Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ LOẠI HÌNH DI TÍCH BẢO TÀNG VÀ MỘT SỐ BẢO TÀNG Ở HẢI PHÒNG 1. Khái quát chung về bảo tàng 1. Khái niệm Bảo tàng có nguồn gốc lịch sử từ rất lâu đời.
Ngay từ thời kỳ cổ đại, ở Hy Lạp đã xuất hiện những hình thức sơ khai của bảo tàng. Cùng với sự phát triển của lịch sử, các bảo tàng phát triển ngày càng nhiều về số lượng và phong phú về loại hình. Theo thống kê của tổ chức Văn hoá Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) và theo một số tác giả khác, trên thế giới hiện nay có 49.000 bảo tàng, trong đó Châu Âu có gần 6. Ở nhiều nước phát triển, các thành phố có gần 20 vạn dân đều có bảo tàng.
Thuật ngữ bảo tàng học được sử dụng và đưa vào từ điển bách khoa của nhiều nước trên thế giới. Tổ chức quốc tế đầu tiên về bảo tàng cũng ra đời năm 1946 là Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM) thuộc Uỷ ban Văn hoá Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc với mục tiêu là nghiên cứu về bảo tàng. Định nghĩa của ICOM về bảo tàng như sau: “Bảo tàng là một tổ chức (cơ quan) không có lợi nhuận, tồn tại lâu dài để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, mở rong đồn công chúng. Bảo tàng thu nhận, bảo tồn, nghiên cứu lý luận thông tin, tuyên truyền và trưng bày nhằm mục đích cho con người học tập, giáo dục và thưởng thức.
Bảo tàng là một bằng chứng vật chất về con người và môi trường xung quanh con người " [Điều 2, phần 1, Quy chế bảo tàng thế giới]. [7] Ngày 25/08/2022, Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM) đã công bố định nghĩa mới về bảo tàng tại hội nghị toàn thể lần thứ 26 diễn ra ở Praha (Séc): “Bảo tàng là tổ chức thường trực và phi lợi nhuận phục vụ lợi ích xã hội, đồng thời là nơi nghiên cứu, thu thập, bảo tồn, diễn giải và trưng bày các di sản vật thể và phi vật thể". Với định nghĩa mới, ICOM nhấn mạnh bảo tàng là nơi rộng mở với công chúng, có tính chất dễ tiếp cận và hòa nhập, giúp thúc đẩy sự đa dạng và bền vững. Các bảo tàng hoạt động và tương tác với công chúng theo chuẩn mực đạo đức, đảm bảo chuyên nghiệp và bao gồm sự tham gia của cộng đồng, mang đến những trải nghiệm đa dạng cho giáo dục, việc thưởng thức, thẩm định và chia sẻ kiến thức.
9 Theo ICOM, định nghĩa mới phản ánh một số thay đổi lớn trong vai trò của các bảo tàng, trong đó thừa nhận “tầm quan trọng của tính toàn diện, sự tham gia của cộng đồng và tính bền vững”. [31] Về khái niệm “bảo tàng” Theo Điều 47 của Luật di sản văn hóa công bố năm 2001, khái niệm “bảo tàng” được định nghĩa như sau: “Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân”. Từ khái niệm trên, có thể khẳng định rằng, các bảo tàng ở Việt Nam hiện nay là nơi thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng, đó là bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật không chỉ liên quan đến lịch sử xã hội mà còn liên quan đến cả lịch sử tự nhiên. Tuy nhiên, đó chỉ là quy định về bảo tàng một cách chung chung, còn trong thực tế, tuỳ thuộc vào nội dung chủ đạo của từng bảo tàng mà thực hiện việc bảo quản và trưng bày hiện vật về lịch sử tự nhiên hay lịch sử xã hội (ngoại trừ bảo tàng tổng hợp ở các địa phương.
nhất thiết phải thể hiện cả hai lĩnh vực trên). Ngoài định nghĩa vừa nêu, còn một định nghĩa nữa về bảo tàng được đề cập trong Quy chế tổ chức và hoạt động của các báo tăng do Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành năm 1998, tức là 3 năm trước khi Luật di sản văn hóa ra đời, cụ thể như sau. “Bảo tàng là một thiết chế văn hoá có chức năng nghiên cứu và giáo dục khoa học thông qua hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền và phát huy tác dụng các di sản lịch sử - văn hoá và thiên nhiên phù hợp với loại hình, tinh chất và nội dung của bảo tàng”. [11] Qua nội dung trên, có thể thấy, nếu định nghĩa trong Luật di sản văn hóa xác định từ góc độ ngôi nhà “được gọi là bảo tàng” sử dụng để làm gì? thì khái niệm “bảo tàng” trong văn bản này được nhìn nhận chủ yếu từ góc độ khoa học.
Theo đó, với tư cách là một thiết chế văn hoa, các bảo tàng phải thực hiện hai chức năng quan trọng và mang tính tuyền thống mà ít ai phủ nhận, đó là nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học. Muốn hoàn thành được hai chức năng trên, các bảo tàng cần thực hiện các nhiệm vụ cần thiết như nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê và đặc biệt là phải tiến hành bảo quản tốt các di sản văn hóa (trong đó hiện vật bảo tàng là một loại đối tượng quan trọng) để chúng có thể tồn tại lâu dài với thời gian, nhằm phục vụ cho các lợi ích của xã hội. Tuy nhiên, bảo quản và giữ gìn tốt các di sản văn hóa là việc làm cần thiết nhưng chưa đủ, mà điều quan trọng hơn nữa là phải làm thế nào để mọi người biết được các di sản 10 văn hóa đó quý giá như thế nào, hay nói cách khác, là làm sao để công chúng hiểu được giá trị của các di sản văn hóa nói chung, hiện vật bảo tàng nói riêng. Để thực hiện điều đó, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá về nhiều mặt như hiện nay, thì hơn lúc nào hết, các bảo tàng phải đa dạng hoá các cách thức trưng bày theo hưởng quan tâm đến công chúng, đồng thời chủ động tiến hành tuyên truyền, quảng bá dưới nhiều hình thức khác nhau (trực tiếp và gián tiếp) để công chúng đến với bảo tàng càng ngày càng nhiều hơn.
Thực tế cũng đã chứng minh rằng, bảo tàng nào sớm quan tâm tới vấn đề trên thì hiệu quả hoạt động của bảo tàng sẽ tăng theo tỷ lệ thuận. Phân loại bảo tàng Phân loại bảo tàng luôn mang tính quy ước, trên thực tế, việc phân loại bảo tàng tốt sẽ chuẩn mực hóa phương hướng nghệ thuật trưng bày sau này. Theo Nguyễn Hoàng Hưng đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, bảo tàng hiện nay có hai cách phân loại chính là cách phân chia theo chức năng xã hội của bảo tàng và theo mối quan hệ của bảo tàng với các ngành nghề khác. [6] + Phân loại bảo tàng theo chức năng xã hội: là cách phân loại theo chức năng xã hội của bảo tàng, nói cách khác là để nói rõ mục đích và hình thức sử dụng bảo tàng đó đem lại những điều bổ ích, lý thú, phục vụ nhu cầu của con người.
Mục đích của bảo tàng đó là gì, hình thức trưng bày phục vụ cho ai và vị trí của nó trong xã hội như thế nào… Theo cách này, bảo tàng được chia thành 3 nhóm chính: bảo tàng công cộng, bảo tàng nghiên cứu khoa học, bảo tàng học đường. + Phân loại bảo tàng theo mối quan hệ với các ngành nghề khác: là cách phân loại nhằm xác định xem bảo tàng đó có quan hệ với một ngành khoa học hoặc một nhóm ngành sản xuất hay nghệ thuật nào đó… Bảo tàng đó có tiến kịp trình độ hiện đại của các môn khoa học, nghệ thuật, ngành sản xuất, văn hóa thuộc loại hình của mình hay không. Phân loại theo loại hình này là bước đầu gom các loại hình bảo tàng có chung loại hình cơ bản giống nhau, như lịch sử chung, trường phái chung… sau đó phân chia sâu hơn, tương ứng với một ngành khoa học cụ thể nào đó. Theo cách này, bảo tàng được chia thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất, bảo tàng khoa học xã hội gồm lịch sử, lịch sử cách mạng, lịch sử khoa học kỹ thuật, lịch sử tôn giáo, nhân chủng học, dân tộc học…, bảo tàng nghệ thuật. Nhóm thứ hai, bảo tàng khoa học tự nhiên: gồm bảo tàng động vật, thực vật, cổ sinh vật.; bảo tàng địa chất, địa tầng, thổ nhưỡng…; bảo tàng lịch sử hình thành phát triển tự nhiên, môi trường sống… 11 Trong cuốn “Tìm hiểu quy định về pháp luật di sản văn hoá” trang 30, bảo tàng Việt Nam bao gồm: [2] - Bảo tàng quốc gia là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập có gá trị tiêu biểu trong phạm vi cả nước. - Bảo tàng cấp tỉnh là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập có gá trị tiêu biểu ở địa phương. - Bảo tàng chuyên ngành là nơi bảo quản và trưng bầy các sưu tập có giá trị tiêu biểu về một chuyên ngành.
- Bảo tàng tư nhân là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về một hoặc nhiều chủ đề Như vậy, việc phân loại bảo tàng theo các tiêu chí khác nhau sẽ có các loại bảo tàng khác nhau. Có thể hệ thống các cách phân loại cơ bản sau: * Phân loại theo các sưu tập - Các bảo tàng tổng hợp (General museums) - Các bảo tàng chuyên ngành như Bảo tàng Khảo cổ học (Arrchaeology museums), Bảo tàng nghệ thuật (Art museums), Bảo tàng Lịch sử xã hội (History museums), Bảo tàng Dân tộc học (Ethnography museums), Các bảo tàng quân đội (Military museums) v.