Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về du lịch và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010-2015. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2020, tầm nhìn 2030 1. Ý nghĩa thực tiễn luận văn Ý nghĩa lý luận: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về du lịch đối với tỉnh Cà Mau. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Từ đó đưa ra được những việc đã làm được và chưa làm được, tìm ra nguyên nhân của vấn đề. Đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh, phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh 123doc 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH CÀ MAU 2. Các khái niệm cơ bản 2.1 Du lịch Hiện nay trên thế giới có hàng trăm thậm chí hàng ngàn nghiên cứu lớn, nhỏ về du lịch và phát triển du lịch. Bởi thế, việc xác định một định nghĩa chung nhất về du lịch là điều vô cùng khó khăn.
Mỗi học giả, mỗi tổ chức du lịch dựa trên quan điểm đánh giá, nhìn nhận, nghiên cứu của mình đã đưa ra những cách định nghĩa về du lịch rất khác nhau. Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) năm 1995 đưa ra thuật ngữ: “Du lịch là các hoạt động của con người liên quan đến việc dịch chuyển tạm thời của con người đến một điểm đến nào đó bên ngoài nơi mà họ sống và làm việc thường xuyên cho mục đích giải trí, và các mục đích khác. Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa du lịch ở hai khía cạnh: Thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Thứ hai: du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.
Theo định nghĩa trên, du lịch được hiểu theo cả hai khía cạnh: đi du lịch (của du khách) và làm du lịch (của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch). Trong định nghĩa này có "hình ảnh" của kinh tế du lịch. Luật Du lịch 2017 có đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian 123doc 6 không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Định nghĩa của Luật Du lịch có quan điểm tương đồng với định nghĩa của UNWTO - tức chỉ bàn đến hoạt động của khách du lịch, không bàn đến hoạt động kinh doanh du lịch.
Trong Giáo trình kinh tế du lịch của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Minh Hòa (2006) có đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. Như vậy, qua các định nghĩa về du lịch được trích dẫn và phân tích trên, thật khó để có thể xác định định nghĩa nào là chính xác nhất. Nghiên cứu đề tài dưới gốc độ quản lí công, trong khuôn khổ luận văn này tác giả sẽ nghiên cứu khái niệm du lịch theo Luật Du lịch 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Từ những khái niệm trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch như sau: - Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên; - Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; - Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm. - Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và cư dân ở địa phương 123doc 7 2.2 Các hoạt động du lịch Luật Du lịch năm 2005 đưa ra khái niệm về hoạt động du lịch như sau: “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch”. Với cách tiếp cận như vậy, hoạt động du lịch được nhìn nhận dưới 3 khía cạnh: Thứ nhất, hoạt động của khách du lịch nghĩa là việc di chuyển và lưu trú tạm thời của người du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Thứ hai, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch là những người hoạt động tổ chức lưu trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển đưa đón khách du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Thứ ba, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tức là cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan tại địa phương du lịch tổ chức quản lý, điều phối, phục vụ hoạt động của khách du lịch và tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo cho các đối tượng này thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hoạt động du lịch theo đúng luật định. Như vậy, hoạt động du lịch ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp cho du lịch. Ở một chừng mực nhất định, hoạt động du lịch có thể được coi là đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch.3 Các loại hình du lịch Du lịch là một hoạt động đa dạng và phong phú được phân chia thành các loại hình du lịch cụ thể như sau: - Căn cứ vào lãnh thổ: Du lịch nội địa là hoạt động khách du lịch thực hiện chuyến đi trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình (trong nước Việt Nam). Du lịch quốc tế là hoạt động khách du lịch di chuyển từ nước này sang nước khác vượt qua phạm vi lãnh thổ của quốc gia và tiêu tiền bằng ngoại tệ.
123doc 8 - Căn cứ vào mục đích chuyến đi: Du lịch tham quan văn hóa – lịch sử: “Du lịch địa lý, văn hóa lịch sử là loại hình du lịch mà khách muốn cảm nhận về thực tế địa lý, bề dày văn hóa lịch sử của một quốc gia, tỉnh, vùng, địa phương thông qua các di tích văn hóa lịch sử, phong tục tạp hóa còn hiện diện”. Cà Mau đặc trưng có các khu di tích lịch sử như di tích Bác Ba Phi; Điểm du lịch, di tích Hòn Đá Bạc, các di tích lịch sử tại Trung tâm Thành phố Cà Mau phục vụ dịch vụ, Lễ hội Nghênh Ông Sông Đốc…. Du lịch nghỉ dưỡng: Du lịch được coi như một phương tiện nhằm tái hồi sức lao động của con người sau những ngày tháng lao động vất vả. Loại hình du lịch nghỉ dưỡng được phân ra thành ba loại khác nhau theo tiêu thức địa lý, đó là: Du lịch nghỉ dưỡng ven biển và đảo; du lịch nghỉ dưỡng ở vùng núi và du lịch nghỉ dưỡng ở vùng nước khoáng.
Du lịch thể thao: Loại hình du lịch này gồm hai nhóm, đó là du lịch thể thao dành cho các vận động viên thi đấu và khách du lịch đi xem các sự kiện thi đấu thể thao. Đối với loại thứ nhất, du lịch phục vụ các đoàn vận động viên đi thi đấu trong các giải thế giới, khu vực hoặc đi tập huấn kết hợp với tham quan du lịch. Loại thứ hai là các cổ động viên, khán giả đi xem các cuộc thi đấu thể thao kết hợp với tham quan du lịch Du lịch sinh thái: Theo định nghĩa của Việt Nam (Luật Du lịch, 2005): “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn liền với bản sắc văn hóa địa phương và sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững ngành Du lịch”. Cà Mau có các khu du lịch sinh thái đặc trưng như: Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh Hạ; Khu du lịch Sông Trẹm; Khu du lịch vườn quốc gia Đất Mũi; Khu du lịch Khai Long….
123doc 9 Nhìn chung, Du lịch sinh thái được hiểu một cách đầy đủ là loại hình du lịch chỉ dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa. Sản phẩm, tài nguyên trước hết là thiên nhiên, không có thiên nhiên sẽ không có Du lịch sinh thái. Các hoạt động du lịch hướng tới nâng tầm nhận thức của con người sống thân thiện với thiên nhiên; khám phá, hưởng thụ và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển du lịch.4 Quản lý nhà nước về du lịch Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước để duy trì và phát triển. Việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào khung pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước.