MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Thực hiện chủ trƣơng đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần phát triển bền vững kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trƣờng, gắn với bảo vệ an ninh quốc phòng, những năm qua ngành du lịch của Hà Nội có sự tăng trƣởng nhanh, đóng góp ngày càng tích cực vào sự nghiệp phát triển của thủ đô. Những thành tựu phát triển du lịch đạt đƣợc vừa qua rất đáng khích lệ, tuy nhiên ngành Du lịch của Hà Nội đang gặp những thách thức không nhỏ về nhiều mặt, trong đó có yếu tố về nhân lực.
Nguồn nhân lực có vai trò quyết định không chỉ cho riêng sự phát triển của ngành du lịch mà còn góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tại Hà Nội. Nhiều năm qua, ngành Du lịch của Hà Nội đã có những cố gắng huy động cộng đồng, các thành phần kinh tế và sự hỗ trợ của quốc tế cho phát triển nhân lực. Công tác phát triển nhân lực ngành Du lịch mặc dù đã đạt đƣợc những kết quả nhất định, nhƣng vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết nhƣ: Quản lý còn chồng chéo; mục tiêu đào tạo chƣa rõ ràng, đào tạo còn manh mún cả về quy mô và cơ cấu, chất lƣợng đào tạo chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra; cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, bồi dƣỡng còn lạc hậu; chƣa đủ cán bộ giảng dạy có chất lƣợng và kinh nghiệm cho các trình độ; chƣơng trình đào tạo chắp vá; quan điểm phát triển nhân lực mới chỉ tập trung vào đào tạo mới, ít chú trọng đào tạo, bồi dƣỡng nhân lực tại chỗ, đào tạo nhân lực các ngành khác tham gia vào hoạt động du lịch và đào tạo cộng đồng; chƣa quan tâm nhiều đến quản lý phát triển nhân lực và sử dụng nhân lực chƣa hiệu quả. Xuất phát từ những hạn chế đó của ngành du lịch, học viên quyết định lựa chọn đề tài “Chính sách Phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao ở thành phố Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp bậc Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Kinh tế của mình.
Luận văn sẽ phân tích một cách kỹ lƣỡng thực trạng nhân lực du lịch ở thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua, để chỉ ra nguyên nhân của 1 z những vƣớng mắc và yếu kém còn tồn tại, từ đó kiến nghị một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao cho thành phố Hà Nội trong những năm tiếp theo. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích của luận văn là đề xuất đƣợc những giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao cho thành phố Hà Nội. - Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: + Tổng hợp cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu + Mô tả thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực du lịch ở thành phố Hà Nội + Tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nƣớc và dựa vào bối cảnh cụ thể của thành phố Hà Nội để đề xuất những giải pháp khả thi nhằm phát triển nhân lực du lịch chất lƣợng cao. + Trên cơ sở thực trạng cần có nhiều giải pháp để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho ngành du lịch của thành phố Hà Nội.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao ở Hà Nội, trong đó đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu chính sách phát triển nguồn nhân lực trực tiếp trong du lịch, đặc biệt là phát triển số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực, coi đó là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Nội. - Phạm vi nghiên cứu: các yếu tố ảnh hƣởng đến chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao, kinh nghiệm phát triển nhân lực du lịch của một số nƣớc trên thế giới và một số địa đàn trong cả nƣớc, trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2009-2015. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài đã sử dụng một số biện pháp nghiên cứu chủ yếu sau: - Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng: Là phƣơng pháp nghiên cứu các hiện tƣợng kinh tế - xã hội trong trạng thái vận động và có các mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nó cho phép phân tích một cách khách quan các vấn đề nghiên cứu. Phương pháp duy vật lịch sử: Dựa trên các phạm trù khoa học, các khái niệm, quan điể mvà sự vận động phát triển của kinh tế - xã hội để nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của thành phố - Phương pháp nghiên cứu cụ thể: + Phƣơng pháp thu thập dữ liệu: Luận văn dự kiến sẽ sử dụng cả dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp.
