mở đầu, kết luận, các phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CHƢƠNG 2: KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI, MIÊU TẢ TỪ NGỮ BIỂU THỊ VĂN HÓA XÃ HỘI TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG CHƢƠNG 3: CÁC PHƢƠNG DIỆN BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ VĂN HÓA XÃ HỘI TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG Luan van 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái quát về từ ngữ và ngôn ngữ báo chí 1. Khái quát về từ Từ là một khái niệm quan trọng và không đơn giản. Vấn đề về khái niệm từ đã và đang đƣợc bà luận rất nhiều trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học.
Từ không chỉ là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về từ nhƣng chƣa có định nghĩa nào thỏa mãn các nhà nghiên cứu. Trong khoảng hơn 6000 ngôn ngữ đƣợc sử dụng trên thế giới, từ đƣợc biểu hiện với rất nhiều hình thức đa dạng.Sherba đã viết: trong thực tế, từ là gì? Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. do đó, tất sẽ không có khái niệm từ nói chung.
Tuy vậy, trong thực tế vẫn tồn tại những định nghĩa về từ. Trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cƣơng” F. Saussure [23] viết nhƣ sau: Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tƣ tƣởng chúng ta nhƣ một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa”. Sách ngữ văn định nghĩa: từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.
( sách Ngữ văn 6, Tập 1, tr. Hầu hết bất kì nhà ngôn ngữ học nào khi đi vào nghiên cứu một ngôn ngữ cụ thể đều cố gắng tìm hiểu tính đặc thù của từ trong ngôn ngữ ấy và đƣa ra những định nghĩa. Trong sự đa dạng về các thuộc tính của từ vẫn có thể tìm thấy những thuộc tính bản chất chung cho từ trong mọi ngôn ngữ. Những thuộc tính phổ quát ấy, theo V.Sholncev là: a) Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa; b) Từ có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời.
Nhƣ vậy, khi nói từ là đơn vị ngôn ngữ là có hàm ý muốn phân biệt nó với câu trong tƣ cách là đơn vị của lời nói. Còn nói đến tính hai mặt (âm và nghĩa) của từ là muốn nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của nó cả về cấu trúc hình thái (gọi là vỏ ngữ âm) cũng nhƣ về ngữ nghĩa (dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp). Chính tính hoàn Luan van 6 chỉnh về âm và nghĩa này đã khiến cho từ có khả năng độc lập về mặt ngữ pháp khi sử dụng trong lời. Và ngƣợc lại, tính độc lập về cú pháp của từ minh chứng cho tính hoàn chỉnh của nó trong tƣ cách là một đơn vị của ngôn ngữ.
Trong hai thuộc tính vừa nêu, V.Solnsev cho rằng thuộc tính thứ hai là thuộc tính bản chất, và trái với nhận định của L.Sherba, từ nói chung dầu sao vẫn tồn tại [16]. Xuất phát từ tiêu chí ngữ nghĩa, L.Bloomfield, đại biểu Trƣờng phái Miêu tả luận Mỹ quan niệm: từ là hình thái tự do nhỏ nhất (free), mà hình thái tự do nhỏ nhất là bất kỳ hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn, khác với hình thái ràng buộc (bound) vốn không thể nói riêng một mình. Về mặt thủ thuật nghiên cứu, hình nhƣ L.Bloomfield muốn khái quát hoá cách hiểu của mình. Còn trên bình diện lý thuyết, định nghĩa này vấp phải những luận điểm rất cơ bản.
Bởi vì, với định nghĩa này, ranh giới giữa hình vị với từ, từ với câu đã trở nên mơ hồ dẫn đến lẫn lộn những cấp hệ ngôn ngữ vốn rất khác nhau. Đồng thời, đặc tính tự do (free) hay ràng buộc (bound) thực chất không nói lên đƣợc gì cái đặc điểm cấu trúc - chức năng của từ.Lyons, mặc dù quan niệm của Bloomfield đã đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học lớn chấp nhận nhƣng hầu nhƣ không thể coi là thoả đáng đƣợc [21]. Nhìn chung, những nhƣợc điểm của nhiều định nghĩa về từ vốn là do đối tƣợng nghiên cứu hết sức phức tạp và đa dạng, khó có thể có một cái nhìn bao quát đƣợc. Đúng nhƣ sự tổng kết của nhà ngôn ngữ học Xô-viết S.
Jakhontov: các nhà nghiên cứu khác nhau, ít nhất có 5 quan niệm khác nhau về cái đƣợc gọi là từ : * Từ chính tả: là khoảng cách giữa hai chỗ trống trên chữ viết. Từ đƣợc định nghĩa nhƣ vậy trong những công trình dịch máy. Định nghĩa này có liên quan đến nguyên tắc viết liền hay viết rời những kết cấu nào đó trong chính tả. Tuy nhiên, nguyên tắc chính tả không phải bao giờ cũng phản ánh đúng hiện tƣợng tồn tại khách quan trong ngôn ngữ cũng nhƣ trong cảm thức của ngƣời bản ngữ.
Đồng thời có những ngôn ngữ mà trên chữ viết không có những khoảng trống giữa các từ thì không có từ chính tả, nhƣ chữ viết Thái Lan. Luan van 7 * Từ từ điển học: là căn cứ đặc điểm ý nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển. Tiêu chuẩn tính thành ngữ về nghĩa do A. Xmiriskij đƣa ra chính là đặc trƣng của từ từ điển học.
Nhƣ vậy, từ trong từ điển học không nhất thiết trùng với từ chính tả. Ngƣợc lại, có nhiều trƣờng hợp, từ chính tả chỉ tồn tại với tƣ cách là bộ phận từ của từ điển học. * Từ ngữ âm: là nhóm các hình vị đƣợc thống nhất bởi các hiện tƣợng ngữ âm nào đó. Từ ngữ âm trong mỗi ngôn ngữ có những đặc trƣng riêng của mình: trọng âm, sự hài hoà nguyên âm, sự biến đổi của những âm tố nào đó trong phạm vi của một từ…Xuất phát từ những đặc điểm nhƣ vậy, từ ngữ âm là cái mơ hồ nhất trong tất cả những hiện tƣợng đƣợc gọi là từ.
Bởi vì, mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp khác nhau. * Từ biến tố: là một phức thể luôn luôn gồm hai phần. Một phần có ý nghĩa đối tƣợng (thân từ), phần kia (biến tố) biểu thị những quan hệ cú pháp của từ đó với những từ khác trong câu. Nhƣ vậy, những ngôn ngữ nhƣ tiếng Việt, tiếng Hán không thể có từ biến tố.
*Từ hoàn chỉnh: là nhóm hình vị không thể tách hoặc hoán vị các hình vị đó mà lại không làm thay đổi nghĩa của chúng hoặc không vi phạm mối liên hệ của chúng [8]. * Từ Tiếng Việt: Cũng giống nhƣ định nghĩa về từ, từ trong tiếng Việt cũng khá phức tạp về mặt định nghĩa. Ranh giới từ trong tiếng Việt vẫn đang là vấn đề nan giải. sở dĩ nhƣ vậy là vì từ là một khái niệm cơ bảm của ngôn ngữ nhƣng cũng là đơn vị đa dạng và khó định nghĩa nhất trong ngôn ngữ học đại cƣơng.
Từ xƣa đến nay, những tiếng độc lập, có nghĩa đƣợc xem là từ đơn tiết. còn những tiếng không độc lập thì đƣợc xử lí khác nhau. nhìn chung có hai khuynh hƣớng chính trong phân định từ tiếng Việt. (1) Từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng): Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là M.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp.
Luan van 8 - Emeneau (1951) định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu. - Cao Xuân Hạo (1998): Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thƣờng đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục đƣợc tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu nhƣ là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết.
- Nguyễn Thiện Giáp (1996): Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền. Có thể nói, Nguyễn Thiện Giáp là ngƣời có những kiến giải tiêu biểu nhất. Tác giả coi mỗi tiếng là một từ. Những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng mà thành đƣợc tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ.
Bởi lẽ, theo tác giả, về mặt tâm lí ngôn ngữ học, cái đơn vị gọi là tiếng trong Việt ngữ hoàn toàn tƣơng đƣơng với cái gọi là từ của các ngôn ngữ Ấn – Âu. Vả lại, truyền thống Ngữ văn Việt Nam trƣớc đây đều coi tiếng là đơn vị cơ bản [8]. (2) Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết: Khuynh hƣớng thứ hai bao gồm phần lớn các nhà Việt ngữ học trong và ngoài nƣớc. Có thể nhắc đến những tác giả tiêu biểu nhƣ Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, Đái Xuân Ninh, Lƣu Văn Lâng, Hồ Lê, Nguyễn Văn Chình-Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành,.
- Trƣơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra đƣợc. - Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử. Luan van 9 - Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp. - Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.
- Ðái Xuân Ninh: Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó đƣợc cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh. Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất.
Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất.