phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương sau: hương 1: Một số cơ sở lý luận về công tác thu hút và tạo động lực làm việc cho nhân viên khách sạn hương 2: Thực trạng công tác thu hút và tạo động lực làm việc cho nhân viên tại một số khách sạn 4 sao ở à Lạt, nghiên cứu trường hợp: khách sạn Sài Gòn – à Lạt, khách sạn Sammy à Lạt và khách sạn Ngọc Lan. hương 3: Một vài giải pháp hoàn thiện công tác thu hút và tạo động lực làm việc cho nhân viên tại một số khách sạn 4 sao ở à Lạt. 14 z hƣơng 1: M T SỐ Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THU HÚT VÀ TẠO NG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN KHÁCH SẠN 1.1 Khái quát về công tác thu hút và tạo động lực làm việc cho nhân viên 1.1 Khái niệm về công tác thu hút nhân viên Từ “thu hút” được sử dụng rộng rãi trong xã hội hiện nay dưới các góc độ khác nhau. Về khái niệm “thu hút” có thể được hiểu đó là sự hấp dẫn về một lý do nào đó, lôi cuốn hay làm dồn mọi chý ý đến một hiện tượng, sự việc nào đó.
òn công tác thu hút là những biện pháp, cách thức, những hành động mà một cá nhân, hoặc tổ chức nào đó thực hiện nhằm tạo sự chú ý, tò mò, cuốn hút và gây ấn tượng với người khác để lôi họ về phía mình muốn. Tuy nhiên trong lĩnh vực quản trị nhân lực thì khái niệm “thu hút” được hiểu một khía cạnh khác bởi đối tượng thu hút trong quản trị nhân lực chính là con người. Với đối tượng thu hút là con người thì công tác thu hút cần phải có những giá trị riêng biệt có thể thỏa mãn một nhu cầu, lợi ích nhất định nào đó của con người để họ đến với mình. Vậy công tác thu hút nhân viên của bất cứ một doanh nghiệp nào đó không dừng lại chỉ việc “tuyển mộ” đơn thuần mà còn đó là một quá trình thu hút những con người có khả năng đáp ứng nhu cầu của công việc khi họ cần thỏa mãn giá trị lợi ích nhất định.
Thế nhưng trong thực tế nghiên cứu, khái niệm chính thống công tác thu hút nhân viên chưa được công bố và sử dụng rộng rãi. Nhiều nhà nghiên cứu nhân lực chỉ dừng lại khái niệm công tác tuyển mộ và tuyển dụng nhân viên, coi nhẹ “công tác thu hút nhân viên”, đôi khi vấn đề thu hút nhân viên còn được hiểu chỉ là một phần của “tuyển mộ” như quan điểm của PGS .TS ồng Thị Thanh Phương “Tuyển mộ là quá trình tìm kiếm, thu hút những người được coi là đủ năng lực, tình nguyện ứng tuyển vào làm việc cho tổ chức, doanh nghiệp” [3, tr. Xét một khía cạnh khác thì công tác thu hút nhân viên cũng chính là tuyển mộ nhân viên vì cùng một bản chất như TS Nguyễn Hữu Thân cho rằng “ Tuyển mộ nhân viên là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn tìm việc làm” [19, tr. Từ những phân tích trên và bản chất về “quản lý con 15 z người” theo quan điểm tác giả thì “Công tác thu hút nhân viên là quá trình tìm kiếm và khuyến khích người lao động gia nhập một cách tình nguyện vào doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có thể làm thỏa mãn được một phần hay toàn bộ lợi ích, nhu cầu của người lao động bởi một giá trị nhất định nào đó”.
Mức độ giá trị thỏa mãn đó thể hiện sự khác biệt tạo nên sự hấp dẫn cho người lao động đối với doanh nghiệp đang tuyển dụng. ó chính là sức hấp dẫn làm cốt lõi cho công tác thu hút nhân viên.2 Khái niệm về công tác tạo động lực làm việc cho nhân viên Hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào thái độ làm việc của nhân viên. Vậy để có một thái độ làm việc tốt, nhiệt tình và hăng say, các nhà quản trị nhân lực luôn tìm cách tạo ra động lực làm việc cho nhân viên, đồng thời đây cũng là cách giữ chân nhân viên có năng lực. ể có một động lực làm việc tốt khi các nhu cầu và lợi ích của nhân viên được thỏa mãn hay đó là động cơ thúc đẩy.
“Nhu cầu” của nhân viên chỉ là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của nhân viên về vật chất và tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn. Mức độ thỏa mãn càng cao thì càng tạo động lực làm việc càng tốt và ngược lại. Trong đó cái cụ thể của sự thỏa mãn là lợi ích cá nhân của người lao động được đáp ứng theo nguyện vọng, theo các mức độ khác nhau. Vì thế các nhà nghiên cứu cho rằng “Tạo động lực làm việc cho nhân viên là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất, phải làm cho mục tiêu mong muốn của cá nhân phù hợp với mục tiêu doanh nghiệp” [16, tr.
