Luận văn tốt nghiệp: Nghiên cứu từ ngữ về văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp từ ngữ về vấn đề văn hóa xã hội trên báo đà nẵng, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề .

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Ngành báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Cấu trúc của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Khái quát về từ ngữ và ngôn ngữ báo chí

1.2. Khái quát về từ

1.3. Khái quát về ngữ

1.4. Đặc điểm của ngôn ngữ báo chí

1.5. Khái quát về đề tài văn hóa xã hội trên báo chí

1.6. Tìm hiểu về báo Đà Nẵng

1.6.1. Sơ lược về hoàn cảnh ra đời và sự phát triển

1.6.2. Mục tiêu hoạt động

1.6.3. Những lĩnh vực phản ánh tiêu biểu của báo Đà Nẵng

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI, MIÊU TẢ TỪ NGỮ BIỂU THỊ VĂN HÓA XÃ HỘI TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG

2.1. Từ biểu thị văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng về mặt cấu tạo từ

2.2. Từ ngữ có nguồn gốc khác

2.3. Từ về vấn đề văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng về mặt phạm vi sử dụng

2.3.1. Từ ngữ địa phương

2.4. Ngữ biểu thị văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng xét về mặt ngữ pháp

2.4.1. Thành ngữ đối xứng 4 yếu tố

2.4.2. Thành ngữ đối xứng 6, 8 yếu tố

2.4.3. Xét theo nguồn gốc cấu tạo từ

2.4.4. Thành ngữ đảm nhận chức năng cú pháp

3. CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA XÃ HỘI TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG

3.1. Từ ngữ biểu thị vấn đề ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác

3.1.1. Từ ngữ về ma túy và các trường hợp phạm tội liên quan đến ma túy

3.1.2. Từ ngữ về mại dâm và các trường hợp phạm tội liên quan đến mại dâm

3.1.3. Từ ngữ về các hành vi vi phạm các tệ nạn xã hội khác

3.2. Từ ngữ về Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

3.3. Từ ngữ về Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

3.4. Từ ngữ biểu thị văn hóa và các hoạt động về văn hóa

3.5. Từ ngữ về văn hóa và các cơ quan quản lí văn hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu văn hóa xã hội qua báo Đà Nẵng

Nghiên cứu văn hóa xã hội qua báo Đà Nẵng là một lĩnh vực quan trọng trong việc hiểu biết về sự phát triển của xã hội và văn hóa địa phương. Báo Đà Nẵng không chỉ là một phương tiện truyền thông mà còn là một kênh phản ánh các vấn đề văn hóa xã hội đang diễn ra trong cộng đồng. Qua việc phân tích các bài viết, có thể nhận thấy sự tác động của văn hóa đến đời sống xã hội và ngược lại. Các vấn đề như giáo dục, giải trí, và các tệ nạn xã hội được đề cập thường xuyên, cho thấy sự quan tâm của báo chí đến các khía cạnh này. Nghiên cứu văn hóa qua báo chí giúp làm rõ hơn vai trò của báo chí trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề xã hội.

1.1. Tầm quan trọng của báo chí trong việc phản ánh văn hóa xã hội

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh và định hình văn hóa xã hội. Báo Đà Nẵng đã thể hiện rõ điều này qua các bài viết về các sự kiện văn hóa, các phong tục tập quán địa phương, và các vấn đề xã hội nổi bật. Việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp và chính xác trong các bài viết không chỉ giúp truyền tải thông tin mà còn góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa địa phương. Các phóng viên và nhà báo cần có sự nhạy bén trong việc lựa chọn từ ngữ để phản ánh đúng bản chất của các vấn đề xã hội, từ đó tạo ra sự kết nối giữa báo chí và cộng đồng.

