Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CA DAO BẮC BỘ VÀ CA DAO NAM BỘ 1. Giới thuyết các khái niệm 1. Nhận diện ca dao dưới góc nhìn tương quan thể loại Thuật ngữ “ca dao” không còn xa lạ đối với giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Từ trước đến nay, có không ít quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu tùy theo góc nhìn của mỗi tác giả.
Thực tế, người bình dân không sử dụng những tên gọi mang tính khái quát cao để chỉ các hiện tượng và hoạt động ca hát. Chỉ đến khi các nhà nho sưu tầm, biên soạn những câu hát dân gian thành những sách Hán Nôm vào cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XX, thì tên gọi “phong dao”, “ca dao” mới chính thức ra đời. Đến đầu thế kỉ XX, các từ “phong dao”, “ca dao” tiếp tục xuất hiện trong các sách, báo chữ quốc ngữ. Tên gọi “phong dao” xuất hiện lần đầu bằng chữ quốc ngữ năm 1928 trong cuốn Tục ngữ phong dao do Nguyễn Văn Ngọc biên soạn, Nxb Vĩnh Hưng Long.
Từ “ca dao” xuất hiện lần đầu bằng chữ quốc ngữ năm 1931 với bài Ca dao cổ trên tạp chí Nam phong số 167, dẫn theo [37, tr. So với thuật ngữ “ca dao”, thuật ngữ “dân ca” xuất hiện muộn hơn. Phải đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ này mới chính thức được sử dụng trong cuốn sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam do Vũ Ngọc Phan biên soạn (in lần đầu năm 1956) [60]. So với “ca dao”, phạm vi phản ánh của “phong dao” nhỏ hẹp hơn, nó phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại.
Dần dần tên gọi “ca dao” được sử dụng thay thế cho “phong dao”. “Ca dao” và “dân ca” có mối quan hệ đặc biệt. Nhìn chung, trong nghiên cứu văn học dân gian, thuật ngữ “ca dao” và “dân ca” được hiểu theo các nghĩa sau đây: 13 z 1) Ca dao đồng nghĩa với dân ca (về nghĩa rộng), ca dao được dùng để chỉ chung toàn bộ những bài hát được lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. 2) Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
Dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và khung cảnh ca hát. 3) Ca dao là thuật ngữ để chỉ thể thơ dân gian được phổ biến rộng rãi, lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Như vậy, không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó được tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi… thì đều là ca dao. 14 z Thuật ngữ “ca dao” được hiểu theo nghĩa thứ nhất và nghĩa thứ hai theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, tr.
22-23, dẫn theo [34, tr. Cách hiểu thứ ba theo Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao. Theo nhà nghiên cứu này, khi trở thành một thể thơ dân gian, người ta có thể thưởng thức ca dao cổ truyền như văn học viết (đọc, ngâm, xem bằng mắt). Đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khuynh hướng này là các nhà nho [37, tr.
Vũ Ngọc Phan đồng tình với cách hiểu thứ ba khi cho rằng “ca dao” là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu “dân ca”. “Dân ca” là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều hơn về mặt hình thức. Cũng theo ông, hầu hết các loại dân ca đều được xây dựng trên cơ sở những câu ca dao, tục ngữ sẵn có, tùy theo từng loại dân ca, người ta thêm vào những tiếng đệm, lót như tình bằng, tang tình, ấy mấy, v.v… tiếng đệm nghĩa như ấy ai, em nhớ, v.v… những tiếng đưa hơi như ì, ì, i ới a, hì hi v.v… Chính đặc điểm của những tiếng đệm ấy cấu tạo nên những giai điệu riêng biệt của từng loại dân ca [60, tr. Việc nghiên cứu riêng về ca dao như một loại thơ dân gian với tính độc lập tương đối của nó là hợp lí và cần thiết.
Trong luận văn này, chúng tôi hiểu ca dao theo nghĩa thứ hai và nghĩa thứ ba. Nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Dân ca, ca dao là sản phẩm văn hóa tinh thần của người lao động xưa. Và như vậy, dân ca, ca dao sẽ phản ánh toàn bộ đời sống tâm tư, tình cảm và sinh hoạt của nhân dân lao động trước đây với cả hai mặt tích cực và tiêu cực, trong đó mặt tích cực là chủ yếu” [34, tr. 15 z Theo Vũ Ngọc Phan, nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình.
Trong ca dao Việt Nam, những lời về tình yêu nam nữ là nhiều hơn cả. Có thể nói, ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đường của tình yêu, các khía cạnh của tình yêu, các trạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên [60, tr. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên cũng nhấn mạnh nội dung chính của ca dao là tiếng hát trữ tình của con người, chứa đựng nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc. Ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất.
Tính chất phong phú của ca dao về tình yêu nam nữ trước hết thể hiện ở số lượng lời ca. Nó còn thể hiện ở nội dung phản ánh phong phú mọi biểu hiện của tình yêu trong tất cả những chặng đường: giai đoạn gặp gỡ ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao đổi những lời thề nguyền tặng vật cho nhau, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung, hoặc sự thất bại đau khổ với những lời than thở, oán trách… [31]. Để thể hiện được nội dung trữ tình đó, ca dao trước hết “phản ánh lịch sử – xã hội” của người lao động, về mặt này, có thể coi ca dao dân ca Việt Nam là một kho tài liệu phong phú về phong tục tập quán ở nông thôn ngày xưa [31, tr. Như vậy, bên cạnh việc phản ánh nội dung hiện thực xã hội thì chủ yếu ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm của người bình dân trong xã hội cổ truyền, qua đó thể hiện nét đẹp trong tâm hồn, tính cách và quan niệm sống của họ.
