Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Lê Huy Thực với đề tài "Triết lý đạo đức trong kho tàng Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2015, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS,TS. Nguyễn Ngọc Long. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02).
Tính cấp thiết của đề tài được tác giả xác định từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Theo các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội VIII, X, XI), văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Kho tàng văn hóa dân gian (bao gồm tục ngữ, ca dao, dân ca) cấu thành bộ phận trọng yếu trong di sản tinh thần của dân tộc. Dù giới nghiên cứu văn hóa, văn học đã công bố nhiều công trình sưu tầm, khảo cứu quy mô từ 300 đến gần 3.000 trang, nhưng việc tiếp cận kho tàng sáng tác dân gian này dưới lăng kính triết học, đặc biệt là triết học đạo đức, vẫn còn rất hạn chế. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: chưa có công trình chuyên khảo nào từ 100 đến 200 trang bàn luận chuyên sâu, có hệ thống về vấn đề đạo đức và các nội dung triết học trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của tác giả là chứng minh sự tồn tại của một hệ thống triết lý đạo đức trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, khẳng định các quan điểm và tư tưởng tiến bộ cần được kế thừa, phát huy, qua đó bổ sung khoảng trống trong đời sống lý luận đạo đức học hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng luận kết quả nghiên cứu hữu quan, xác định nội hàm một số khái niệm được đề cập trong nội dung luận án.
- Tiếp cận mấy vấn đề chung về đạo đức tại kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam trong truyền thống.
- Bàn về cái thiện - khái niệm, vấn đề trung tâm của đạo đức học - và các hành vi ác - cái đối lập với cái thiện - trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam.
- Trình bày về hạnh phúc và bất hạnh - những khái niệm, vấn đề cơ bản của đạo đức học được diễn giải trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam cùng các công trình, tác phẩm hữu quan. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn vào các mệnh đề, tác phẩm triết lý về đạo đức trong kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam được lưu giữ từ trong truyền thống.
| Thông số hành chính và cấu trúc |
Nội dung xác lập từ văn bản |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh |
| Tác giả & Người hướng dẫn |
Lê Huy Thực; GS,TS. Nguyễn Ngọc Long |
| Chuyên ngành & Mã số |
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; 62 22 03 02 |
| Năm bảo vệ |
2015 |
| Kết cấu tổng thể |
Phần mở đầu, 4 chương (9 tiết), Kết luận |
| Dung lượng công bố & trích dẫn |
36 công trình của tác giả liên quan đến luận án; 118 tài liệu tham khảo |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả tiến hành khảo sát và phân loại hơn 30 tác phẩm, công trình khoa học tiêu biểu theo 3 hướng nghiên cứu chính:
Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu tiếp cận tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam từ góc độ văn học và văn hóa dân gian.
Tác giả điểm qua các tác phẩm tiêu biểu như: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (bản in lần thứ 11) tiếp cận chủ yếu dưới góc độ văn học, sắp xếp tư liệu theo các chủ đề sinh hoạt; bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn chú trọng chức năng giảng dạy ngữ văn, có bàn luận ở mức độ nhất định về nhân nghĩa, hạnh phúc và phê phán cái ác; bộ sách Thi ca bình dân Việt Nam - tòa lâu đài văn hóa dân tộc gồm 4 tập với gần 3.000 trang của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh phân chia thi ca theo các góc độ triết học (Nhân sinh quan, Xã hội quan, Vũ trụ quan, Sinh hoạt thi ca) nhưng chưa phân tích sâu các phạm trù đạo đức học chuyên biệt; công trình Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đỉnh; bộ Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (5 tập, mỗi tập khoảng 1.000 trang) khẳng định văn học dân gian là phức hợp giá trị văn hóa - văn học - lịch sử - triết học - đạo đức; Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam của Võ Quang Nhơn; Kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập I) của Ninh Viết Giao (chủ biên), Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực; kỷ yếu hội thảo 50 năm nghiên cứu, phổ biến văn hóa, văn nghệ dân gian với 38 tham luận của Tô Ngọc Thanh, Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Quốc Vượng; cuốn Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường của Nguyễn Xuân Lạc; tập bình luận Ca dao Việt Nam - những lời bình của Vũ Thị Thu Hương; cuốn Tục ngữ Việt Nam do Chu Xuân Diên biên soạn phần khảo cứu hơn 170 trang khẳng định tục ngữ là một hình thái ý thức xã hội; tập sách Tục ngữ - ca dao Việt Nam do Cao Tuyết Minh tuyển chọn; luận văn Những yếu tố duy vật và biện chứng trong tục ngữ, ca dao Việt Nam của Võ Hoàng Khải; tiểu luận Cảm nhận triết lý tục ngữ, ca dao của Song Phan; tiểu luận về triết lý dân gian của một số tiến sĩ triết học; và bài nghiên cứu Hạt ngọc trầm tích của Sương Nguyệt Minh phân tích tính lịch sử, hai mặt ngữ nghĩa của ca dao tục ngữ.