ồng thời, TS Bùi Anh Tuấn cũng cho rằng “Động lực làm việc là những nhân tố kích thích con người nỗ lực trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [21, tr. ộng lực còn có thể hiểu rộng hơn, đó là “ Sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức” [9, tr. Vậy, việc tạo động lực được hiểu là “một hệ thống, chính sách, biện pháp, cách thức tác động vào quá trình làm việc của người lao động, đây chính là khả 16 z năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác của tổ chức, đây cũng là trách nhiệm của các nhà quản trị, của những ngưởi quản lý trong quá trình tạo ra sự gắng sức tự nguyện của người lao động, có nghĩa là tạo được động lực làm việc cho nhân viên của mình” [21, tr.
Trong thực tế, động lực làm việc không tự nhiên có mà doanh nghiệp phải tạo ra nó, kích thích và tìm cách đưa đến cho nhân viên, đây là vấn đề của nhiều doanh nghiệp hiện nay trong tiến trình tạo động lực làm việc cho nhân viên.3 ai trò và mối quan hệ giữa công tác thu hút và tạo động lực làm việc cho nhân viên trong hoạt động quản trị nhân lực Trong bối cảnh cạnh tranh khóc liệt giữa các doanh nghiệp, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, sự chảy máu “chất xám” của các doanh nghiệp. thì công tác thu hút và tạo động lực làm việc cho nhân viên đóng vai trò rất quan trọng. Thể hiện vai trò trong việc tuyển mộ và đảm bảo được nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, hiệu quả làm việc nhân viên tăng cao và tăng lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp. Thứ nhất là đảm bảo được nguồn nhân lực cho doanh nghiệp về số lượng cũng như chất lượng.
ây là yếu tố ban đầu của bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển bền vững. Doanh nghiệp cần phải thu hút được đội ngũ nhân viên xứng tầm với doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh doanh và phát triển. Số lượng nhân viên phải ổn định và đủ để đáp ứng trong từng giai đoạn phát triển khác nhau. Chất lượng nhân viên phải phù hợp, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và còn có triển vọng hơn nữa so với yêu cầu hiện tại, như David Oglivy đã từng nói “Nếu mỗi chúng ta đều tuyển những người kém hơn chúng ta, chúng ta sẽ trở thành công ty của những gã lùn.
Còn nếu tuyển những người giỏi hơn, chúng ta sẽ trở thành công ty của những gã khổng lồ” [37, tr. Thứ hai là nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên. Doanh nghiệp thu hút được những người tài, sẵn sàng cống hiến trí tuệ và công sức cá nhân cho doanh nghiệp khi người lao động tìm thấy nhu cầu, lợi ích của họ được thỏa mãn, họ nhận được một giá trị nhất định nào đó trong công việc, sống và làm việc cho doanh 17 z nghiệp. Nhân tố con người quyết định sự thành công của doanh nghiệp, doanh nghiệp thành công và hoạt động hiệu quả khi cá nhân người lao động đạt hiệu quả trong công việc, nhiệm vụ được giao.
Thứ ba là tăng lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp. ây là vai trò cốt lõi để doanh nghiệp có thể tồn tại trong thực tế kinh tế thị trường hiện nay khi mà mọi thứ đều thương mại hóa, hàng hàng hóa các giá trị văn hóa và hành vi con người. Những nhân viên có khả năng, trình độ chuyên môn và thái độ làm việc tốt sẽ bị các doanh nghiệp khác lôi kéo, săn đón nếu doanh nghiệp đó đáp ứng được nhu cầu, lợi ích nào đó của họ. Hay nhân viên nhận ra những giá trị, chuỗi giá trị của họ sẽ có được khi gia nhập doanh nghiệp khác.
Nếu lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp mình không còn thì họ sẽ ra đi, sẽ làm biến động nguồn lao động của doanh nghiệp. Chính vị vậy, việc lựa chọn người phù hợp, đáp ứng khả năng phát triển doanh nghiệp và tạo động lực làm việc cho họ ngay ban đầu sẽ góp phần làm tăng tính trung thành của nhân viên. Tính trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp tăng tức là: Doanh nghiệp phát triển ổn định, “quan hệ nhân quả giữa sự chiếm hữu nhân viên và sự hài lòng của khách hàng” [37, tr. 82], giảm chi phí vấn đề nhân lực (thay thế nhân lực).
Trong nghiên cứu sự thu hút và giữ chân nhân viên, Sears đã kết luận “Sự gắn bó của nhân viên dự báo sự gắn bó của khách hàng. Khi nhân viên cảm thấy sự gắn bó với công ty, hầu như họ có thể chia sẻ những hình ảnh và cảm nhận tích cực của họ về công ty với khách hàng. Khi khách hàng thấy được thực tế tốt đẹp, họ đáp lại công ty thiện chí hơn” [37, tr. Thứ tư là tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Công tác thu hút nhân viên tốt sẽ có được đội ngũ nhân viên chất lượng, số lượng ổn định cùng với công tác tạo động lực làm việc tốt cho nhân viên sẽ tạo nên sự ổn định, năng suất làm việc cao, giảm thiểu chi phí nhân lực và sai sót trong lao động. tất cả tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.