Khái niệm “lời tỏ tình” và “lời thề nguyền” 1. Khái niệm “lời tỏ tình” Theo Nguyễn Xuân Kính, mỗi lời ca dao là một cơ cấu tương đối trọn vẹn về nội dung, về hình thức nghệ thuật. Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình thức của lời chính là từ ngữ, nhịp điệu, vần thơ… [37, tr.
16 z Từ điển Tiếng Việt (Hoàng phê chủ biên) nêu khái niệm “tỏ tình” là “bộc lộ, giãi bày cho người khác biết rõ” (về tình yêu của mình) [61, tr. Ca dao tỏ tình (lời tỏ tình trong ca dao) là những lời ca dao có nội dung nhằm bày tỏ, bộc lộ tình yêu của chủ thể trữ tình đến đối tượng. Khái niệm “lời thề nguyền” Từ điển Tiếng Việt (Hoàng phê chủ biên) nêu khái niệm “thề nguyền” là “Thề để nói lên lời nguyện với nhau (nói khái quát)” [61, tr. Ca dao thề nguyền (lời thề nguyền trong ca dao) là những lời ca dao có nội dung phản ánh lời thề (thủy chung, gắn bó) của những người đang yêu và nguyện (tự nhủ, tự cam kết) sẽ thực hiện đúng như lời thề đó.
Như đã trình bày ở trên, ca dao phản ánh những biểu hiện phong phú trong các chặng đường tình yêu của nam nữ thanh niên với cả hai mặt tích cực và tiêu cực, mặt tích cực là chủ yếu. Mảng ca dao tình yêu đau khổ tuy chiếm số lượng không nhỏ, nhưng tính cách con người Việt Nam luôn hướng đến sự lạc quan, sự chung thủy, niềm tin tưởng, tinh thần vượt lên hoàn cảnh. Yêu thương, chung thủy vốn là truyền thống của người Việt. Tỏ tình và thề nguyền chính là sự thăng hoa cảm xúc trong tình yêu, nó thể hiện sự rung động, đồng điệu tâm hồn, mong ước gắn bó trọn đời, thủy chung như nhất.
Luận văn nhấn mạnh đến tính tích cực trong nội dung ca dao tỏ tình và thề nguyền mà không nghiên cứu những lời bội tín, vong thề (khi kiểm chứng, thực hiện lời thề đó). Xác định ranh giới “Bắc Bộ” và “Nam Bộ” 1. Theo thay đổi địa danh và địa giới hành chính Cách gọi Bắc Kỳ và Nam Kỳ theo khu vực địa lý – hành chính đã có từ thời Nguyễn; cách gọi đầy đủ cả ba miền Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ có từ thời thuộc Pháp, ranh giới Bắc Kỳ của hai thời kỳ khá tương đồng; ranh giới Nam Kỳ thuộc Pháp rất khác so với thời Minh Mệnh, số tỉnh thời thuộc Pháp nhiều hơn. 17 z Dưới triều Nguyễn, về mặt tổ chức, các cấp hành chính có sự khác nhau giữa 2 thời kỳ trước và sau cải cách hành chính năm 1831-1832.
Trước năm 1831, có các cấp hành chính như sau: 1. Triều đình trung ương đặt ở Huế 2. Dưới triều đình, ở phía Bắc có Bắc Thành, ở phía Nam có Gia Định Thành 3. Dưới nữa là trấn hoặc dinh.
Cuộc cải cách hành chính 1831-1832 dưới triều Minh Mệnh đã bãi bỏ Bắc Thành và Gia Định Thành, đối trấn làm tỉnh, chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính trực thuộc triều đình trung ương. Lấy kinh đô làm trung tâm; năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) chia đặt như sau: Quảng Nam, Quảng Ngãi thuộc Nam Trực; Quảng Trị, Quảng Bình thuộc Bắc Trực; Bình Định, Bình Thuận thuộc Tả Kỳ; Nghệ An, Thanh Hóa thuộc Hữu Kỳ; Gia Định, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên thuộc Nam Kỳ; Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương thuộc Bắc Kỳ. Đến thời kỳ thuộc Pháp, lãnh thổ Việt Nam được chia làm 3 khu vực riêng biệt, từ địa giới phía nam tỉnh Bình Thuận trở vào gọi là Nam Kỳ, từ địa giới phía nam Bình Thuận trở ra tới địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình gọi là Trung Kỳ, từ địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình trở ra tới biên giới Việt Trung gọi là Tankin (tức Bắc Kỳ). Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ hợp lại gọi là Vương quốc An Nam đặt dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
Cách gọi Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ xuất hiện đầu tiên vào năm 1946 trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tồn tại đến năm 1959. Cụ thể, về phương diện hành chính, nước Việt Nam gồm có 3 bộ: Bắc, Trung, Nam.