Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút khách du lịch của điểm đến Chương 2: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc đến tỉnh Lào Cai Chương 3: Một số định hướng và giải pháp chính nhằm day mạnh thu hút khách du lịch Trung Quốc đến tỉnh Lào Cai 7. Những đóng góp chính của đề tài - Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về thu hút khách du lịch của điểm đến. - Luận văn đã đánh giá thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc đến Lào Cai. - Luận văn đã đề xuất một số định hướng và giải pháp chính nhằm đây mạnh thu hút khách du lịch Trung Quốc đến tỉnh Lào Cai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE THU HUT KHACH DU LICH CUA DIEM DEN 1. Cơ sở lý luận về thu hút khách du lịch của điểm đến 1. Điểm đến du lịch 1.1, Định nghĩa Điểm đến du lịch là một trong số các khái niệm cơ bản về du lịch. Điểm đến du lịch là thành phần không thể thiếu trong mỗi chuyến hành trình của du khách.
Một chuyến du lịch bao giờ cũng bao gồm một hay một vài điểm đến theo các cấp độ khác nhau. Vì vậy, khi nghiên cứu về hoạt động du lịch, cũng như liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta không thé bỏ qua khái niệm điểm đến du lịch.TS Nguyễn Văn Mạnh và TS.Nguyễn Đình Hòa trong giáo trình Marketing du lich (2009), Đại học Kinh tế quốc dân, thì điểm đến du lịch là “mét địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dan, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch”.341] Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả lựa chọn và sử dụng định nghĩa của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa, trong tập bài giảng Marketing điểm đến du lịch: “Điểm đến du lịch là những điểm có tài nguyên du lịch nồi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bên vững”. Phân loại Trên cơ sở khái niệm về điểm đến du lịch đã trình bày ở trên và xét theo tiêu chí về địa lý, PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh và TS Nguyễn Đình Hoa đã phân chia điểm đến du lịch theo các mức độ hay qui mô cơ bản sau: - Các điểm có qui mô lớn: là điểm đến của một vùng lãnh thổ hay ở cấp độ châu lục như khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi. 13 - Điểm đến vĩ mô: là các điểm đến ở cấp độ của một quốc gia: Việt Nam, Mỹ, Pháp.
- Điểm đến vi mô: bao gồm các vùng, tỉnh, thành phó, quận, huyện thậm chí là một xã, thị tran.trong lãnh thé của một quốc gia. Cũng trên cơ sở khái niệm đã nêu, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa cũng đưa ra phân loại điểm đến du lịch có thé là một khu khu vực, một vùng, một quốc gia, một thành phố, một thủ đô, một khu du lịch. Khách du lịch và nghiên cứu đặc điểm của khách 1. Khách du lịch * Định nghĩa Có nhiều định nghĩa về khách du lịch (du khách).
Mỗi học giả, mỗi nhà nghiên cứu, mỗi tổ chức hay cá nhân với lăng kính của mình, đặt trong từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thê đã đưa ra những định nghĩa không hoàn toàn như nhau về khách du lịch. Theo giáo trình Kinh tế du lịch (2009), Đại học Kinh tế quốc dân thì định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ XVIII tại Pháp. Thời đó, các cuộc hành trình của người Đức, người Hà Lan, người Anh.trên đất Pháp được chia ra làm 2 loại: cuộc hành trình nhỏ là cuộc hành trình từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp; cuộc hành trình lớn là cuộc hành trình theo bờ Dia Trung hải, xuống phía Tây Nam nước Pháp và vùng Bourgogne. Khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn.
Vào dau thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Ao Josef Stander đã định nghĩa: “Khách du lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cw tru thường xuyên dé thỏa mãn những nhu cau sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh té”. Một nhà kinh tế học người Anh tên là Odgilvie lại cho rang: dé trở thành khách du lịch cần có hai điều kiện: thứ nhất, phải xa nhà thời gian dưới một năm; thứ 2, ở đó phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác. 14 Các định nghĩa trên đều chưa thực sự đầy đủ, chưa lột tả hết nội dung của khái niệm khách du lịch và chỉ mang tính chất tham khảo. Dé có cài nhìn đầy đủ hơn về khái niệm khách du lịch, cần tìm hiểu một số định nghĩa khác như sau: Trước hết là định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia: năm 1937, tổ chức này đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch nước ngoài là “bát cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”.