Hướng thứ hai: Các nghiên cứu về đạo đức xã hội nói chung.
Tác giả tổng thuật các nghiên cứu lý luận đương đại gắn với bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu hóa: bài viết của PGS. Đặng Hữu Toàn về định hướng giá trị đạo đức theo hệ chuẩn chân - thiện - mỹ; nghiên cứu của PGS. Phạm Văn Đức về mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường; công trình của PGS. Nguyễn Văn Phúc về tính quy luật hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức mới; công trình chuyên khảo Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay: vấn đề và giải pháp do VS. Nguyễn Duy Quý chủ biên phân tích thực trạng suy thoái đạo đức, sự tha hóa do mặt trái kinh tế thị trường và đề xuất giải pháp củng cố văn hóa đạo đức.
Hướng thứ ba: Các nghiên cứu làm rõ hệ khái niệm công cụ.
Tác giả khảo cứu cách giải thích các khái niệm triết lý, triết luận, đạo đức, tục ngữ, ca dao, dân ca trong từ điển triết học và các giáo trình chuyên ngành.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu nhóm một chỉ nhìn nhận sáng tác dân gian như văn bản văn học nghệ thuật thuần túy hoặc sưu tập ngữ liệu; nhóm hai chủ yếu tập trung vào các vấn đề đạo đức học đương đại ở cấp độ vĩ mô. Chưa có công trình nào sử dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, hệ thống hóa toàn diện các triết lý đạo đức (giá trị đạo đức, cái thiện, cái ác, hạnh phúc, bất hạnh) tiềm ẩn trong kho tàng ca dao, tục ngữ, dân ca Việt Nam truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng trực tiếp trên nền tảng các quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và con người.
Khung phân tích khái niệm được tác giả xác lập rõ ràng:
- Triết lý: Khi đóng vai trò danh từ, khái niệm mang hai tầng nghĩa: lý luận triết học và quan niệm chung của con người về giới tự nhiên, nhân sinh và xã hội; khi là động từ, chỉ hoạt động bàn luận, giải trình về triết học.
- Triết luận: Được sử dụng với tư cách tính từ, có nghĩa là mang nội dung, ý nghĩa triết học.
- Đạo đức: Tác giả phê phán các định nghĩa dài dòng coi đạo đức là "hình thức ý thức xã hội đặc biệt" (tác giả chỉ rõ tôn giáo mới là hình thái ý thức xã hội đặc biệt và phức tạp) hoặc đưa thừa từ "nguyên tắc" bên cạnh "quy tắc". Vận dụng phương pháp định nghĩa của V.I. Lênin (quy khái niệm cần định nghĩa vào một khái niệm rộng hơn rồi chỉ ra đặc điểm riêng), luận án định nghĩa: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những quy định mang tính lịch sử về nghĩa vụ của người này đối với người khác và toàn xã hội.
- Tục ngữ, ca dao, dân ca: Tục ngữ là những câu ngắn gọn, có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, sản xuất và đạo đức; ca dao là thơ ca dân gian truyền miệng, chủ yếu theo thể lục bát; dân ca là những câu, bài hát dân gian có giai điệu, diễn xướng. Tác giả nhấn mạnh ranh giới giữa ba thể loại này chỉ mang tính tương đối trong thực tế diễn xướng và ghi chép.
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp nghiên cứu định tính thuần túy, phù hợp đặc thù của chuyên ngành triết học, không sử dụng công cụ thống kê định lượng hay điều tra bảng hỏi. Các phương pháp thao tác văn bản cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản: mổ xẻ nội dung các câu tục ngữ, ca dao, bài dân ca để rút ra các tư tưởng cốt lõi.
- Phương pháp lịch sử và lôgích: đặt các câu ca dao, tục ngữ vào hoàn cảnh lịch sử xã hội nông nghiệp cổ truyền để giải mã ý nghĩa nhân sinh, đồng thời quy nạp thành các kết luận mang tính quy luật.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: đi từ các biểu hiện đơn lẻ của hành vi đạo đức trong ca dao đến việc xác lập các phạm trù đạo đức học.
- Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể: phân tích các phạm trù lý luận (cái thiện, hạnh phúc) qua các biểu hiện cụ thể trong đời sống dân gian.
Nguồn tư liệu sử dụng là các bộ sưu tập văn học dân gian lớn đã được xuất bản chính thức, các ấn phẩm nghiên cứu văn hóa truyền thống và các văn kiện chính trị, lý luận triết học Mác - Lênin.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này dành cho việc tổng luận 3 nhóm tác phẩm có liên quan mật thiết với đề tài: nhóm công trình nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca từ góc độ văn học; nhóm nghiên cứu về đạo đức xã hội; và nhóm công trình bàn thảo về các khái niệm cơ bản. Tác giả phân tích những đóng góp của các học giả đi trước, đồng thời chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu làm rõ các khía cạnh triết học đạo đức. Chương 1 khép lại bằng việc xác định rõ nội hàm khoa học của các khái niệm: triết lý, triết luận, đạo đức, tục ngữ, ca dao, dân ca, tạo cơ sở phương pháp luận nhất quán cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Giá trị đạo đức và thói đời
Nội dung chương 2 tập trung phân tích tính phân cực của đời sống đạo đức qua hai nhánh đối lập: khẳng định giá trị đạo đức và phê phán thói đời.
Khẳng định giá trị đạo đức: Tác giả chỉ ra rằng trong văn hóa dân gian Việt Nam, đạo đức là giá trị bản chất được tôn vinh cao nhất, vượt lên trên các tiêu chí về tiền tài, vật chất, địa vị hay hình thức bên ngoài.
- Tôn vinh đạo đức hơn của cải và hình thức: Triết lý dân gian khẳng định giá trị con người qua các mệnh đề như "Gái mà chi, trai mà chi, sinh ra có ngãi có nghì là hơn", "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn / Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người", "Cái nết đánh chết cái đẹp", "Tiền là gạch, ngãi là vàng", "Bần thanh hơn phú trọc". Tác giả lưu ý chữ "cái đẹp" trong tục ngữ chỉ vẻ đẹp hình thức bên ngoài, không đồng nhất với phạm trù mỹ học cái đẹp toàn diện.
- Đạo đức là nền tảng của tình yêu và hôn nhân: Nhân dân coi trọng nghĩa tình hơn sự giàu sang qua các câu ca dao "Cây đa cũ, bến đò xưa / Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ", "Chẳng qua duyên nợ trời sanh / Tham vì nhân ngãi, chớ lợi danh chẳng màng", "Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói xây".
- Giáo dục đạo đức: Tác giả phân tích các bài học về khiêm tốn ("Bảy mươi chưa đui chưa què, chớ khoe rằng tốt"), chân thật ("Ăn mặn nói ngay, hơn ăn chay nói dối"), sống có nhân nghĩa và chung thủy ("Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng đổi vợ xưa nay chẳng lành"). Tác giả dẫn luận điểm của Ph. Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của tư hữu và của nhà nước khẳng định bản chất của tình yêu nam nữ là không thể chia sẻ để đối chiếu với tính bất hủ trong quan niệm chung thủy của ca dao.
- Chỉ dẫn hành động đúng mực: Tục ngữ thể hiện tư tưởng biện chứng về phạm trù "độ" ("Càng thắm thì càng chóng phai, thoang thoảng hoa nhài càng được thơm lâu"). Bài ca dao về bông sen ("Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn") được phân tích như biểu tượng mẫu mực của nhân cách thanh cao, vượt lên hoàn cảnh tiêu cực.
Phê phán thói đời: Dân gian lên án nghiêm khắc các biểu hiện phản đạo đức:
- Phê phán thói đua đòi, a dua, bắt chước kệch cỡm khi không có thực lực qua các câu tục ngữ: "Thuyền đua, bè sậy cũng đua; thấy rau muống vượt, rau dừa vượt theo", "Mành treo chiếu rách cũng treo", "Thấy cá rô chạy, nồi rang cũng chạy", "Tằm chăng tơ, nhện cũng chăng tơ / Bao giờ tơ nhện được như tơ tằm".
- Phê phán thói lười biếng, ham ăn chơi, trốn tránh trách nhiệm qua hình tượng trào phúng: "Ăn no rồi lại nằm khoèo / Thấy giục trống chèo bế bụng đi xem", hoặc câu ca dao phê phán kẻ "Hay tửu hay tăm / Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa".
