CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lý thuyết về nghèo đói: 1.1 Khái niệm về nghèo Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – TBD do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc 9/1993 đưa ra định nghĩa: “Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” 1.2 Nguyên nhân của nghèo đói Theo Poverty Manual (WB,2005), các nguyên nhân về vùng miền, nguyên nhân mang tính cộng đồng, đặc tính chủ hộ và các đặc tính cá nhân dẫn đến nghèo đói có thể tóm tắt theo bảng sau: Bảng: Các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Đặc trưng - Sống ở vùng xa xôi cách biệt, giới hạn về cơ sở hạ tầng và kém về khả vùng miền năng tiếp cận các dịch vụ và chợ - Sống dựa chính vào tài nguyên, gồm cả tài nguyên đất có giá trị và chất lượng - Yếu tố thời tiết, ví dụ như hạn hán hoặc lũ lụt và điều kiện về môi trường, ví dụ như thường xuyên bị động đất. Đặc tính - Cơ sở hạ tầng, ví dụ như tiếp cận nguồn nước, điện, tiếp cận đường nhựa cộng đồng - Phân phối đất - Tiếp cận các dịch vụ công cộng, gần trường học hay bệnh viện - Cấu trúc xã hội và tài sản xã hội Đặc trưng - Kích cỡ hộ gia đình hộ gia đình - Tỷ số phụ thuộc (người già hoặc trẻ em không có khả năng lao động) - Giới tính của chủ hộ - Tài sản (bao gồm đất và các phương tiện/ công cụ dụng cụ sản xuất, nhà cửa) 123doc 10 - Cấu trúc của thu nhập và công việc - Tình trạng sức khỏe và trình độ giáo dục của các thành viên trong gia đình (tính trung bình) Đặc tính - Tuổi cá nhân - Trình độ học vấn - Tình trạng việc làm - Tình trạng về sức khỏe - Sắc tộc. Nguồn: Ngân Hàng Thế Giới, 2005 1.3 Nghèo đói trong thủy sản Ngành thủy sản đã cung cấp lao động cho đông đảo người dân, trong đó số lao động năm 1996 là 3,12 triệu người và năm 2001 tăng lên khoảng 3,8 triệu người. Tỷ lệ tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành thủy sản là 2,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước là 2%/năm.
Do đặc trưng sản xuất của khai thác, nuôi trồng thủy sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút lực lượng lớn lao động, tạo nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Nguồn lực thủy sản đã trở thành nguồn quan trọng trong sinh kế của người dân, vì thế việc tăng chất lượng sống cho cộng đồng dân đánh cá đi đôi với bảo vệ tài nguyên biển là rất cần thiết. Tuy nhiên thực tế là công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững trong ngành thủy sản là hai vấn đề có một số tác động có thể mâu thuẫn nhau. Mở rộng qui mô phát triển NTTS trong chừng mực nào đó sẽ làm giảm diện tích các hệ sinh thái và các nơi cư trú tự nhiên các loài, tăng thêm áp lực gây ô nhiễm đến môi trường.
Mặt khác, việc khai thác quá mức nguồn giống tự nhiên phục vụ cho nuôi trồng một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế sẽ dẫn đến nguy cơ suy kiệt nguồn lợi. Tình trạng suy thoái các hệ sinh thái, thu hẹp dần diện tích khai thác thuỷ sản tự nhiên và suy giảm nguồn lợi thuỷ sản. sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng người nghèo - những người phụ thuộc nhiều vào việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên. Môi trường và nghèo đói có 123doc 11 mối quan hệ hai chiều, nghèo đói là kết quả và là nguyên nhân của suy thoái môi trường.
Nghèo đói thường khiến người ta khai thác quá mức nguồn lợi thuỷ sản có hạn, làm tăng áp lực lên nguồn lợi tự nhiên. Việc nghiên cứu sinh kế của cộng đồng ngư dân và những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói là việc làm thực sự cần thiết có thể đóng góp vào những gợi ý cho các chính sách xóa đói giảm nghèo. Vòng luẩn quẩn giữa nghèo đói và nghề sinh kế ngư nghiệp được Béné (2003) lập luận trong bài viết của mình về khai thác thuỷ sản quy mô nhỏ. Ông đã đưa ra kết luận rằng là “khai thác thuỷ sản quy mô nhỏ = nghèo đói” và “ngư dân là những thành viên có thực trạng thấp kém, những hộ gia đình nghèo khổ, “cách ly ra khỏi nhịp điệu phát triển xã hội” Hình 1: “Khai thác thuỷ sản = nghèo đói” 123doc 12 (Yếu tố Nhận thức bên trong) về phương Sự tự do Khai thác kế cuối tiếp cận của quá mức cùng tài nguyên thuỷ sản “Họ là ngư “Họ là người dân bởi vì họ Các chi phí Mô hình Thu nghèo bởi vì là những cơ hội thấp nhập họ là những người nghèo” (Yếu tố bên thấp ngư dân” “cơ hội thấp” ngoài) Khai thác thuỷ sản = Nghèo đói (Nguồn: Béné, 2003) Tìm hiểu về nguồn gốc hay căn nguyên của nghèo đói trong đánh bắt thủy sản quy mô nhỏ là rất cần thiết cho việc quản lý ngành thủy sản và làm tăng sinh kế cho người dân.
