Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của trường từ vựng ngữ nghĩa gà chọi ở Việt Nam Chương 3: Đặc trưng văn hóa của trường từ vựng ngữ nghĩa gà chọi ở Việt Nam 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Một số vấn đề về từ tiếng Việt Từ vựng của ngôn ngữ là tập hợp các từ và ngữ cố định nên khái niệm từ vựng định nghĩa rất rộng. Theo Đỗ Hữu Châu thì từ vựng là “tập hợp tất cả các từ của một ngôn ngữ, không phân biệt tiêu chuẩn tập hợp” [4, tr.
Do đó, khi đi tìm hiểu từ vựng trước hết phải tìm hiểu về từ và ngữ cố định. Từ Ngôn ngữ không phải là một phức thể gồm các yếu tố, tồn tại lộn xộn mà là một hệ thống lớn, chặt chẽ bao gồm các yếu tố và các yếu tố đó có quan hệ mật thiết với nhau theo trình tự từ nhỏ đến lớn là âm vị - hình vị - từ - câu - và các yếu tố trên câu. Trong đó, từ là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất bởi chúng đảm nhiệm cả những chức năng của các yếu tố khác của ngôn ngữ. Chúng tồn tại hiển nhiên, tất yếu của ngôn ngữ.
Định nghĩa về từ không phải dễ dàng, hiện nay có trên 300 định nghĩa khác nhau về từ, mỗi nhà nghiên cứu đứng trên một góc độ khác nhau. Trong đề tài của mình, chúng tôi sử dụng định nghĩa về từ: “ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”. Phân loại từ tiếng Việt Từ được phân chia thành nhiều loại dựa vào cấu tạo, nguồn gốc hình thành. Phân loại từ ngữ theo phương thức cấu tạo Dựa theo phương thức cấu tạo, từ được phân loại thành các loại như sau: - Từ đơn là những từ được cấu tạo theo phương thức từ hóa hình vị, nên cấu tạo của chúng chỉ có một hình vị như sách, vở, quần, áo, học.
Từ phức tiếng Việt được chia thành các kiểu từ phức đó là: + Từ ghép là những từ được tạo ra theo phương thức ghép hai căn tố lại với nhau như nhà cửa, xe máy, sách vở. Trong đó, từ ghép lại được chia 15 thành hai tiểu loại dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa hai hình vị và các kiểu ý nghĩa: - Từ ghép chính phụ (còn gọi từ ghép phân nghĩa) như xe máy, đường nhựa, cá quả. - Từ ghép đẳng lập (còn gọi từ ghép hợp nghĩa) như ông bà, con cháu, nhà cửa. + Từ láy là những từ được tạo ra theo phương thức láy như long lanh, sạch sành sanh, lửa lựu.
Chúng lại được chia thành hai tiểu loại nhỏ dựa vào sự giống nhau của hình vị gốc và hình vị láy: Từ láy bộ phận chia thành hai loại là từ láy âm hay láy phụ âm đầu như lúng liếng, lóng lánh, lập lòe. và từ láy vần như lạch bạch, lập cập. Từ láy hoàn toàn, ví dụ như trăng trắng, ùn ùn, cào cào, ba ba. - Ngoài ra, hiện nay thấy xuất hiện lớp từ trong tiếng Việt mà chúng không có quan hệ gì về mặt ngữ âm và mặt ngữ nghĩa được gọi là từ ngẫu hợp.
Theo Nguyễn Tài Cẩn trong [9, tr. 139] gọi ngẫu hợp “ Kiểu từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp với nhau một cách ngẫu nhiên, không dựa trên cơ sở quan hệ ý nghĩa, cũng không dựa trên cơ sở quan hệ ngữ âm, có thể gọi là từ ghép ngẫu hợp”. Xuất xứ của lớp từ ngẫu hợp có thể từ gốc thuần Việt hoặc ngoại lai. Lớp từ có nguồn gốc từ bản địa do hai từ vốn không tách riêng thì không có nghĩa nhưng ghép lại tạo thành nghĩa chung.
