Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu với những nội dung liên quan đến: (1) Lý do chọn đề tài; (2) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài; (3) Câu hỏi nghiên cứu; (4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (5) Phương pháp nghiên cứu; (6) Những điểm mới của luận án; (7) Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu; và (8) Kết cấu của đề tài.1 Lý do chọn đề tài 1.1 Bối cảnh lý thuyết Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi trong các nghiên cứu chiến lược (Vankatranan và Rananujam, 1986; Glunk và Wilderom, 1996; Hernaus và cộng sự, 2012; Rodrigues và Franco, 2019). Trong một thời gian dài, việc đo lường HQHĐ của doanh nghiệp gần như được đồng nhất với việc đo lường các chỉ tiêu tài chính (Glunk và Wilderom, 1996). Tuy nhiên, các khái niệm rộng hơn về HQHĐ đã được thảo luận (Kaplan và Norton, 2005; Hernaus và cộng sự, 2012). Theo đó, HQHĐ đã được tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết các bên liên quan (Kanter và Brinkerhoff, 1981; Chakravarthy, 1986; Brown và Laverick, 1994).
Theo lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan (Freeman, 2015). Nói cách khác, một doanh nghiệp thành công hay hoạt động hiệu quả là một doanh nghiệp quản lý và đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan. Điều này ngụ ý rằng nếu doanh nghiệp không giải quyết tốt nhu cầu của các bên liên quan, nguy cơ xung đột có thể xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HQHĐ. Như vậy, lý thuyết các bên liên quan đã ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.
Với sự xuất hiện của khái niệm phát triển bền vững (PTBV) cho thấy sự thay đổi trong quan điểm chiến lược của các doanh nghiệp. Quan điểm này khiến các doanh nghiệp phải xem xét lại mô hình chiến lược kinh doanh của mình. Theo đó, khái niệm bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) được sử dụng rộng rãi để đề cập đến cách tiếp cận của một doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan (Stakeholders) thông qua việc thực hiện các chiến lược kinh doanh tập trung vào các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường (Triple bottom line) (Dyllick và Hockerts, 2002; Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019). Đồng thời, theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, CS được xem là một chiến lược kinh doanh và đầu tư nhằm tìm cách sử dụng các nguồn lực kinh doanh tốt nhất để đáp 2 ứng và cân bằng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại và tương lai (WCED, 1987).
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ quản lý và thực hiện các hoạt động phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của các nhóm xã hội bên ngoài. Ngoài ra, việc áp dụng các chiến lược CS cho phép doanh nghiệp vượt trội hơn so với các doanh nghiệp khác không thực hiện các chiến lược bền vững (Adams và Zutshi, 2004). Theo Adams (2002), những thực hành bền vững mà các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ, ra quyết định và tiết kiệm chi phí tốt hơn. Thông qua việc quản lý nguồn lực hiệu quả, các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài.
Điều này củng cố thêm nhận thức rằng việc áp dụng các thực tiễn về CS đã trở thành một điểm cốt yếu trong chương trình quản trị định hướng hiệu quả của nhiều tổ chức (Sy, 2016). Hơn nữa, ý nghĩa mà CS mang lại cho doanh nghiệp là tăng cường khả năng tuân thủ luật và các qui định. Với những thảo luận về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên năng lượng và tác động môi trường, không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan chính phủ và nhà nước ban hành ngày càng nhiều quy định về bảo vệ môi trường. Tích hợp PTBV với ba thành tố then chốt (Triple bottom line) vào hoạt động kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời tuân thủ những quy định không ngừng thay đổi hiện nay (Tomšič và cộng sự, 2015).
Do đó, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của CS đối với doanh nghiệp (Dyllick và Hockerts, 2002) và các học giả đã bắt đầu thảo luận rộng rãi về chủ đề này (Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2018; Rodrigues và Franco, 2019). Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm gần đầy đã cho thấy tác động tích cực của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp (Eccles và cộng sự, 2014; Tomšič và cộng sự, 2015; Sy, 2016; El-Khalil và El-Kassar, 2018). Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ lấy bối cảnh từ các nước phát triển và tập trung vào các tập đoàn lớn. Do đó, nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp trong bối cảnh mới không chỉ góp phần nhận diện tầm quan trọng của các khái niệm này một cách toàn diện hơn, mà còn bổ sung kiến thức về việc đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó góp phần đem lại ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn.
Đồng thời, Baumgartner (2014) đã kết luận rằng việc tìm kiếm tài liệu ngày càng tăng về chủ đề CS cũng như sự thiếu vắng các nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực này. Theo đó, 3 Baumgartner (2014) đã khuyến khích cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề này. Lý thuyết các bên liên quan chỉ ra rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm trước các cổ đông của mình mà còn phải xem xét lợi ích của các bên liên quan khác (Freeman, 2015). Đồng thời, các hoạt động vì mục tiêu phát triển CS sẽ thúc đẩy sự tin tưởng, cam kết và hợp tác của các bên liên quan đối với doanh nghiệp (Gao và cộng sự, 2016).
Điều này ngụ ý rằng các hoạt động CS sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi như sự cam kết, sự gắn bó và sự tham gia của các bên liên quan chủ yếu của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, nhân viên luôn được nhìn nhận là một trong những bên liên quan bên trong quan trọng đối với doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Choi và Yu (2014), hai tác giả đã cho thấy nhận thức của người lao động về thực hành các hoạt động bền vững có tác động tích cực đến sự gắn bó của nhân viên (SGBNV) đối với doanh nghiệp. Đồng thời, SGBNV là một trong những yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến HQHĐ (Jung và Yoon, 2012; Ghazzawi, 2008; Tuna và cộng sự, 2016).
Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với tổ chức đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong nhiều ngành và tập trung chủ yếu vào các yếu tố động viên tài chính và phi tài chính. Các nghiên cứu về những yếu tố tác động thuộc phương diện nhận thức về trách nhiệm công dân doanh nghiệp, về đạo đức đối với môi trường gần như ít được chú trọng. Điều này đã tạo cơ hội cho các nghiên cứu về sự tác động của CS đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên và vai trò trung gian của sự gắn nhân viên của nhân viên trong sự ảnh hưởng của CS đến HQHĐ. Ngoài ra, Lo và Sheu đã khẳng định trong nghiên cứu của mình rằng các doanh nghiệp có chiến lược PTBV có nhiều khả năng được các nhà đầu tư khen thưởng với mức định giá doanh nghiệp và cổ phiếu cao hơn trên thị trường tài chính (Lo và Sheu, 2007).
Nói cách khác, việc thực hiện các chiến lược bền vững giúp tăng cường sự quan tâm chú ý và dẫn đến sự cam kết của nhà đầu tư (SCKNĐT) đối với doanh nghiệp. Hơn nữa, các nghiên cứu về chủ đề này đã chỉ ra rằng sau khi đầu tư vào các công ty, các nhà đầu tư tổ chức luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện quản trị công ty (Corporate governance) (Hartzell và Starks, 2003; Dong và Ozkan, 2008; Mizuno, 2014). Do đó, cam kết của nhà đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến những nguyên tắc quản trị doanh nghiệp tốt (OECD, 2004) (dẫn chiếu OECD Principles of Corporte Governance) và điều này góp phần quan trọng trong việc nâng cao HQHĐ. Điều này 4 cho thấy, có mối quan hệ cần được khám phá bằng nghiên cứu thực nghiệm về vai trò trung gian của sự cam kết của các nhà đầu tư trong tác động của CS đến HQHĐ.
Kiểm định mối quan hệ trung gian này nhằm khẳng định giả định nền tảng lý thuyết các bên liên quan – những thực thể chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng bởi các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp. Lược khảo tài liệu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu về CS được thực hiện trong các ngành công nghiệp (Pedersen và cộng sự, 2018; Annunziata và cộng sự, 2018), nơi thường được xem là nguồn chủ yếu của ô nhiễm môi trường và an toàn lao động. Việc nghiên cứu CS trong các ngành dịch vụ là rất hạn chế. Kallio (2018) cho rằng ngành du lịch đang ở thời điểm then chốt, nơi mà tiềm năng và các mối đe dọa liên quan đến ngành du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn cầu.
Mặc dù lĩnh vực này mang lại nhiều cơ hội phát triển vì là một trong những ngành lớn nhất toàn cầu, nhưng ảnh hưởng tiêu cực mà ngành du lịch góp phần đối với môi trường như sự nóng lên của trái đất và biến đổi khí hậu cũng đã được thừa nhận. Như một phản ứng, ngành du lịch và giới học thuật đã và đang chuyển hướng sang các diễn thuyết về du lịch bền vững, hay gần đây là du lịch có trách nhiệm, nơi các bên liên quan hướng tới con đường PTBV toàn diện. Kallio (2018) nhấn mạnh giá trị cốt lõi của cuộc tranh luận về du lịch bền vững là khái niệm về trách nhiệm, đặc biệt là khái niệm về trách nhiệm của các bên liên quan đối với tính bền vững trong du lịch. Lược khảo các nghiên cứu về chủ đề bền vững trong du lịch, tác giả tìm thấy các nghiên cứu tập trung vào khoảng cách thái độ - hành vi của khách du lịch (Juvan and Dolnicar, 2014; Fernandez and Sanchez, 2016) hơn là thái độ - hành vi của sự tham gia của cộng đồng địa phương (STGCĐĐP) vào du lịch, trong khi công đồng địa phương được xem là bên liên quan đặc biệt quan trọng để có được sự bền vững một cách toàn diện (Kallio, 2018).