II. Phân tích từ ngữ biểu thị văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng

Phân tích từ ngữ trên báo Đà Nẵng cho thấy sự đa dạng và phong phú trong cách diễn đạt các vấn đề văn hóa xã hội. Các từ ngữ được sử dụng không chỉ mang tính chất thông tin mà còn chứa đựng giá trị văn hóa sâu sắc. Từ ngữ biểu thị các vấn đề như ma túy, mại dâm, và các tệ nạn xã hội khác thường được sử dụng để cảnh báo và nâng cao nhận thức của cộng đồng. Việc sử dụng các từ ngữ này không chỉ đơn thuần là thông tin mà còn là một cách thức để giáo dục và định hướng dư luận. Phân tích xã hội qua ngôn ngữ báo chí giúp làm rõ hơn những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay.

2.1. Các loại từ ngữ và ý nghĩa của chúng

Các loại từ ngữ được sử dụng trên báo Đà Nẵng rất đa dạng, từ từ ngữ địa phương đến từ ngữ chuyên ngành. Từ ngữ địa phương thường mang đậm bản sắc văn hóa của vùng miền, giúp người đọc cảm nhận được sự gần gũi và thân thuộc. Ngược lại, các từ ngữ chuyên ngành thường được sử dụng trong các bài viết liên quan đến các lĩnh vực như giáo dục, y tế, và pháp luật. Việc phân loại và phân tích các loại từ ngữ này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức truyền tải thông tin mà còn phản ánh được sự phát triển của văn hóa xã hội trong từng giai đoạn.

III. Đánh giá tác động của báo Đà Nẵng đến văn hóa xã hội

Báo Đà Nẵng đã có những tác động tích cực đến văn hóa xã hội thông qua việc phản ánh và đưa tin về các sự kiện văn hóa, các hoạt động cộng đồng. Những bài viết này không chỉ cung cấp thông tin mà còn khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động văn hóa. Tác động văn hóa của báo chí thể hiện rõ qua việc nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề xã hội, từ đó tạo ra sự thay đổi tích cực trong hành vi và thái độ của họ. Việc báo chí chú trọng đến các vấn đề văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra một môi trường sống lành mạnh hơn cho cộng đồng.

3.1. Vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng

Báo Đà Nẵng đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề văn hóa xã hội. Các bài viết không chỉ đơn thuần là thông tin mà còn là những bài học quý giá cho người đọc. Thông tin xã hội được truyền tải một cách rõ ràng và dễ hiểu, giúp người dân dễ dàng tiếp cận và hiểu biết về các vấn đề đang diễn ra xung quanh họ. Điều này không chỉ giúp nâng cao ý thức cộng đồng mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và phát triển bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, các phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CHƢƠNG 2: KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI, MIÊU TẢ TỪ NGỮ BIỂU THỊ VĂN HÓA XÃ HỘI TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG CHƢƠNG 3: CÁC PHƢƠNG DIỆN BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ VĂN HÓA XÃ HỘI TRÊN BÁO ĐÀ NẴNG Luan van 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái quát về từ ngữ và ngôn ngữ báo chí 1. Khái quát về từ Từ là một khái niệm quan trọng và không đơn giản. Vấn đề về khái niệm từ đã và đang đƣợc bà luận rất nhiều trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học.

Từ không chỉ là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về từ nhƣng chƣa có định nghĩa nào thỏa mãn các nhà nghiên cứu. Trong khoảng hơn 6000 ngôn ngữ đƣợc sử dụng trên thế giới, từ đƣợc biểu hiện với rất nhiều hình thức đa dạng.Sherba đã viết: trong thực tế, từ là gì? Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. do đó, tất sẽ không có khái niệm từ nói chung.

Tuy vậy, trong thực tế vẫn tồn tại những định nghĩa về từ. Trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cƣơng” F. Saussure [23] viết nhƣ sau: Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tƣ tƣởng chúng ta nhƣ một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa”. Sách ngữ văn định nghĩa: từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.

( sách Ngữ văn 6, Tập 1, tr. Hầu hết bất kì nhà ngôn ngữ học nào khi đi vào nghiên cứu một ngôn ngữ cụ thể đều cố gắng tìm hiểu tính đặc thù của từ trong ngôn ngữ ấy và đƣa ra những định nghĩa. Trong sự đa dạng về các thuộc tính của từ vẫn có thể tìm thấy những thuộc tính bản chất chung cho từ trong mọi ngôn ngữ. Những thuộc tính phổ quát ấy, theo V.Sholncev là: a) Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa; b) Từ có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời.