Ví dụ, bù nhìn, bồ nông, kì nhông… Lớp từ có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài với sự du nhập ngôn ngữ rộng rãi hiện nay theo xu thế hội nhập quốc tế hóa. Chia thành hai loại là những từ vay mượn từ tiếng Hán, du nhập vào bằng con đường sách vở hay khẩu ngữ như mì chính, xủi cảo, hi sinh, kinh tế… Và những từ vay mượn từ gốc Ấn-Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ như, a-xít, mit tinh, sơ mi, mùi xoa, xà phòng… 1. Phân loại từ ngữ theo nguồn gốc a) Từ bản ngữ (từ thuần Việt) 16 Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt. Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác.
Chúng có xuất xứ từ chính các ngôn ngữ của gốc Nam phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái. Muốn khảo cứu nguồn gốc tiếng Việt chúng ta phải dựa vào các nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng. Chúng tồn tại đan xen, chồng chéo, thậm chí phủ lấp lên nhau nên rất phức tạp. Chẳng hạn, tương ứng Việt - Mường có các từ như: cây, cơm, chồng, ăn, trứng… Tương ứng Môn - khmer (ở Tây Nguyên Việt Nam) có các từ như bố, mẹ, mây, mưa, còi, kêu… Tương ứng nhóm Việt - Mường và nhóm Tày Thái như gạo, cày, bát, than, giặt, đen… b) Từ ngoại lai b.
Từ gốc Hán Ngoài bộ phận từ thuần Việt rất lớn còn có các từ gốc từ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh… Trong từ vựng tiếng Việt, số lượng từ Hán Việt có số lượng rất lớn, chúng xuất hiện do sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt qua bối cảnh lịch sử diễn ra hàng ngàn năm. Từ Hán Việt có đặc điểm cấu tạo như sau: Thứ nhất, từ Hán Việt chia thành hai loại là từ đơn tiết (một yếu tố như phúc, đức, lợi, hại, vinh, nhục…) và từ đa tiết chiếm số lượng chủ yếu (gồm từ hai yếu tố trở lên như bàng hoàng, phảng phất, tì bà, bồ tát…). Thứ hai, từ Hán Việt được cấu tạo chủ yếu theo phương thức ghép và chia thành các loại đó là: Từ ghép đẳng lập là các yếu tố có vai trò ngữ pháp ngang bằng nhau như ngôn ngữ, vĩ đại, mâu thuẫn, tàn bạo… Từ ghép chính phụ chia thành hai tiểu loại nhỏ là từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau và yếu tố chính có thể là yếu tố danh (như học sinh, lương tâm, cổ thụ, tác phẩm…), là yếu tố động (như ưu đãi, tôn xưng, cô lập, hậu tạ…), yếu tố chỉ tính chất (như tối tân, đại hàn, thậm tệ, dạ hương…). Và yếu 17 tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau gồm hai yếu tố chính là yếu tố động (cách mạng, vệ sinh, đả dảo, đề cao…) và yếu tố chỉ tính chất (mãn ý, lợi tiểu, yên tâm, đoản mệnh…).
Từ ghép chủ - vị như nhân tạo, dân lập, địa chấn… Ngoài ra, từ Hán Việt còn được cấu tạo theo phương thức phụ gia. Từ Hán Việt không chỉ mượn các yếu tố gốc Hán đơn thuần mà khi du nhập vào nước ta được biến đổi theo nhiều cách khác nhau. Được người Việt sáng tạo ra mà trong tiếng Hán không có như phi công, tiền tố, căn tố, phản biện, phát thanh… Có khi từ Hán Việt có trong vốn từ tiếng Hán nhưng nghĩa lại khác nghĩa từ Hán. Ví dụ, “tử tế” trong tiếng Hán nghĩa là “tỉ mỉ”, nhưng đi vào tiếng Việt nghĩa là không sơ sài, hoặc đối xử tốt như “ăn mặc tử tế, đối xử tử tế” [42, tr.