Chương 3: Tình cảm, việc làm thiện và hành vi ác
Chương này đi sâu vào phạm trù trung tâm của đạo đức học:
- Biểu dương, ca ngợi cái thiện: Phân tích quan niệm dân gian về lòng nhân ái, sự vị tha, khoan dung, tương thân tương ái giữa con người trong cộng đồng làng xã và gia đình. Cái thiện trong sáng tác dân gian gắn bó chặt chẽ với tình cảm thương yêu đồng loại, hành vi cứu giúp người hoạn nạn và thái độ ứng xử độ lượng.
- Lên án, tố cáo hành vi ác: Vạch trần bản chất tàn nhẫn, bất nhân, bất nghĩa, thói tham lam, lừa lọc. Tác giả luận giải quan niệm nhân quả dân gian mang màu sắc duy vật chất phác: "ở hiền gặp lành", "ác giả ác báo", "ác giả ác báo vần xoay / Hại nhân nhân hại xưa nay lẽ thường", khẳng định quy luật tự nhiên và xã hội sẽ đào thải, trừng phạt những hành vi tàn ác.
Chương 4: Vấn đề hạnh phúc và bất hạnh
Chương cuối cùng luận giải hai phạm trù cơ bản phản ánh đời sống cảm xúc và lý tưởng của người lao động:
- Bàn luận về hạnh phúc: Hạnh phúc trong quan niệm của nhân dân lao động trước hết là sự hài hòa, gắn kết gia đình, sự thanh thản về lương tâm, niềm vui trong lao động chân chính và cuộc sống thanh bạch, tự do.
- Quan niệm về bất hạnh: Luận án phân tích cách thức dân gian mô tả nỗi khổ cực, cảnh ngộ éo le, sự bất công xã hội mà người nghèo, phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội cũ. Tác giả khẳng định kho tàng ca dao, dân ca không chỉ dừng lại ở sự than thân trách phận mà còn thể hiện tinh thần lạc quan, sức sống bền bỉ và ý chí vượt qua nghịch cảnh để vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 3 đóng góp mới về mặt khoa học:
- Góp phần chứng minh và khẳng định một cách có căn cứ khoa học rằng trong kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam hàm chứa một hệ thống các nhân tố, quan điểm, lý luận triết học nói chung và triết lý về đạo đức nói riêng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
- Trình bày có hệ thống, nhiều khía cạnh về các vấn đề đạo đức dưới góc độ triết học Mác - Lênin, làm sáng tỏ các cặp phạm trù: giá trị đạo đức đối lập với thói đời, cái thiện đối lập với cái ác, hạnh phúc gắn liền với bất hạnh trong tư duy bình dân truyền thống.
- Đề xuất một số ý kiến, cách giải thích mới đối với một số câu tục ngữ, ca dao gây tranh cãi; đồng thời phân định ranh giới giữa nội hàm hẹp của ngôn ngữ dân gian và các phạm trù lý luận rộng hơn (như phân biệt "cái nết đánh chết cái đẹp" với phạm trù mỹ học cái đẹp; phê phán cách hiểu ngụy biện câu "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính" hay câu "Chính chuyên chết cũng ra ma").
Về mặt kiến nghị và giải pháp, tác giả nhấn mạnh yêu cầu:
- Quán triệt đường lối của Đảng về bảo tồn, kế thừa và phát huy di sản văn hóa tinh thần của dân tộc vào việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Vận dụng các triết lý đạo đức truyền thống (lòng nhân ái, tính trung thực, đức chung thủy, tinh thần lao động cần cù) vào công tác giáo dục nhân cách, đạo đức cho thế hệ trẻ, góp phần ngăn chặn sự xói mòn giá trị đạo đức do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi tư liệu khảo sát chủ yếu tập trung vào các văn bản sưu tầm thành văn của người Kinh (Việt) và một số ít dân tộc thiểu số đã được ấn hành phổ biến; chưa bao quát đồng đều toàn bộ các sáng tác dân ca, tục ngữ đặc thù của đầy đủ 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam.
- Luận án giới hạn nghiên cứu ở các sáng tác truyền thống, chưa mở rộng phân tích các biến thể tục ngữ, ca dao mới nảy sinh trong giai đoạn hiện đại hóa và đời sống công nghệ số.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh liên văn hóa giữa triết lý đạo đức trong dân ca, tục ngữ Việt Nam với văn hóa dân gian của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á.
