CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH 1. LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Các khái niệm và lý thuyết có liên quan 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Liên Hợp quốc, “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Có thể nói, nguồn lực con người đóng vai trò như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn công nghệ, vốn tiền tệ, cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên… Theo David Begg (2008) cho rằng “NNL là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó có thể đem lại thu nhập trong tương lai”. Tác giả này cho rằng kinh nghiệm thực tế tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất là cốt lõi vì tất cả mọi của cải, vật chất của hiện tại và tương lai đều được tạo ra từ chính những kiến thức, kinh nghiệm thực tế này (theo Nguyễn Thị Ngọc Nga – Lê Thị Phượng Liên - 2020). Theo viện nghiên cứu và phát triển nguồn lực Việt thì NNL chính là một trong những nguồn lực hữu hình, ảnh hưởng đến chiến lược quản trị của doanh nghiệp. Nguồn lực này tạo nên lợi thế cạnh tranh, đóng vai trò chủ chốt trong thành công của một công ty.
Theo Đoàn Văn Khái (2005) thì NNL là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội (nguồn: Nguyễn Thị Tố Uyên – 2020). Nguồn nhân lực được thể hiện trên hai mặt: * Về số lượng, đó là tổng số người trong độ tuổi lao động theo quy định của nhà nước có thể làm việc và tổng thời gian lao động mà họ có thể mang lại. 5 * Về chất lượng, đó là trình độ chuyên môn, kiến thức và mức độ lành nghề trong công việc, là tình trạng sức khỏe của người lao động để có thể mang đến chất lượng cho công việc. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Trần Văn Phòng – Lê Thị Hạnh (2023) quan niệm nhân lực CLC để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề “về chuyên môn kỹ thuật” tương ứng với yêu cầu của một ngành nghề cụ thể theo những tiêu chí phân loại lao động về trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định, có phẩm chất xã hội tốt đẹp.
Theo Lê Trung Can – Trần Bá Thọ (2022) thì NNL CLC là nhân lực đã qua đào tạo, có kiến thức tốt về một lĩnh vực công việc, thành thạo kỹ năng thực hiện công việc, có thể chất tốt và tiềm năng phát triển trong môi trường làm việc để đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại cũng như tương lai của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Đỗ Thị Hạnh (2022) lại cho rằng NNL CLC bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực. Đó là những người lao động có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo và có khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng tốt nhu cầu của thực tiễn. Khái niệm nguồn nhân lực du lịch Theo Huỳnh Văn Thái – Võ Xuân Hậu (2020), nhân lực du lịch là khái niệm chỉ lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm các đơn vị sự nghiệp du lịch; cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các doanh nghiệp liên quan và cả những người làm việc trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về du lịch.
Bên cạnh đó, bộ phận nhân lực làm việc trong các ngành, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như văn hóa, hải quan, giao thông, xuất nhập cảnh, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ công cộng, môi trường, bưu chính viễn thông, cộng đồng dân cư.cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Có thể thấy rằng NNL du lịch không chỉ tác động và đóng vai trò quyết định đối với ngành du lịch, mà độ bao phủ của nó còn góp phần không nhỏ cho sự phát triển của những ngành, lĩnh vực khác có liên quan. Khái niệm nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao Theo La Hoàn, yếu tố CLC của NNL thể hiện: Đối với nhóm gián tiếp (lãnh đạo, quản lý, nhà nghiên cứu, đào tạo…): NNL CLC của nhóm gián tiếp phải đạt được yêu cầu: phải có tài trong lãnh đạo, quản lý, sử dụng và biết cách giữ chân người tài; có khả năng phát huy lòng yêu nghề, khả năng cống hiến và sáng tạo; phải có tâm trong thu phục lòng người; phải có tầm nhìn xa về xu hướng vận động của ngành du lịch trong mối quan hệ với thế giới, với hiện trạng đất nước, có khả năng dự báo và có kế hoạch để sánh ngang, vượt qua đối thủ. Đối với nhóm trực tiếp (lễ tân, phục vụ buồng, bàn, hướng dẫn viên, đầu bếp…): phải đảm bảo các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, có kỹ năng nghề, có khả năng sáng tạo trong công việc, kỹ năng sống tốt, biết phối hợp công việc để hoàn thành với hiệu suất cao, biết vận dụng công nghệ tiên tiến phù hợp…Và một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực phục vụ du lịch, đó là trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là ngoại ngữ chuyên ngành (nguồn: Vũ Thị Huệ - 2022).
