chương 1 Để giữ chân được nhân viên các khác sạn cần phải nhận dạng, xem xét, đánh giá đúng các yếu tố có ảnh hưởng đến sự trung thành của nhân viên, dựa trên cơ sở đó khách sạn sẽ có những hướng đi phù hợp trong công tác quản trị nguồn nhân lực. Từ lý do này nên đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự trung thành của nhân viên đối với Khách sạn 4 sao tại Vũng Tàu”.Mục tiêu của đề tài này là: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự trung thành của nhân viên trong các khách sạn, từ đó đề xuất những hàm ý quản trị để nâng cao lòng trung thành của nhân viên đối với khách sạn mà họ đang làm việc. Đối tượng nghiên cứu là những người hiện nay đang làm việc tại khách sạn 4 sao như: Vung Tau Intourco Resort, Khách sạn Grand. Nghiên cứu thực hiện theo 2 giai đoạn : nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. LÝ THUYẾT VỀ LÒNG TRUNG THÀNH Có nhiều cách tiếp cận trong các nghiên cứu về lòng trung thành của nhân viên. Trung thành có thể là một yếu tố thành phần của cam kết tổ chức, cũng có thể là một khái niệm độc lập. (1990) chú trọng 3 trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết với tổ chức.
Nhân viên có thể trung thành với tổ chức: - Vì tình cảm thực sự của họ, họ sẽ ở lại với tổ chức dù cho nơi khác trả lương cao hơn - Vì họ không có cơ hội tìm kiếm được công việc tốt hơn - Và có thể vì những chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi. Mowday và cộng sự (1979), trung thành là “ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức”. Định nghĩa nổi tiếng của Mowday về lòng trung thành tương tự như khái niệm “Duy trì” trong các nghiên cứu ở phạm vi quốc gia trong nhiều năm liền của Viện Aon Consulting : Nhân viên có ý định ở lại lâu dài cùng tổ chức/doanh nghiệp; sẽ ở lại cùng tổ chức/doanh nghiệp mặc dù có nơi khác có lời đề nghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn (Stum 1999-2001). Loyalty Research Center (1990) đã định nghĩa lòng trung thành của nhân viên là việc nhân viên gắn kết với sự thành công cho tổ chức và tin tưởng rằng sự lựa chọn tốt nhất của họ là làm việc cho tổ chức này.
Không chỉ thực hiện các kế hoạch để tồn tại với tổ chức mà họ cũng không chủ động tìm kiếm cơ hội thay đổi công việc cũng như không đáp lại những lời mời gọi hấp dẫn khác. Theo cách định nghĩa này thì lòng trung thành của nhân viên là việc họ “muốn” ở lại với tổ chức và họ không có dự định nghỉ việc. Trong giai đoạn toàn cầu hoá và Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì nhu cầu thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao càng làm cho thị trường lao động nóng hơn. Mặt khác, các công ty săn đầu người chuyên cung cấp nguồn nhân lực thì có những chiến lược nhất định để thu hút nguồn nhân lực có trình độ và được đào tạo sẵn để cung cấp cho các công ty có nhu cầu.
Vì thế, về mặt doanh nghiệp thì vấn đề quản trị nguồn nhân lực, làm sao để duy trì được nguồn lực con người, giữ chân người giỏi, tránh tình trạng chảy máu chất xám để đảm bảo hoạt động ổn định của công ty là bài toán khó cần có lời giải thích hợp nhất cho ban lãnh đạo. Mặt khác, về phía nhân viên thì làm sao để họ có thể cống hiến hết mình vì sự phát triển của công ty, có nhân viên coi thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm nhưng một số khác lại mong muốn có cơ hội học hỏi, phát triển nghề nghiệp. Nhìn chung, quan điểm mới về lòng trung thành chưa phổ biến rộng rãi ở các doanh nghiệp Việt Nam và còn gặp nhiều khó khăn trong việc đo lường. Vì vậy, trong khoá luận này vẫn sử dụng định nghĩa lòng trung thành của Mowday, coi trung thành là mong muốn ở lại lâu dài cùng doanh nghiệp.
Như vậy, lòng trung thành của nhân viên cần xem xét đến các yếu tố tác động từ phía doanh nghiệp và các yếu tố xuất phát từ lý do cá nhân nhân viên. Việc cân bằng qua lại lợi ích của doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu của nhân viên để nâng cao lòng trung thành của nhân viên. - Về phía doanh nghiệp: để làm vừa lòng tất cả người lao động trong tổ chức là điều rất khó và ít tổ chức nào làm được điều đó. Có thể cách quản trị này phù hợp với người này nhưng lại không phù hợp với người khác.
Biết cách quản lý nhân viên tốt, làm cho sự hài lòng của họ tăng lên thì chắc chắn lòng trung thành của họ cũng tăng lên rất nhiều. Nguồn nhân lực mạnh không những tạo lợi thế cạnh tranh mà còn quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Một chiến lược giữ gìn và phát triển nguồn nhân lực phải đi từ gốc, theo một chuỗi liên tục từ khâu tuyển dụng đến đào tạo giữ gìn và phát huy nguồn nhân lực. Nó bao gồm yếu tố tạo nguồn, yếu tố giảm bất mãn và yếu tố động viên.
