Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm làm việc 1. Khái niệm hội họp Theo các nhà ngôn ngữ học “Hội họp” là khái niệm được tạo thành bởi hai từ “hội” và “họp”. Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đưa ra khái niệm về thuật nghữ này như sau: Hội: 1. Cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt.
Tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động Họp là khái niệm chỉ ra một nhóm người tập trung lại có mục đích để bàn bạc, phổ biến hoặc giải quyết một vấn đề hay nhiều vấn đề [7, tr. Trong Quy định (Chế độ họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước) của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra khái niệm về họp trong các cơ quan Nhà nước như sau: Họp là một hình thức của hoạt động quản lý nhà nước, là một cách thức để giải quyết công việc, thông qua đó thủ trưởng cơ quan hành chính Nhà nước trực tiếp thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động trong việc giải quyết công việc thuộc chức năng thẩm quyền của cơ quan mình theo qui định của pháp luật. Qua khái niệm về hội họp này chúng ta có thể thấy sự khác biệt lớn giữa hội họp và lễ hội, nó không chỉ khác nhau về nội hàm của thuật ngữ mà nó còn khác biệt cả về tính chất giữa hai khái niệm này. Như vậy, chúng ta có thể đưa ra một cách hiểu tương đối khái quát về hội họp như sau: Hội họp là một nhóm người có tổ chức nhất định tập trung lại có mục đích 19 z được pháp luật thừa nhận để bàn bạc, phổ biến hoặc giải quyết một hay nhiều vấn đề.
Khái niệm văn hóa Văn hóa (Culture) là một danh từ độc lập được sử dụng từ thế kỷ XVIII, trong tiếng Anh nó có hai nghĩa: trồng trọt. Người đầu tiên có công đưa từ Culture vào khoa học là S. Pufendorf nhà nghiên cứu pháp luật người Đức. Cho đến nay, văn hóa đã trở thành thuật ngữ khoa học, nhưng do mỗi một ngành khoa học tiếp cận từ quan điểm của mình để đưa ra khái niệm về văn hóa nên đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Dưới góc độ Nhân học, E. Tylor đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ nhân học, được xem là tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, các quy tắc đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ kĩ năng hay thói quen do con người, với tư cách là một thành viên xã hội” [26, tr 94]. Ở quan điểm này, Tylor chỉ ra sự khác biệt giữa tự nhiên và văn hóa, đồng thời trên quan điểm này thì chỉ có sự khác biệt về văn hóa, chứ không có sự so sánh giữa các nền văn hóa. Hạn chế của khái niệm này là chưa chỉ rõ văn hóa vật chất, cũng như chưa làm rõ được mối liên hệ giữa các yếu tố của văn hóa.
Bên cạnh đó tác giả của khái niệm này không phân biệt giữa văn minh và văn hóa. Các nhà Văn hóa học có thể lấy quan điểm của Trần Ngọc Thêm, ông cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [17, tr 27] Ở quan điểm trên, ta thấy khái niệm thiên về tính giá trị, các nhà văn hóa học đã đề cập đến trình độ phát triển của lịch sử loài người. Văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con 20 z người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa.
Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Đối với các nhà Xã hội học có thể kể đến W. Thomas (1863 – 1947), nhà Xã hội học người Mỹ coi Văn hóa là “các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tuc, tâm thế, phản ứng cư xử), không phụ thuộc vào việc đó là người man rợ hay là người văn minh” [8, tr 18] Chúng ta có thể thấy trong khái niệm về “Văn hóa” này đã đưa ra tính tương đối của hệ thống giá trị, tôn trọng sự khác biệt các nền văn hóa khác nhau. Tuy nhiên, nó vẫn chưa thực sự đầy đủ do tác giả xem nhẹ các mối quan hệ tương tác cũng như những biến đổi tất yếu của hệ thống này từ quá khứ đến hiện tại.
