Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Nguồn nhân lực Theo Tổ chức Liên Hiệp Quốc “Nguồn nhân lực là những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, năng lực, thể lực và sự sáng tạo của con người có liên quan đến sự phát triển của cá nhân và của đất nước” [31, pg. Theo Ngân hàng Thế giới “sự phát triển của một quốc gia đều có sự đóng góp của nguồn nhân lực có thể là trực tiếp hoặc có thể là tiềm năng.
Theo đó, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên [33, pg. Có ý kiến cho rằng,nguồn nhân lực là chất lượng con người, được thể hiện thông qua trí tuệ, năng lực và phẩm chất, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, ngoài ra, NNL phải có sức khỏe để đáp ứng yêu cầu thực tế cần với thái độ và phong cách làm việc đảm bảo đạt muc tiêu quy định. NNL còn là sự tác động của con người vào quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thì đòi hỏi cần có nguồn nhân lực đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng, trong đó chú trọng và được giới hạn nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động [21, tr.
Theo Bộ Luật Lao động: nguồn nhân lực xã hội là những người có khả năng hoặc sẽ tham gia vào quá trình lao động kể cả người chưa đến tuổi lao động hoặc là trong độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên sẽ là yếu tố quyết định số lượng nguồn nhân lực; yếu tố di truyền và giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Như vậy, nói về chất lượng lao động là nói đến nguồn nhân lực [11, tr.TS Phạm Minh Hạc thì nguồn lực con người cũng bao hàm các yếu tố về thể chất, sức khỏe, trí tuệ, phẩm chất.TS Hoàng Chí Bảo cho rằng: “Nguồn lực con người là sự tổng hòa của thể lực và trí lực, của số lượng và chất lượng lao động tác động vào quá trình lao động sáng tạo của con người” [10, tr. 8 Luan van Theo GS.TS Nguyễn Đăng Thành, “Nguồn nhân lực” ngoài sự tổng hợp giữa các yếu tố số lượng, chất lượng trên cơ sở tiềm năng của mỗi quốc gia, địa phương và tổ chức, thì nguồn nhân lực còn có cả cơ cấu phát triển người lao động của hiện tại cũng như trong tương lai.
Tóm lại, cần phải hiểu một cách rõ nghĩa, nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động, người lao động có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia; nó bao gồm số lượng và chất lượng lao động được thể hiện thông qua các yếu tố về thể lực, tâm lực, trí lực, phong cách và thái độ đối với công việc. Phát triển nguồn nhân lực Trên cơ sở các khái niệm về nguồn nhân lực, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực chính là sự hoàn thiện, nâng chất nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và đạt yêu cầu về chất lượng trên các mặt trí lực, thể lực, tâm lực, kỹ năng chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của lao động đối với công việc. Phát triển nguồn nhân lực để cung cấp lực lượng lao động đủ lực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, vùng, địa phương.TS Phạm Thành Nghị cho rằng: để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội thì việc phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cần được quan tâm và thực hiện, bởi đây là điều kiện nâng cao giá trị vật chất, tinh thần, trí tuệ của người lao động, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đưa con người trở thành lao động có chất lượng cao, có đầy đủ năng lực và phẩm chất trước những yêu cầu của xã hội tiến bộ [17, tr. Với 3 yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu là điểu kiện để đánh giá và xem xét trong quá trình phát triển nguồn nhân lực.
Cụ thể, về mặt số lượng sẽ làm tăng số nhân lực trẻ cơ học thông qua các chính sách dân số, điều tiết cơ cấu vùng miền, cơ cấu sản xuất; về mặt chất lượng sẽ làm gia tăng sức khỏe, thể lực chiều cao, cân nặng, trình độ học vấn, chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp, lối sống, đạo đức tác phong, bản lĩnh hội nhập; về cơ cấu: sẽ giúp cân đối cơ cấu nguồn nhân lực trẻ phù hợp giữa các vùng miền, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, quản lý. Nguồn nhân lực ngành du lịch Nguồn nhân lực du lịch là nguồn lao động tham gia trong lĩnh vực du lịch với lực lượng lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là những người trực tiếp với công việc phục vụ khách du lịch; có sự tiếp xúc trực tiếp giữa du khách và người lao động. Lao động trực tiếp là người tham gia vào các hoạt động như lễ tân, hướng dẫn viên du lịch, phục vụ nhà hàng, khách sạn, quán ăn, nghiệp vụ phòng, nghiệp vụ bar, nghiệp vụ bếp, phục vụ bàn, phục vụ buồng.
Lực lượng lao động gián tiếp là những người phụ trách công tác quản lý nhà nước về du lịch, họ là người đề xuất, tham mưu và hoạch định các chính sách mang tính chiến lược trong thúc đẩy kinh doanh, đổi mới công tác quản lý, điều hành góp phần phát triển du lịch, tạo thế và lực cho nguồn nhân lực phát huy sự sáng tạo trong quá tham gia trực tiếp phục vụ du khách. Ngoài ra, lực lượng lao động gián tiếp còn là những người quản lý tại các cơ sở kinh doanh, cơ sở lưu trú và các công ty lữ hành trong các doanh nghiệp. Trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, nhân lực về du lịch chính là lực lượng quan trọng cần được quan tâm phát triển toàn diện, trong đó chú trọng đào tạo kỹ năng chuyên môn trong phục vụ du lịch để lực lượng này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển trong nước và vừa có thể đáp ứng tiêu chuẩn lao động các nước trong khu vực và quốc tế tạo vị trí xứng đáng trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch có chất lượng. Nguồn nhân lực tham gia trực tiếp và tham gia gián tiếp vào ngành du lịch chính là lực lượng nguồn nhân lực ngành du lịch, hay nói cách khác, nguồn nhân lực du lịch bao gồm nhân lực tiềm năng với những mong ước và đang nổ lực tìm kiếm công việc cho bản thân.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực Tác giả Vũ Đăng Minh và Lê Thị Lam Hương đã khẳng định: “Để có NNL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước thì đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách phù hợp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục con người trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng” [30, tr. 10 Luan van Để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải có những chính sách tối ưu và mang tính khả thi cao trong thực hiện các yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia, trọng tâm là chính sách phát triển nguồn nhân lực. Chính sách phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu nhất định được đề ra bởi các chủ thể quản lý trong việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng công dân trở thành nguồn nhân lực. Dưới góc độ hành chính công thì “Chính sách phát triển nguồn nhân lực là những hành động ứng xử của Nhà nước thông qua các hình thức khác nhau trong việc chăm lo, giáo dục công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế”.
Tóm lại, có thể hiểu chính sách phát triển nguồn nhân lực là những hành động của chủ thể quản lý trong việc thực hiện đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục công dân trở thành nguồn nhân lực để đạt những mục tiêu nhất định trong quá trình phát triển đất nước. Như vậy, chính sách phát triển nguồn nhân lực được thể hiện đầy đủ các yếu tố: cơ quan ban hành, hình thức văn bản, mục tiêu và nội dung của chính sách. Cụ thể, Nhà nước là cơ quan ban hành chính sách nguồn nhân lực, bao gồm Quốc hội, Chính phủ (cấp Trung ương), các bộ ngành thuộc Chính phủ và HĐND các cấp. Hình thức các chính sách được thể hiện thông qua hệ thống các Văn bản quy phạm pháp luật và pháp quy như Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư… Chính sách thường hướng đến mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu phát triển đất nước.
Nội dung chính sách đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, trình độ văn hóa, kỹ năng lao động, kỷ luật lao động, nâng cao tay nghề cho người lao động. Chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch Có thể khẳng định, chính sách phát triển NNL ngành du lịch là các chính sách ban hành tập trung vào việc chăm lo, bồi dưỡng để tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng, có kỹ năng chuyên sâu, có tay nghề cao đáp ứng tiêu chuẩn, quy định của các nước trong khu vực, đủ khả năng tham gia vào quá trình phân công lao động của quốc tế, đưa du lịch Việt Nam tham gia vào thị trường dịch vụ du lịch [36, tr. Như nhiều lĩnh vực khác, đối với ngành du lịch, nguồn nhân lực được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, nâng 11 Luan van cao và hoàn thiện các sản phẩm du lịch cũng như dịch vụ du lịch. Đây được xem là một trong những yếu tố then chốt làm tăng khả năng cạnh tranh và sự sống còn trên thị trường du lịch cho từng doanh nghiệp, địa phương, rộng hơn là ngành du lịch của cả quốc gia [37, tr.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch phải được Nhà nước quan tâm ban hành các văn bản tập trung xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, trọng dụng nhân lực một cách đúng đắn, phù hợp để phát huy thế mạnh nguồn lực tại chỗ để nâng cao chất lượng nguồn lực du lịch trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Vai trò nguồn nhân lực ngành du lịch 1.