Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan và một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực du lịch Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch trên địa bàn Thị xã Cửa Lò Chương 4: Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch cho Thị xã Cửa Lò 3 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực nói chung và cho ngành du lịch nói riêng là một vấn đề rất đƣợc các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau: * Trần Sơn Hải (Năm 2010), Luận án Tiến sỹ, nghiên cứu về: Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Luận án đã hệ thống hoá chọn lọc, có phát triển những khái niệm và vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch, hình thành cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu luận án.
Phân tích thực trạng nguồn nhân lực ngành Du lịch về số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu và quản lý phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch các tỉnh khu vực DHNTB và Tây Nguyên. Ngô Minh Tuấn (Năm 2013), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, nghiên cứu về: Quản lý nhà nƣớc đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp. Đề tài đã nghiên cứu và triển khai tìm hiểu trong thực tiễn các vấn đề còn tồn tại trong quản lý nhà nƣớc đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam từ có đề xuất các giải pháp phù hợp ở tầm vĩ mô. Nguyễn Lộc (Năm 2010) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, nghiên cứu về: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Đề tài đi sâu vào việc hệ thống và hoàn thiện lý luận phục vụ cho quá trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý nguồn nhân lực đối với các ngành liên quan. Tuy nhiên, đề tài chƣa đƣa ra đƣợc các giải pháp để giải quyết các vấn đề khó khăn còn tồn đọng trong quá trình tham gia của Nhà nƣớc vào phát triển nguồn nhân lực. * Ths Lê Thanh Huyền (Năm 2013) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, nghiên cứu về: “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ngành Nội vụ trong phạm vi chức năng đào tạo của trƣờng Đại học Nội vụ Hà Nội”. Đề tài chuyên sâu vào việc 4 z nghiên cứu lý luận nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực để phục vụ cho công tác đào tạo và bồi dƣỡng nguồn cán bộ phục vụ cho ngành Nội vụ.
Đề tài đã đi sâu và nghiên cứu đƣợc khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển nguồn nhân lực cho ngành. Tuy nhiên, các giải pháp đƣa ra chƣa cụ thể và khả thi. * Nguyễn Thế Phong (Năm 2009) Luận án tiến sĩ, nghiên cứu về: Phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc kinh doanh hàng nông sản khu vực phía Nam. Luận án là một trong những nghiên cứu đầu tiên đã hệ thống hóa đƣợc các lý luận về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nội dung và tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản.
Luận văn đã nghiên cứu đƣợc thực trạng trong việc phát triển chƣa bền vững của nguồn nhân lực ở lĩnh vực này và đƣa ra đƣợc các giải pháp phù hợp. * Trong báo cáo Khoa học tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với chủ đề: "Việt Nam: Hội nhập và phát triển", tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam, tháng 12-2008; PGS. Đức Vƣợng, Viện trƣởng Viện Nghiên cứu nhân tài, nhân lực, Chủ nhiệm đề tài NCKH cấp nhà nƣớc: “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam Giai đoạn 2011 – 2020” (Mã số: KX.16/06-100) đã viết về thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam. Trong đó, nguồn nhân lực Việt Nam đƣợc xác định gồm nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, công chức viên chức và có những đặc điểm chung là Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhƣng chƣa đƣợc sự quan tâm đúng mức, chƣa đƣợc quy hoạch, chƣa đƣợc khai thác, còn đào tạo thì nửa vời, nhiều ngƣời chƣa đƣợc đào tạo; Chất lƣợng nguồn nhân lực chƣa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lƣợng và chất; Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chƣa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
Từ đó, tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam (Cần coi nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam; nâng cao chất lƣợng con ngƣời và chất lƣợng cuộc sống; Nhà nƣớc phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi 5 z dƣỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho đúng; hằng năm, Nhà nƣớc cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt đƣợc, mặt chƣa đƣợc, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó mà xây dựng chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về nguồn nhân lực ở Việt Nam.) Tác giả cũng kiến nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nƣớc, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lƣợng cao cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhìn chung các luận án, đề tài trên đã tiếp cận và đi vào nghiên cứu sâu về từng vấn đề nhƣ: Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch (Nội dung, các yếu tố ảnh hƣởng, xu hƣớng phát triển.), Phát triển nguồn nhân lực. hoặc nghiên cứu theo từng đối tƣợng cụ thể nhƣ: lĩnh vực du lịch, tổ chức hành chính công, cho các doanh nghiệp. Các luận án, đề tài, luận văn đã đƣa ra những kết luận, kiến nghị chủ yếu tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc, những nhiệm vụ cụ thể của ngành du lịch vùng, tỉnh và chung cho các hoạt động du lịch.
Chƣa có một luận án, đề tài nào đề cập đến nghiên cứu về tổng quan chung về phát triển nguồn nhân lực riêng cho một lĩnh vực du lịch cụ thể (Du lịch biển) cho một địa điểm cụ thể. Phần lớn các tác giả đều đánh giá dựa trên các số liệu sơ cấp về tình hình đào tạo, số lƣợng và chất lƣợng nhƣng chƣa thực hiện việc đánh giá thực tế số lƣợng, chất lƣợng và nhu cầu dựa vào số liệu thứ cấp tại một địa phƣơng cụ thể. Các khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực 1.
Khái niệm Nguồn nhân lực (human resources) là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con ngƣời, phản ánh sự đánh giá lại vai trò yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển. Sự xuất hiện của thuật ngữ “NNL” thể hiện sự công nhận của phƣơng thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con ngƣời.(Nguyễn Lộc, 2010, trang 16) 6 z Nguồn lực con ngƣời đƣợc hiểu là tổng hòa của các mối quan hệ thống nhất giữa năng lực, thể lực, trí lực, văn hóa và tính năng động, nhạy bén của con ngƣời trong một xã hội Khái niệm NNL ban đầu đƣợc sử dụng trong bộ môn kinh tế học và kinh tế chính trị, ban đầu đƣợc hiểu là Lao động. Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Nhân lực là sức ngƣời dùng trong sản xuất” Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về NNL. Có định nghĩa tiếp cận theo hƣớng coi NNL là nguồn lực với yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển chung của các tổ chức.
Với cách tiếp cận này, NNL đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời của các tổ chức có quy mô, loại hình, chức năng khác nhau, có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển KT - XH của quốc gia, khu vực và thế giới. Xem xét con ngƣời từ góc độ là những lực lƣợng LĐ cơ bản nhất trong xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin coi nguồn lực con ngƣời là là lực lƣợng sản xuất hàng đầu của nhân loại, là phƣơng tiện chủ yếu để sản xuất hàng hóa, dịch vụ. (Mai Quốc Chính, 1999, trang 37) Lí luận về vốn con ngƣời xem xét nhân tố con ngƣời với tƣ cách là một yếu tố của quá trình sản xuất, một phƣơng tiện để phát triển KT - XH và còn xem xét con ngƣời từ quan điểm nhu cầu về các nguồn cho sự phát triển của nó. Với cách tiếp cận này, ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con ngƣời gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,…mà mỗi cá nhân sở hữu và đƣợc xem là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhƣ: vốn tiền, vốn công nghệ, vốn tài nguyên thiên nhiên,…và họ cũng cho rằng việc đầu tƣ cho con ngƣời giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tƣ và đƣợc coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững.
Theo từ điển thuật ngữ của Pháp (1915 – 1985) định nghĩa rằng: “NNL xã hội bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng LĐ và muốn có việc làm”. Các nhà khoa học ở Việt Nam cho rằng: “Con ngƣời Việt Nam – mục tiêu và động lực cho sự phát triển KT – XH”. Ở đây, NNL đƣợc hiểu là số dân và chất 7 z lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc. Cách tiếp cận khác cho rằng: Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hoặc xã hội (kể cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Quan niệm Đoàn Khải (2005, trang 34-36) cho rằng: “Nguồn lực con ngƣời là sự kết hợp thể lực và trí tuệ, tinh thần, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lƣợng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con ngƣời”.