- Khai thác sâu hơn các khía cạnh triết học khác tiềm ẩn trong văn học dân gian như nhận thức luận dân gian, triết lý tự nhiên và quan niệm biện chứng về sự biến đổi xã hội.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ rệt cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên ngành Triết học và Đạo đức học: Cung cấp phương pháp tiếp cận tư tưởng triết học phương Đông từ nguồn tài liệu phi kinh viện; hệ thống hóa các phạm trù đạo đức truyền thống qua góc nhìn duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Giảng viên và người nghiên cứu ngành Văn học dân gian, Văn hóa học: Cung cấp thêm cách tiếp cận liên ngành (kết hợp triết học và thi pháp dân gian) để giải mã chiều sâu tư tưởng của ca dao, tục ngữ thay vì chỉ dừng lại ở các phân tích nghệ thuật, tu từ.
- Cán bộ làm công tác tuyên giáo, tư tưởng, văn hóa và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
- Phần đáng tham khảo nhất: Tiết bàn về các khái niệm công cụ tại Chương 1 và toàn bộ Chương 2 phân tích sự đối lập giữa giá trị đạo đức và thói đời, trong đó có cách giải mã sắc sảo các hiện tượng lệch chuẩn đạo đức trong xã hội hiện nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa khái niệm "đạo đức" như thế nào và dựa trên nguyên tắc phương pháp luận nào?
Luận án định nghĩa: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những quy định mang tính lịch sử về nghĩa vụ của người này đối với người khác và toàn xã hội". Định nghĩa này tuân thủ phương pháp luận của V.I. Lênin: quy khái niệm cần định nghĩa vào một khái niệm khác rộng hơn (hình thái ý thức xã hội), sau đó chỉ ra các đặc điểm bản chất riêng biệt (quy định mang tính lịch sử về nghĩa vụ).
2. Tác giả luận giải yếu tố duy vật trong quan niệm dân gian "ở hiền gặp lành" như thế nào?
Tác giả phân tích rằng câu "Ở hiền thì lại gặp lành, những người nhân đức trời dành phần cho" nhìn bề ngoài có vẻ mang màu sắc giáo lý tôn giáo hoặc tư tưởng duy tâm, nhưng thực chất là sự đúc kết từ thực tiễn khách quan. Dù chưa đạt tới nguyên lý quyết định luận duy vật hoàn chỉnh, câu nói phản ánh mối quan hệ nhân quả trong đời sống thực tế: lối sống nhân đức, tử tế mang lại sự tin cậy, may mắn và hỗ trợ từ cộng đồng, thể hiện nội dung duy vật ẩn dưới vỏ bọc ngôn từ trực quan.
3. Tại sao luận án lại đối chiếu tục ngữ, ca dao về đức chung thủy với tác phẩm của Ph. Ăngghen?
Khi phân tích đức tính chung thủy trong hôn nhân qua các câu ca dao như "Đổi quần đổi áo thời hay / Đổi chồng đổi vợ xưa nay chẳng lành", tác giả dẫn luận điểm của Ph. Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của tư hữu và của nhà nước khẳng định bản chất của tình yêu đôi lứa là "không thể chia sẻ được". Sự đối chiếu này nhằm chứng minh nhận thức đạo đức của người lao động bình dân Việt Nam có sự tương đồng sâu sắc với nguyên lý triết học duy vật lịch sử mác-xít.
4. Tác giả phê phán những cách hiểu sai lệch nào đối với một số câu ca dao, tục ngữ?
Tác giả chỉ ra một số câu tục ngữ bị vận dụng ngụy biện trong xã hội: câu "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính" thường bị lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm giáo dục của gia đình đối với con cái hư hỏng; câu "Chính chuyên chết cũng ra ma / Lẳng lơ chết cũng đưa ra ngoài đồng" là cách nói cào bằng giá trị, làm lẫn lộn phải trái; câu "Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về" phản ánh tư tưởng phong kiến áp đặt gia trưởng, không còn phù hợp với chuẩn mực bình đẳng giới hiện nay.
5. Luận án có dung lượng và công trình trích dẫn thực tế ra sao?
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương (chia thành 9 tiết), phần kết luận, kèm theo bản kê 36 công trình khoa học đã công bố của chính tác giả liên quan trực tiếp đến đề tài và danh mục 118 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Huy Thực là công trình nghiên cứu chuyên sâu về triết lý đạo đức trong kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam dưới lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình đã phân tích có hệ thống các giá trị nhân sinh cốt lõi, từ việc khẳng định các chuẩn mực đạo đức, ca ngợi cái thiện đến việc phê phán thói đời và lý giải hạnh phúc của nhân dân lao động. Luận án cung cấp cơ sở lý luận và ngữ liệu phong phú, phục vụ hữu ích cho công tác nghiên cứu triết học, giảng dạy văn hóa dân gian và định hướng xây dựng nhân cách con người Việt Nam đương đại.