Hoặc một số từ Hán Việt ra đời do xu thế rút gọn, nói tắt như cử nhân - cử, văn học - văn, hồng huyết cầu - hồng cầu, tiểu tiện - tiểu… b. Từ gốc Ấn Âu Do hoàn cảnh từ ngữ của các ngôn ngữ Ấn Âu du nhập vào Việt Nam bằng nhiều hình thức như khẩu ngữ, sách vở, trường học, và một số lĩnh vực như kinh tế, hành chính… Đó là các từ có nguồn gốc từ tiếng Anh, Pháp, Nga như mít tinh, bôn sê vích, cao bồi, ten nít, sơ mi… Khi đi vào tiếng Việt, các từ có nguồn gốc Ấn – Âu được sử dụng chủ yếu dưới hình thức phiên âm để phù hợp với đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt như: poste – bốt; cafe – cà phê ;carrotte – cà rốt; gare – ga; douille – đui (đui đèn). Hoặc có khi người Việt có xu hướng rút ngắn bớt độ dài của các từ gốc Ấn - Âu. Vì vậy, đối với những từ ngắn thì họ chỉ việc cấu trúc hoá lại cho thành một âm tiết theo kiểu tiếng Việt là xong.
Chẳng hạn: sou – xu; chef – xếp; gare – ga; boy – bồi; valse – van; frein – phanh; gramme – gam. Ngược lại, những từ dài thường được người Việt rút ngắn bớt. Đặc biệt là ở những từ vay mượn qua tiếp xúc 18 khẩu ngữ như: evenloppe – lốp; essence – xăng; casserole – xoong; creme – kem; cravate – ca vát; hydrogene – hydro. Phân lớp từ theo phạm vi sử dụng Như đã nói, từ vựng là một tập hợp các lớp từ tồn tại trong đó nên chúng bao gồm nhiều lớp từ.
Có rất nhiều lớp từ vựng khác nhau phân chia theo phạm vi sử dụng, ở đây chúng tôi chỉ khái quát một số lớp từ sau: a. Từ vựng toàn dân Đó là các đơn vị từ vựng tồn tại phổ biến, được mọi người trong cộng đồng hiểu và sử dụng được. Đây chính là phương tiện giao tiếp cơ bản giúp cho các thành viên trong xã hội giao lưu với nhau thuận lợi. Từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ b.1 Từ địa phương Là từ vựng được dùng hạn chế trong các phương ngữ, thổ ngữ nhất định.
So với các từ toàn dân, chúng có thể đối lập về mặt ngữ âm hay về mặt ý nghĩa. Chúng được sử dụng hạn chế trong phạm vi lãnh thổ nên khó hiểu với những người không sống tại địa phương đó, cần phải có chú thích rõ ràng. Ví dụ, phương ngữ Nam Bộ: tiêu xài (ăn tiêu), ăn hiếp (bắt nạt), cái vịm (cái liễn).2 Từ nghề nghiệp Chúng là những từ biểu thị công cụ lao động, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghàng nghề nào đó. Chính vì vậy, chúng sử dụng hạn chế trong một lĩnh vực nghề nghiệp nên chỉ có những người trong nghề mới hiểu biết và sử dụng thường xuyên.
Ví dụ, nghề dệt có các từ như xa, suốt, khung cửi, sợi.3) Thuật ngữ Thuật ngữ là những từ hay cụm từ được sử dụng trong ngành khoa học, công nghệ, kĩ thuật nào đó. Chúng phản ánh thuộc tính và mang đặc trưng của mỗi lĩnh vực. Ví dụ, trong ngành ngôn ngữ học có các từ ngữ như: lời nói, ngữ âm, ngữ pháp.