CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1.1 Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đã được coi là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức và nó đã thu hút nhiều học giả và nhà khoa học trên toàn thế giới. Theo Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực bao gồm tất cả kiến thức, kỹ năng và khả năng của con người liên quan đến tăng trưởng kinh tế xã hội của một quốc gia. Nguồn nhân lực hiện nay bao gồm một thành phần định lượng không chỉ bao gồm những người trong độ tuổi lao động mà cả những người không ở độ tuổi lao động (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2009). Nhân sự đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp các công ty đối phó với môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng và nhu cầu lớn hơn đối với nhân viên chất lượng trong thế kỷ 21.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, và nguồn lực đó có hai nghĩa: nguồn gốc và nơi phát sinh. Nguồn nhân lực trước hết là con người, đó cũng là điểm phân biệt cơ bản giữa nguồn nhân lực với các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được định nghĩa là toàn bộ nguồn lực của từng con người cụ thể, hay là nguồn lực của quá trình tăng trưởng. Nguồn nhân lực là nguồn nhân lực có khả năng tạo ra sự thịnh vượng về vật chất và tinh thần.
Tinh thần của xã hội biểu hiện thành lượng và chất cụ thể ở một thời kỳ cụ thể. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ: “Kinh nghiệm vô giá mà chúng ta khái quát được trong lịch sử lâu dài và đầy khắc nghiệt của dân tộc ta là: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là nguồn lực con người Việt Nam, là sức mạnh nội sinh của chính bản thân dân tộc Việt Nam. Con người Việt Nam là tài sản quý báu nhất của Tổ quốc ta và chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta”. Nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người xét về số lượng, cơ cấu (ngành nghề và trình độ đào tạo, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo thành phần kinh tế) và chất lượng, bao gồm năng lực (trí tuệ, thể chất và kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội.
phát triển đất nước, vùng lãnh thổ, địa phương, ngành, năng lực cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước và quốc tế. 10 Theo Nguyễn Tấn Thịnh (2005), nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp.
Một cách tổng quát, nguồn nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Có thể thấy giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ. có mối quan hệ nhân - quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực, với trí tuệ và chất xám là yếu tố hàng đầu, có ưu điểm nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là những yếu tố hạn chế và chỉ phát huy hiệu quả khi được kết hợp với nguồn nhân lực một cách hiệu quả.
Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong khai thác, sử dụng, bảo tồn và tái tạo các nguồn lực khác, nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy, nguồn lực của một quốc gia có thể hạn chế, điều kiện tự nhiên có thể không thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể phát triển nhanh và bền vững nếu quốc gia đó biết xây dựng chính sách kinh tế một cách phù hợp, đồng thời nắm được cách thức tổ chức thực hiện thành công đường lối đó, cùng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trí thức trọng tài, một số lượng lớn các nhân viên kỹ thuật được đào tạo cao và các doanh nhân tài năng. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một môi trường chính trị - xã hội ổn định.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao 1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao Con người là yếu tố quan trọng và mang tính chất quyết định cho mọi sự phát triển. Do vậy, đảm bảo nguồn nhân lực đủ về số lượng và mạnh về chất lượng là một hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ một tổ chức, doanh nghiệp, ngành nghề kinh 11 doanh hay bất kỳ một tổ chức kinh tế - xã hội nào.
Trong giai đoạn cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì nguồn nhân lực có chất lượng cao lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Một quốc gia muốn phát triển, phải có các yếu tố như: tài nguyên thiên thiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người, trong đó nhân tố con người đóng vai trò trọng tâm. Tuy nhiên, cụm từ “nguồn nhân lực chất lượng cao” lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện Đại hội của Đảng lần thứ XI: “phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam,1996). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Chất lượng nguồn nhân lực biểu thị trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là đối tượng vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Tổng thể các phẩm chất thể hiện bản chất và tính khác biệt gắn trực tiếp với hoạt động công nghiệp và phát triển con người được gọi là chất lượng nguồn nhân lực. Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm thể chất, trí tuệ, kỹ năng, tác phong đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực, tình trạng sức khỏe và trình độ chuyên môn, giáo dục nguồn nhân lực, chứng chỉ chuyên môn và kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội, v. Theo Ngân hàng thế giới thì “vốn con người bao gồm kiến thức, kỹ năng và sức khỏe mà mọi người đầu tư và tích lũy trong suốt cuộc đời, giúp họ nhận ra tiềm năng của mình với tư cách là thành viên hữu ích của xã hội.
Đầu tư vào con người thông qua dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục có chất lượng, việc làm và kỹ năng giúp phát triển vốn con người, và đây là chìa khóa để chấm dứt nghèo đói cùng cực và tạo ra các xã hội hòa nhập hơn”. Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có tác động nâng cao năng suất lao động. Trong thời đại công nghệ tiến bộ, một quốc gia cần và có thể ưu tiên chất lượng nguồn nhân lực hơn trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để tiếp nhận những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và hòa nhập với tốc độ phát triển. 12 Theo tác giả Trung Chánh (2020) , nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu là: “Đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang”, bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh”.
Các tài liệu hiện có trong lĩnh vực khoa học quản lý đều cho rằng nguồn nhân lực, đặc biệt là lực lượng lao động chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất trong bất kỳ doanh nghiệp nào và được coi là vốn trí tuệ trong đảm bảo phát triển bền vững (Saniruddin và Husain, 2016; Amstrong, 2009); do đó, nguồn nhân lực chất lượng cao rất quan trọng đối với sự phát triển của một ngành và nền kinh tế địa phương hoặc quốc gia nói chung. Bằng phương pháp phân tích thống kê, Naoki (2011) đã chỉ ra tác động của các yếu tố phản ánh chất lượng nguồn nhân lực đến hiệu quả hoạt động và năng suất lao động. Người ta cũng cho rằng sự phát triển của nguồn nhân lực nên kết hợp “năng lực, công bằng, trao quyền và tính bền vững”. Trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng CLNNL có thể được đánh giá thông qua ba kỹ năng cần thiết, bao gồm kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng con người và kỹ năng nhận thức.
Hoặc nó có thể được xem xét dưới góc độ chính sách năng lực và động lực, trong khi hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương có thể được nhìn nhận từ quan điểm “năng suất, chất lượng dịch vụ, khả năng đáp ứng, trách nhiệm và giải trình” (Levine et al. CLNNL được hiểu là trình độ học vấn, sự tham gia, kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ được giao nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể. Do đó, CLNNL có thể được đánh giá hiệu quả bằng các biện pháp chính về giáo dục, sự tham gia, kiến thức và kỹ năng của NNL.