Bởi vì nghèo đói trong thủy sản có liên quan trực tiếp đến những yếu tố tự nhiên, đó là tài nguyên thủy sản và mức độ khai thác của nó, ví dụ như khan hiếm các nguồn tài nguyên hoặc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên do việc tăng trưởng của dân số dân đến nghèo đói (Béné, 2003) 4 Mối quan hệ đầu tiên giữa ngành đánh bắt và nghèo đói là “họ nghèo bởi vì họ là những người ngư dân”. Người ngư dân được xem như là những người nghèo nhất bởi những nguyên nhân nội sinh và nguyên nhân ngoại sinh của nghèo đói trong ngành đánh bắt. Nghèo đói có liên quan đến mức độ thấp của các nguồn tài nguyên và tình trạng thông thường của quyền tài sản tự nhiên trong các ngành đánh bắt quy mô nhỏ. Càng nhiều người tham gia vào đánh bắt trong điều kiện tự do tiếp cận của 4 Béné, C.
When fishery rhymes with poverty: A first step beyond the old paradigm on poverty in small-scale fisheries. Đó được xem là nguyên nhân bên trong. Ngành đánh bắt quy mô nhỏ thường diễn ra ở những khu vực xa xôi hẻo lánh, nơi mà người dân có rất ít các cơ hội nghề nghiệp thay thế. Có nghĩa là các nguồn thu nhập khác ngoài ngành đánh bắt thường là rất thấp vì vậy dẫn đến thu nhập của ngư dân rất thấp.
Do đó, để nói về nguyên nhân bên ngoài, Bé né (2003) chỉ ra vấn đề nghèo đói trong thủy sản dựa trên khái niệm của kinh tế về cơ hội thu nhập thấp Đánh bắt quy mô nhỏ là nguyên nhân của thu nhập thấp cho ngư dân, mặc dù họ có cố gắng làm, vẫn tồn tại tình trạng nghèo. Để diễn đạt mối liên hệ giữa nghèo đói và ngành đánh bắt thủy sản, ông cũng đã chỉ ra rằng tài nguyên tự do tiếp cận trong thủy sản cung cấp cho những người nghèo nhất sinh kế thông qua những hoạt động đánh bắt. Đánh bắt thủy sản quy mô nhỏ được xem như là phương kế cuối cùng cho những người nghèo, đó là nó cho phép họ tham gia vào ngành đánh bắt mặc dù họ không có bất kỳ một kỹ năng nào hay tài sản nào. Nhận thức của ngành đánh bắt quy mô nhỏ như là phương kế cuối cùng của người nghèo, Béné (2003) đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa đánh bắt thủy sản và nghèo đói là “họ là ngư dân bởi vì họ là những người nghèo.
Đánh giá nghèo thông qua Thu nhập hay Chi tiêu Có nhiều phương pháp để đo lường nghèo đói. Trong đó phương pháp thông thường là để đo lường phúc lợi về kinh tế dựa vào chi tiêu của hộ gia đình hoặc thu nhập của hộ gia đình. Khi chia cho số người trong hộ thì chúng ta sẽ có chi tiêu trên đầu người hoặc thu nhập trên đầu người. 123doc 14 Chi tiêu trên đầu người theo tháng (C) là chỉ số gián tiếp phản ánh điều kiện kinh tế.
Chi tiêu trên đầu người được tính bằng cách chia tổng chi tiêu cho số thành viên đang sống trong gia đình với giả thuyết là chi tiêu trên đầu người càng cao thì hộ gia đình đó giàu có hơn các hộ khác trong tổng dân. Tuy nhiên, chi tiêu là một chỉ số đo lường phúc lợi tốt hơn thu nhập. Đặc thù của thu nhập tăng lên và rồi giảm xuống trong một khoảng thời gian nào đó của đời người, và thêm vào đó thu nhập thay đổi năm này qua năm kia, trong khi đó chi tiêu giữ ổn định một cách tương đối. Nhiều trường hợp trong thực tế sử dụng chi tiêu hơn là thu nhập bởi vì các hộ gia đình sẵn lòng hoặc có thể kể lại họ đã chi tiêu cái gì hơn là họ đã kiếm được cái gì (Poverty Manual, WB,2005).
Hình 2: Thu nhập và chi tiêu theo thời gian Chi tiêu Thu nhập Tuổi Nguồn: Chapter2 Poverty Manual, WB,2005, page 29 of 218. Ngoài ra thu nhập từ các hoạt động đánh bắt thay đổi không những hàng năm mà còn khác biệt mỗi ngày, trong khi đó thì chi tiêu của người dân thì ổn định một cách tương đối. Hay nói cách khác, trong phân tích nghèo đói chi tiêu là chỉ số ổn 123doc 15 định hơn là thu nhập. Sự thay đổi của thu nhập và chi tiêu có thể được mô tả như hình trên.
Đo lường nghèo đói Dựa trên tiêu chí tiền tệ Có nhiều phương pháp để đo lường nghèo như Chỉ số đếm đầu người, Đo lường khoảng cách đói nghèo hay Chỉ số xác định tính nghiêm trọng của đói nghèo…. Nghị quyết số 07/2008/NQ-HĐND ngày 22/07/2008 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Khánh Hoà về chuẩn nghèo tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2009-2010 áp dụng khu vực thành phố là mức thu nhập 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. Dựa trên tiêu chí phi tiền tệ Ngoài cách đo lường đói nghèo dựa trên giá trị, World Bank còn có những tiêu chí khác. Đói nghèo không chỉ gắn với sự thiếu hụt thu nhập hay tiêu dùng mà còn liên quan đến tình trạng thiếu thốn về y tế, dinh dưỡng và học vấn, các mối quan hệ xã hội nghèo nàn, sự bất an, kém tự tin hay thiếu quyền lực.3 Giả thuyết nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Theo nhóm tác giả Bales S, 2001; Dominique V.
W và Dileni G, 2000; Waheed, 1996; Wan D.