Hay một khái niệm văn hóa đầy đủ hơn: “Văn hóa là một sản phẩm của con người, là cách quan niệm cuộc sống, tổ chức cuộc sống và sống cuộc sống ấy. Văn hóa là để đáp ứng những nhu cầu nhất định của con người, là “mức độ con người hóa” chính bản thân mình và tự nhiên” [12, tr 240] Theo cách này, văn hóa đặc trưng cho một xã hội nhất định và đem lại diện mạo bản sắc riêng của nó. Để triển khai đề tài nghiên cứu này, chúng tôi nêu các cách định nghĩa về văn hóa của các nhà xã hội học với đặc trưng căn bản là các giá trị, chuẩn mực và khuôn mẫu ứng xử trong xã hội. Quan niệm văn hóa hội họp Với những khái niệm về hội họp và văn hóa, tác giả đưa ra quan niệm của mịnh về văn hóa hội họp như sau: Văn hóa hội họp là toàn bộ những hệ thống giá trị, chuẩn mực dẫn đến hành động tương tác giữa những người tham gia cuộc hội họp, hay những hành vi của cá nhân diễn ra trong cuộc hội họp.
Định nghĩa “quan niệm” Định nghĩa về quan niệm được đưa ra trong từ điển tiếng việt, “Quan niệm là cách nhìn, cách suy nghĩ, ý kiến về một vấn đề nào đó” [7, tr 1029] Như vậy, quan niệm được xếp vào quá trình nhận thức của con người về sự kiện, hiện tượng, và phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của cá nhân. Khái niệm hành vi ứng xử Khái niệm “hành vi ứng xử” được hình thành từ hai khái niệm: Khái niệm hành vi và Khái niệm ứng xử. Các nhà ngôn ngữ học cho rằng: “hành vi con người là toàn bộ những phản ứng cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định” [ 23, tr 259] Trong cách tiếp cận của các nhà Tâm lý học, hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy. Trong Tâm lý học Xô Viết, hành vi con người được xem như là hoạt động, tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu trong ý nghĩa khác.
Hình thức tiêu biểu nhất của hành vi người là lao động và giao tiếp. Sự độc đáo của hành vi cá nhân phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng giá trị và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm [22, tr. Đứng trên quan điểm về “hành vi” của các nhà Tâm lý học thì hành vi sơ đẳng của con người được chia thành các loại sau: * Hành vi bản năng (bẩm sinh di truyền): là hành vi có đặc điểm như thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể; Có thể là tự vệ; mang tính lịch sử; mang tính văn hoá mỗi quốc gia vùng miền. 22 z * Hành vi kỹ xảo: là loại hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập; Có tính mềm dẻo và biến đổi; nếu được định hình trên vỏ não và củng cố thì sẽ bền vững không thay đổi.
* Hành vi đáp ứng: là hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành vi ngược lại với sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn. * Hành vi trí tuệ: hành vi đạt được do hoạt động trí tuệ nhằm nhận thức được bản chất của các mối quan hệ xã hội có quy luật của sự vật hiện tượng để đáp ứng và cải tạo thế giới. “Ứng xử” là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người với người trên mọi lĩnh vực cuộc sống xã hội. Theo từ điển tiếng Việt, "ứng xử" được giải thích là "có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự".
Còn trong Từ điển tâm lí học các soạn giả lại cho rằng hai từ "ứng xử" và "hành vi" thường dùng thay thế cho nhau. "Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh. Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được chứ không như tình ý bên trong thì nói là ứng xử. Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi" [ 23, tr 260] Theo các nhà Xã hội học, ứng xử được luận giải như sau: “Liên hệ xã hội được thực hành và thực hiện bằng những hành động như thế nào đó giữa các cá nhân, giữa các nhóm với nhau.
Hành động như thế nào đấy đối với nhau và cụ thể hóa, khách thể hóa mối liên hệ xã hội. Hành động (và nói) như thế nào đấy là ứng xử” [6, tr 64] Quan điểm này cho thấy: ứng xử là sự phản ứng có lựa chọn, thể hiện qua lời nói hoặc hành vi của con người, trước sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể. 23 z Hành vi ứng xử của con người chịu sự chi phối bởi các yếu tố khách quan nhưng cũng đồng thời phụ thuộc vào khả năng tri thức và nhân cách nội tại của mỗi cá nhân. Tóm lại, nghiên cứu hành vi ứng xử trong hội họp thì việc sử dụng khái niệm hành vi ứng xử có vai trò quan trọng khi giải thích hành vi của mỗi cá nhân khi tham gia vào quá trình tương tác.