bài báo được khảo sát?
Các từ đơn có tần suất xuất hiện cao nhất gồm: Tiền (739 lượt), Nước (730 lượt), Người (650 lượt), Nhà (563 lượt), Chạy (561 lượt) và Học (541 lượt).

4. Loại thành ngữ nào chiếm tỷ lệ áp đảo trên ngữ liệu Báo Đà Nẵng và giữ chức năng ngữ pháp gì chủ yếu?
Thành ngữ đối xứng 4 yếu tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 15/25 thành ngữ (60%). Về mặt ngữ pháp, thành ngữ được sử dụng nhiều nhất trong vai trò vị ngữ của câu với 12/25 trường hợp (chiếm 48%).

5. Từ ngữ địa phương xuất hiện bao nhiêu lần và giữ vai trò gì trong các bài báo?
Khảo sát ghi nhận 38 lượt từ địa phương xuất hiện (như răng, rứa, chừ, mô tê), chủ yếu nằm trong lời dẫn thoại trực tiếp của nhân vật hoặc các bài ký sự nhằm tăng tính chân thực và đậm đà bản sắc văn hóa địa phương.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Thị Hoài Thương đã khảo sát và miêu tả chi tiết hệ thống từ ngữ biểu thị vấn đề văn hóa - xã hội trên Báo Đà Nẵng năm 2017. Thông qua việc phân loại cấu tạo, nguồn gốc, phạm vi sử dụng và phân tích cấu trúc 25 thành ngữ, công trình đã làm rõ đặc trưng kết hợp giữa từ ngữ thuần Việt, từ Hán - Việt và phương ngữ xứ Quảng trong hoạt động truyền thông. Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu học thuật giá trị cho việc tiếp cận ngôn ngữ báo chí địa phương dưới góc nhìn ngôn ngữ học ứng dụng.