Như vậy, để có được lòng trung thành của nhân viên không phải là điều dễ dàng, phải biết kết hợp giữa lợi ích nhân viên cũng như công ty, phải có nhiều yếu tố kết hợp với nhau trong đó phải kết hợp hài hoà giữa yếu tố thuộc về lợi ích và yếu tố thuộc về tinh thần. Việc tạo dựng lòng trung thành và giữ chân nhân viên giỏi là điều không đòi hỏi nhiều tiền bạc, mà chỉ cần sự quan tâm chân thành của lãnh đạo doanh nghiệp, có như vậy mới tiết kiệm được chi phí và thời gian để đào tạo nhân viên mới. - Về phía nhân viên: lòng trung thành của nhân viên được nâng cao khi các nhu cầu về mặt cá nhân được thoả mãn. Một khi nhu cầu được đáp ứng họ sẽ có mong muốn phục vụ kết mình vì lợi ích của công ty.
Tuy nhiên, nhu cầu của nhân viên cũng rất khác nhau nên ngoài các yêu tố lợi ích thì các yếu tố về mặt tinh thần như văn hoá doanh nghiệp, môi trường làm việc, sự đánh giá của lãnh đạo, sự công bằng, cơ hội thăng tiến, sự trao quyền. là những nhân tố cực kỳ quan trọng không kém bởi hiệu quả đem lại nhưng chi phí thấp. Một môi trường làm việc luôn tràn đầy niềm vui, tình thân ái giữa các nhân viên sẽ tạo cảm giác thích thú, sảng khoái, giúp họ đạt hiệu suất cao trong công việc và hơn nữa lòng trung thành của họ càng mạnh hơn. Theo mô hình thang đo lòng trung thành của nhân viên của Man Power (2002), những tiêu chuẩn đánh giá lòng trung thành bao gồm : “Sẵn lòng giới thiệu công ty của mình như một nơi làm việc tốt; Sẵn lòng giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ của công ty; Có ý định gắn bó lâu dài với công ty”.
Một số tổng giám đốc cho rằng các tổ chức muốn có một nhân viên ngôi sao trong ba năm còn hơn có một nhân viên ở lại với công ty suốt đời nhưng lực kém cỏi. Tuy nhiên, quan điểm mới về lòng trung thành chưa phổ biến rộng rãi ở các doanh nghiệp Việt Nam và còn gặp khó khăn trong việc đo lường. Vì vậy, nghiên cứu này vẫn sử dụng định nghĩa lòng trung thành của Mowday và các cộng sự (1979), cùng với thang đo lòng trung thành của nhân viên của Man Power (2002). MỘT SỐ LÝ THUYẾT ĐỘNG VIÊN KÍCH THÍCH TRONG VIỆC TẠO SỰ TRUNG THÀNH CỦA NHÂN VIÊN Động viên là tạo ra sự hăng hái, nhiệt tình , phấn khởi và trách nhiệm hơn trong quá trình thực hiện công việc cuả các thuộc cấp, qua đó làm cho công việc được hoàn thành một cách có hiệu quả cao.
Để một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có đội ngũ nhân viên làm việc hăng say, nhiệt tình để đem lại được nhiều thành công cho công ty. Để tạo ra sự hăng say, nhiệt tình đó chính là động viên và đây chính là nhiệm vụ quan trọng của nhà lãnh đạo để tạo ra sự gắn kết của nhân viên dẫn đến sự trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp.1 Lý thuyết về nhu cầu của Maslow Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn. Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: Hình 2.
Tháp nhu cầu của Maslow - Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý : đó là nhu cầu liên quan đến các yếu tố cần thiết để tồn tại như thức ăn, không khí, nhà ở, quần áo. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện chủ yếu ở tiền lương và các khoản phúc lợi. - Nhu cầu an toàn : bao gồm an toàn về bản thân như không bị tấn công, chiến tranh đe doạ, thiên tai; an toàn về tài chính như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp; an toàn về sức khoẻ như không bị bệnh, tai nạn,. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện ở chỗ công việc an toàn, có bảo hộ lao động, công việc ổn định lâu d à i.
- Nhu cầu xã hội : Khi nhu cầu sinh lý và an toàn được thoả mãn thì nhu cầu thứ ba cao hơn xuất hiện đó là nhu cầu có được các mối quan hệ xã hội như bạn bè, gia đình, được tham gia vào cộng đồng xã hội, được yêu thư ơ ng,. - Nhu cầu được tôn trọng: Mọi người đều có nhu cầu được tôn trọng và tự trọng. Sự tôn trọng thể hiện ở việc con người muốn được chấp nhận và quý trọng bởi người khác. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện việc được tổ chức ghi nhận những đóng góp của nhân viên, được làm việc ở vị trí cao và tăng thêm trách nhiệm.
- Nhu cầu tự khẳng định: Đây là nhu cầu cao nhất và khó thoả mãn nhất trong bậc thang nhu cầu của Maslow. Đây là nhu cầu được thể hiện cái “Tôi” của mỗi người. Nói rõ hơn, ở bậc này con người có nhu cầu được phát triển năng lực bản thân và tự hoàn thiện.