Nhƣ vậy, khi nói từ là đơn vị ngôn ngữ là có hàm ý muốn phân biệt nó với câu trong tƣ cách là đơn vị của lời nói. Còn nói đến tính hai mặt (âm và nghĩa) của từ là muốn nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của nó cả về cấu trúc hình thái (gọi là vỏ ngữ âm) cũng nhƣ về ngữ nghĩa (dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp). Chính tính hoàn Luan van 6 chỉnh về âm và nghĩa này đã khiến cho từ có khả năng độc lập về mặt ngữ pháp khi sử dụng trong lời. Và ngƣợc lại, tính độc lập về cú pháp của từ minh chứng cho tính hoàn chỉnh của nó trong tƣ cách là một đơn vị của ngôn ngữ.

Trong hai thuộc tính vừa nêu, V.Solnsev cho rằng thuộc tính thứ hai là thuộc tính bản chất, và trái với nhận định của L.Sherba, từ nói chung dầu sao vẫn tồn tại [16]. Xuất phát từ tiêu chí ngữ nghĩa, L.Bloomfield, đại biểu Trƣờng phái Miêu tả luận Mỹ quan niệm: từ là hình thái tự do nhỏ nhất (free), mà hình thái tự do nhỏ nhất là bất kỳ hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn, khác với hình thái ràng buộc (bound) vốn không thể nói riêng một mình. Về mặt thủ thuật nghiên cứu, hình nhƣ L.Bloomfield muốn khái quát hoá cách hiểu của mình. Còn trên bình diện lý thuyết, định nghĩa này vấp phải những luận điểm rất cơ bản.

Bởi vì, với định nghĩa này, ranh giới giữa hình vị với từ, từ với câu đã trở nên mơ hồ dẫn đến lẫn lộn những cấp hệ ngôn ngữ vốn rất khác nhau. Đồng thời, đặc tính tự do (free) hay ràng buộc (bound) thực chất không nói lên đƣợc gì cái đặc điểm cấu trúc - chức năng của từ.Lyons, mặc dù quan niệm của Bloomfield đã đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học lớn chấp nhận nhƣng hầu nhƣ không thể coi là thoả đáng đƣợc [21]. Nhìn chung, những nhƣợc điểm của nhiều định nghĩa về từ vốn là do đối tƣợng nghiên cứu hết sức phức tạp và đa dạng, khó có thể có một cái nhìn bao quát đƣợc. Đúng nhƣ sự tổng kết của nhà ngôn ngữ học Xô-viết S.

Jakhontov: các nhà nghiên cứu khác nhau, ít nhất có 5 quan niệm khác nhau về cái đƣợc gọi là từ : * Từ chính tả: là khoảng cách giữa hai chỗ trống trên chữ viết. Từ đƣợc định nghĩa nhƣ vậy trong những công trình dịch máy. Định nghĩa này có liên quan đến nguyên tắc viết liền hay viết rời những kết cấu nào đó trong chính tả. Tuy nhiên, nguyên tắc chính tả không phải bao giờ cũng phản ánh đúng hiện tƣợng tồn tại khách quan trong ngôn ngữ cũng nhƣ trong cảm thức của ngƣời bản ngữ.

Đồng thời có những ngôn ngữ mà trên chữ viết không có những khoảng trống giữa các từ thì không có từ chính tả, nhƣ chữ viết Thái Lan. Luan van 7 * Từ từ điển học: là căn cứ đặc điểm ý nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển. Tiêu chuẩn tính thành ngữ về nghĩa do A. Xmiriskij đƣa ra chính là đặc trƣng của từ từ điển học.

Nhƣ vậy, từ trong từ điển học không nhất thiết trùng với từ chính tả. Ngƣợc lại, có nhiều trƣờng hợp, từ chính tả chỉ tồn tại với tƣ cách là bộ phận từ của từ điển học. * Từ ngữ âm: là nhóm các hình vị đƣợc thống nhất bởi các hiện tƣợng ngữ âm nào đó. Từ ngữ âm trong mỗi ngôn ngữ có những đặc trƣng riêng của mình: trọng âm, sự hài hoà nguyên âm, sự biến đổi của những âm tố nào đó trong phạm vi của một từ…Xuất phát từ những đặc điểm nhƣ vậy, từ ngữ âm là cái mơ hồ nhất trong tất cả những hiện tƣợng đƣợc gọi là từ.

Bởi vì, mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp khác nhau. * Từ biến tố: là một phức thể luôn luôn gồm hai phần. Một phần có ý nghĩa đối tƣợng (thân từ), phần kia (biến tố) biểu thị những quan hệ cú pháp của từ đó với những từ khác trong câu. Nhƣ vậy, những ngôn ngữ nhƣ tiếng Việt, tiếng Hán không thể có từ biến tố.

*Từ hoàn chỉnh: là nhóm hình vị không thể tách hoặc hoán vị các hình vị đó mà lại không làm thay đổi nghĩa của chúng hoặc không vi phạm mối liên hệ của chúng [8]. * Từ Tiếng Việt: Cũng giống nhƣ định nghĩa về từ, từ trong tiếng Việt cũng khá phức tạp về mặt định nghĩa. Ranh giới từ trong tiếng Việt vẫn đang là vấn đề nan giải. sở dĩ nhƣ vậy là vì từ là một khái niệm cơ bảm của ngôn ngữ nhƣng cũng là đơn vị đa dạng và khó định nghĩa nhất trong ngôn ngữ học đại cƣơng.

Từ xƣa đến nay, những tiếng độc lập, có nghĩa đƣợc xem là từ đơn tiết. còn những tiếng không độc lập thì đƣợc xử lí khác nhau. nhìn chung có hai khuynh hƣớng chính trong phân định từ tiếng Việt. (1) Từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng): Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là M.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp.

Luan van 8 - Emeneau (1951) định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu. - Cao Xuân Hạo (1998): Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thƣờng đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục đƣợc tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu nhƣ là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết.

- Nguyễn Thiện Giáp (1996): Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền. Có thể nói, Nguyễn Thiện Giáp là ngƣời có những kiến giải tiêu biểu nhất. Tác giả coi mỗi tiếng là một từ. Những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng mà thành đƣợc tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ.

Bởi lẽ, theo tác giả, về mặt tâm lí ngôn ngữ học, cái đơn vị gọi là tiếng trong Việt ngữ hoàn toàn tƣơng đƣơng với cái gọi là từ của các ngôn ngữ Ấn – Âu. Vả lại, truyền thống Ngữ văn Việt Nam trƣớc đây đều coi tiếng là đơn vị cơ bản [8]. (2) Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết: Khuynh hƣớng thứ hai bao gồm phần lớn các nhà Việt ngữ học trong và ngoài nƣớc. Có thể nhắc đến những tác giả tiêu biểu nhƣ Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, Đái Xuân Ninh, Lƣu Văn Lâng, Hồ Lê, Nguyễn Văn Chình-Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành,.

- Trƣơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra đƣợc. - Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử. Luan van 9 - Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp. - Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.

- Ðái Xuân Ninh: Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó đƣợc cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh. Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất.

Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Nghiên cứu từ ngữ về văn hóa xã hội trên báo Đà Nẵng" của tác giả Trương Thị Hoài Thương, dưới sự hướng dẫn của PGS-TS Lê Đức Luận, là một nghiên cứu sâu sắc về cách mà ngôn ngữ phản ánh văn hóa xã hội qua các bài viết trên báo Đà Nẵng. Năm 2018, tại Đại học Đà Nẵng, tác phẩm này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong việc truyền tải và xây dựng nhận thức văn hóa xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Lãnh đạo phát triển văn hóa xã hội tại các tỉnh ủy đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay, nơi đề cập đến vai trò lãnh đạo trong việc phát triển văn hóa xã hội, hoặc bài viết Luận án tiến sĩ về chính sách phát triển công chức văn hóa xã hội cấp xã tại vùng Tây Nam Bộ, nghiên cứu về chính sách công trong lĩnh vực văn hóa xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về sự phát triển văn hóa xã hội tại Việt Nam.