Dữ liệu thứ cấp có thể đƣợc thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, cụ thể nhƣ các văn bản, báo cáo của Sở Văn hóa và Du Lịch Hà Nội, số liệu thống kê của tổng cục thống kê và các nguồn đáng tin cậy trên mạng internet. Dữ liệu sơ cấp có thể đƣợc thu thập bằng phƣơng pháp phỏng vấn các chuyên gia quản lý phát triển nhân sự trong ngành du lịch, các doanh nghiệp du lịch, nhân sự hiện đang công tác trong ngành du lịch và khách du lịch. + Phƣơng pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Tác giả dự kiến sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả kết hợp với các bình luận tổng hợp, phân tích và so sánh trong quá trình nghiên cứu. + Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: Đây là phƣơng pháp quan trọng đƣợc sử dụng hầu hết trong công tác nghiên cứu khoa học, phƣơng pháp phân tích tổng hợp giúp cho học viên nghiên cứu liên kết các vấn đề trong một sự kiện hoặc các sự kiện khác nhau phản ánh một vấn đề cần làm sang tỏ.
Nghiên cứu về du lịch, môi trƣờng, cộng đồng và chính sách có liên quan chặt chẽ với nhau tới các điều kiện kinh tế xã hội. Những đóng góp về học thuật của Luận văn Luận văn đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao, vai trò của nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao tới hoạt động kinh doanh dịch vụ, phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao của thành phố Hà Nội; kết quả quan trọng nhất của Luận văn là đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lƣợng cao cho thành phô Hà Nội. 4 z CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH CHẤT LƢỢNG CAO 1. Những khái niệm cơ bản 1.
Nguồn nhân lực Trên thế giới hiện nay, muốn phát triển kinh tế thì bất kỳ một quốc gia nào đều cũng phải dựa trên các nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, con ngƣời….Trong đó thì nguồn lực con ngƣời là quan trọng nhất, nó có tính chất quyết định trong sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trƣớc đến nay. Do đó, trong kinh tế học xuất hiện thuật ngữ “nguồn nhân lực” thể hiện sự công nhận của phƣơng thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con ngƣời. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Có quan điểm cho rằng, Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc.
Ngoài ra, nguồn nhân lực còn đƣợc hiểu là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động. Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 của Việt Nam quy định: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận,, nhƣng các định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trƣng chung là: - Số lƣợng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu ngƣời và trong tƣơng lai sẽ có thêm bao nhiêu ngƣời nữa. 5 z - Chất lƣợng nhân lực, bao gồm: trí tuệ, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ….của ngƣời lao động.
Trong đó, trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. - Cơ cấu nguồn nhân lực: thể hiện trên các phƣơng diện khác nhau nhƣ cơ cấu về trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi, dân tộc… Nguồn nhân lực cũng đƣợc nhìn nhận không chỉ những ngƣời trong độ tuổi lao động mà cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó; nguồn lực con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng dân cƣ, chất lƣợng con ngƣời (bao gồm thể lực, trí lực và các năng lực phẩm chất khác), tức là không chỉ bao hàm của nguồn cung cấp nhân lực trong tƣơng lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới Từ những phân tích trên, khái niệm nguồn nhân lực trong luận văn này đƣợc hiểu nhƣ sau: “Nguồn nhân lực là nguồn lực tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào nền sản xuất xã hội hiện đại cũng như trong tương lai. Khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số” (Trần Sơn Hải, 2010, trang 26.
Nguồn nhân lực du lịch Bất kể một tổ chức nào dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu thì yếu tố con ngƣời vẫn là yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành bại của tổ chức đó. Vì vậy, phát huy tốt nguồn lực con ngƣời đƣợc xem nhƣ là chìa khóa cho sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi vùng, mỗi quốc gia Trong những năm gần đây, hội nhập kinh tế đã trở thành một xu thế, một hiện tƣợng lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của xa hội loài ngƣời.