Chương 1, thi: “Diém du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vu nhu cau tham quan của khách du lịch”. Luật du lịch Việt Nam cũng căn cứ vào quy mô, mức độ thu hút khách du lịch, khả năng cung cấp và chất lượng dịch vụ, điểm du lịch để phân thành điểm du lịch thành hai cấp: Cấp thứ nhất: Du lịch địa phương là nơi có nhiều sự hấp dẫn đối với nhu cầu thưởng thức, tham quan của khách du lịch, có cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch có khả năng đáp ứng và bảo đảm phục vụ ít nhất hơn 10.000 lượt khách du lịch đến tham quan một năm. Cấp thứ hai: Điểm du lịch quốc gia là nơi có tài nguyên du lịch thu hút mạnh đối với khách tham quan, có kết cấu hạ tang va dich vu du lich can thiết, có khả năng bao đảm phục vụ ít nhất khoảng 115.000 lượt khách tham quan một năm. Quan hệ giữa điểm và tuyến du lịch Có thé nhận thay rằng, nhiều điểm du lịch trong cùng một không gian địa lý kết hợp lại với nhau tạo thành tuyến du lịch và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vì vậy, các tuyến du lịch có khai thác được hiệu quả hay không, điều đó phụ thuộc vào khả năng và sự phân bố các điểm du lịch trên lãnh thổ của địa phương, của vùng, khu vực. Nếu địa bàn của các điểm du lịch xa nhau, mật độ các điểm dày, số lượng tuyến nhiều, sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài nước quan tâm để đầu tư xây dựng thành các tour du lịch hấp dẫn, khai thác hết công suất và có hiệu quả. Các điểm du lịch có chất lượng cao, càng đẹp, phục vụ chu đáo tận tình, càng hấp dẫn thì có ý nghĩa quốc gia và quốc tế liên kết với nhau sẽ tạo thành các tuyến du lịch với sản phẩm thu hút du khách, tạo điều kiện cho việc phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đọc theo tuyến. Trái lại, các tuyến du lịch với sản phẩm chất lượng sẽ thu hút được sự quan tâm của du khách về các điểm du lịch tạo thành các tuyến liên vùng.
Có thể nhận thấy, chức năng của các điểm du lịch có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với chức năng của tuyến du lịch. Quốc gia nào có nhiều điểm du lịch sẽ tạo điều kiện thúc đây sự hình thành và phát triển các tuyến du lịch nền tảng chính yếu của địa phương. Du lịch sinh thái 1. Khải niệm Theo Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO, du lịch sinh thái (Ecotourism) là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và có giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đây công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cực đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương [15, tr. Hai nhà du lịch học Lindberg và Hawkins (1993) đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ về nội dung và chức năng của du lịch sinh thái. Hai nhà nghiên cứu cho rằng: "Du lịch sinh thai là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ đê bảo tôn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân 10 dan địa phương" [10, tr. Nhà nghiên cứu Lê Huy Bá năm 2000 đã đưa ra một định nghĩa về du lịch sinh thái.
Theo quan điểm của ông cho rằng: “Du lich sinh thái là loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm doi tuong dé phuc vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Day là một hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với việc quảng bá giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bên vững”. Từ các định nghĩa trên, có thé thấy, du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới và đang là mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Ban chat của du lịch sinh thái vẫn đang là một vấn đề còn chưa đi đến một sự thống nhất chung và vẫn đang còn van đề tiếp tục tranh luận trên nhiều diễn đàn, hội nghị trong nước và quốc tế.
Các đặc trưng cơ bản cua du lịch sinh thai Khác với các loại hình du lịch khác, du lịch sinh thái là loại hình du lịch lay tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn làm nén tảng. Loại hình du lịch này có những đặc trưng cơ bản sau: - Du lịch sinh thái là loại hình du lịch lấy môi trường tự nhiên và nền văn hóa bản địa làm cơ sở phát triển, phục vụ khách du lịch. - Du lịch sinh thái là loại hình hỗ trợ bảo tồn và quản lý bền vững về sinh thái. - Du lịch sinh thái hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương.
- Du lịch sinh thái phải thỏa mãn nhu cầu về kinh nghiệm du lịch cho du khách. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái Theo Viện nghiên cứu và phát triển du lịch thuộc Tổng cục du lịch, hoạt động du lịch sinh thái được to hình thành và phát triển dựa vào 4 nguyên 11 tắc cơ bản sau: - Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo ton. - Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái. - Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng.
- Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Những yêu câu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái - Du lịch sinh thải can có sự tôn tại các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với độ da dạng sinh học cao: Có thê thấy rằng, sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology). Còn đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dang loài. Da dang sinh thái được thé hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể song, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu.
đó là các hệ sinh thái (eco- systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats). Từ những đặc trưng trên ta thấy, du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính da dang sinh học cao và cuộc sông hoang da. 12 - Đối với dụ lịch sinh thái, người điều hành du lịch phải có trách nhiệm trong việc bảo ton các gid trị tự nhiên và nhân văn tai các điểm du lịch sinh thải: Du lịch sinh thái đòi hỏi phải có nguyên tắc tổ chức chặt chẽ ngay từ những người điều hành đến nhân viên.
Nếu các nhà điều hành du lịch truyền thống chi dé ý đến lợi nhuận va không quan tâm đến môi trường tự nhiên, các khu di tích và danh lam thăng cảnh thì các nhà quản lý du lịch sinh thái lại cố găng hình thành một chính sách vẹn toàn nhất để đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích vật chất mang lại mà vẫn đảm bảo duy trì và phát triển được các tài nguyên du lịch sinh thái. Nếu các nhà điều hành du lịch truyền thống đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội dé biết được những giá tri tự nhiên va văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mat đi thì các nhà điều hành du lịch sinh thái lại có sự kết hợp giữa việc phát triển mở rộng quy mô của môi trường sinh thái với việc bảo vệ sự ton tại lâu dai của môi trường sinh thái kết hợp với việc mang về lợi ích vật chất cho cộng đồng dân cư trong khu vực du lịch sinh thái, giúp người dân cải thiện cuộc sống vùng với việc nâng cao nhận thức về phát triển môi trường du lịch bền vững của mô hình du lịch sinh thái. - Du lịch sinh thái tuân thu chặt chế các quy định vé sức chứa: Sức chứa: được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm.
Đứng ở góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trai (farm tourism) điển hình [14, tr. - Hướng dẫn viên phải am hiểu các đặc điểm sinh thải tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương [14.L7]: Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du 13 khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ. + Đứng ở góc độ tâm lý, sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác. Sức chứa này đạt tới ngưỡng khi có quá nhiều khách du lịch đến điểm tham quan làm du khách phải chịu nhiều tác động do du khách khác gây ra.
Những tác động này làm giảm đáng ké sự hài lòng của du khách.