Theo định nghĩa này, tất cả những người được coi là khách du lịch là: Những người khởi hành để giải trí, vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khỏe. Những người khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công vụ. Những người khởi hành vì các mục đích kinh doanh; Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biến, thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24h. Những người không được coi là khách du lịch là: Những người đến lao động, kinh doanh có hoặc không có hợp đồng lao động; Những người đến với mục đích định cư; Sinh viên hay những người đến học ở các trường: Những người ở biên giới sang làm việc; Những người đi qua một nước mà không dừng mặc dù cuộc hành trình đi qua nước đó có thé kéo dài 24h.
Năm 1981, 76 chức du lịch thé giới (UNWTO) đã đưa ra sơ đồ định nghĩa du khách quốc tế: 15 Lữ khách Được t ống kê Không được thông kê Khách - Nghỉ - Văn hóa - Thể Giải trí thao chủ động Du khách | Khách tham quan - Khác Động cơ - Hội họp - Công Người nước ngoài Kiều bào | Khách vãng lai Khách trong ngày Nghề nghiệp hơn một ngày tác - Kinh doanh Phi hành đoàn và Phi hành đoàn và thủy thủ thủy thủ - Nghiên Động cơ cứu khác - Sức khỏe - Quá cảnh Di cư Lao động Lực lượng Các nhà vùng biên Dân di cư | | Khách quá | Dân tị nạn quân sự Đại diện ngoại giao Di cư tạm thường xuyên cảnh lãnh su thời Hình 1.1: Sơ đồ định nghĩa du khách quốc tế của UNWTO - 1981 16 Ngày 4-3-1993, Hội dong thống kê Liên hiệp quốc đã công nhận những thuật ngữ có liên quan đến khách du lich dé thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch: Khách du lịch quốc tế (international tourist) bao gồm: Khách du lịch quốc tế đến (inbound tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia. Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (outbound tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài. Khách du lịch trong nước (internal tourist): gồm những người là công dan của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước. Khách du lịch nội dia (domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến.
Khách du lịch quốc gia (national tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài. Trong giáo trình Nhập môn khoa học du lịch (2000), Đại học Quốc gia Hà Nội, PGS.TS Trần Đức Thanh thể hiện quan điểm về khách du lịch rằng: để có thể đưa ra một khái niệm du khách chặt chẽ, nên bắt đầu từ khái niệm khách, như quan điểm định nghĩa du khách quốc tế của Tổ chức du lịch thế giới, nghĩa là khách phải được định nghĩa từ phía đón tiếp chứ không phải từ nơi đi như ở một số định nghĩa. Theo ông, “du khách là người từ nơi khác đến với / hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thân hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và / hoặc của cộng dong xã hội. Vẻ phương diện kinh tế, du khách là người người sử dụng dich vụ cua các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống.20] Ông cũng đề cập đến khái niệm khách tham quan, “/d một loại khách đến với mục đích nâng cao nhận thức tại chỗ có kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh than, vật chat hay dich vụ, song không lưu lại qua đêm tại một cơ sở lưu tru của ngành du lịch”.20] Theo điều 34, chương 5, Luật du lịch Việt Nam ban hành năm 2005 có những qui định về khách du lịch như sau: 17 Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoai thường trú tại Việt Nam di du lịch trong phạm vi lãnh thô Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lich. Như vậy, qua dẫn chứng và phân tích một số định nghĩa trên, có thể rút ra một số kết luận cơ bản về khái niệm khách du lịch như sau: Các định nghĩa hầu hết đều đề cập đến 3 khía cạnh: - Động cơ khởi hành - Yếu tố thời gian: chú trọng phân biệt giữa khách du lịch và khách tham quan trong ngày với yếu tố nghỉ hoặc không nghỉ qua đêm hay có hoặc không sử dụng một tối trọ. - Đối tượng được thông kê là khách du lịch và những đối tượng không được thống kê là khách du lịch.
Chú ý, khách tham quan là loại khách được thống kê. * Phân loại Theo PGS.TS Tran Đức Thanh thì cần phân biệt hai loại du khách cơ bản: > Du khách thuần túy: là những người mà chuyến đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về các điều kiện, tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hóa. > Những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác như công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn, hội họp. Trên đường đi hay tại nơi đến, những người này sắp xếp được thời gian cho việc tham quan, nghỉ ngơi.