Khám niệm khu du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch được phân thành 2 cấp là cấp Tỉnh và cấp Quốc gia. Trong đó, khu du lịch cấp Tỉnh cần đáp ứng những điều kiện cần có sau: - Có tài nguyên du lịch với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định. - Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch.
- Có kết nối với hệ thống hạ tầng giao thông, viễn thông quốc gia. - Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực du lịch Theo Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2025, định hướng đến 2030 của Sở Du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch là sự tăng trưởng về số lượng, phát triển về cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch trên các mặt như: mức độ đáp ứng yêu cầu công việc, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thể chất và tinh thần, thái độ làm việc bằng các hoạt động như thu hút, xây dựng chính sách, hoạt động liên kết và biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển du lịch của địa phương. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Theo FASTDO (2024), có 5 tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực như sau.
Tiêu chí đánh giá về nhân tố trí lực Trí lực là nhân tố hàng đầu trong tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, được thể hiện qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và kỹ năng mềm. Sự kết hợp của những yếu tố này là vô cùng cần thiết và sẽ giúp doanh nghiệp hướng tới những thành quả tốt hơn, đồng thời làm giảm chi phí và thời gian trong quá trình quản lý. Để nâng cao trí lực của nhân sự, những chương trình huấn luyện nội bộ, đào tạo chuyên môn đóng vai trò then chốt. Tiêu chí đánh giá về nhân tố thể lực Sức khỏe ổn định giúp người lao động làm việc tốt hơn, giúp gia tăng sự dẻo dai và khả năng chịu áp lực công việc với cường độ cao.
Sự vui vẻ thoải mái trong công việc giúp gia tăng năng suất và hiệu quả lao động. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần cho nhân sự. Những khoảng thời gian giải lao, nghỉ ngơi 8 giữa giờ, hoạt động teambuilding…đã được áp dụng. Những hoạt động này ngoài tác dụng gắn kết nội bộ công ty, còn giúp cho nhân sự luôn trong trạng thái tốt nhất.
Tiêu chí đánh giá về nhân tố tâm lực Tâm lực là một trong các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt quan trọng. Cụ thể, người lao động phải có đạo đức, thái độ và hành vi phù hợp với các tiêu chuẩn. Tùy vào đặc điểm của tổ chức mà mỗi công ty sẽ xây dựng một hệ thống đánh giá chất lượng nhân lực thông qua yếu tố tâm lực khác nhau, nhìn chung các tiêu chí được sử dụng phổ biến là: - Tiêu chí về phẩm chất cá nhân và đạo đức nghề nghiệp - Tiêu chí về thái độ và ý thức cho công việc - Tiêu chí về tác phong làm việc - Tiêu chí đánh giá sự chuyên nghiệp như kỹ năng chuyên môn hoặc thâm niên trong ngành. Tiêu chí đánh giá thông qua chất lượng đầu ra công việc Kết quả trong quá trình làm việc của nhân viên phản ánh kỹ năng chuyên môn và sự phù hợp với công việc.
Dựa vào thông tin về chất lượng đầu ra, nhà quản lý sẽ có thông tin về sự nỗ lực, khả năng và ưu nhược điểm của người lao động. Hơn nữa, công ty cũng sẽ tìm ra được nguyên nhân đằng sau việc nhân viên không đạt đủ tiêu chí, từ đó doanh nghiệp sẽ xem xét điều chỉnh chính sách gia tăng chất lượng nhân lực phù hợp và đúng thời điểm. Người lao động có thể được đào tạo lại, hoặc được khuyến khích qua việc tăng lương hoặc thăng chức nhờ kết quả trong quá trình làm việc. Tiêu chí đánh giá thông qua cơ cấu nguồn nhân lực Những yếu tố dùng để đánh giá thông qua cơ cấu NNL được sử dụng chính là độ tuổi và giới tính.
Từ đó doanh nghiệp sẽ căn cứ vào thông tin có được để quyết định việc lựa chọn nguồn nhân lực cho phù hợp. - Tiêu chí đánh giá qua cơ cấu theo độ tuổi: Cơ cấu tuổi tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động.