Chương 1: Cơ sở lí luận. - Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề chăn nuôi thú y cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu. - Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề chăn nuôi thú y cho lao động nông thôn tỉnh Bạc Liêu. 19 Luan van Phần B: NỘI DUNG Chƣơn 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHĂN NUÔI THÚ Y CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.
Thế giới Trong thời kỳ này, giáo dục nghề nghiệp phát triển mạnh mẽ và dựa trên những cơ sở vững chắc, khoa học nên đã mang lại nhiều hiệu quả hơn so với các hình thức dạy nghề trước kia. Hiện nay chúng ta đang sống trong thời kỳ hiện đại và được tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Ở Liên Xô, giáo dục kỹ thuật và dạy nghề tiến hành trong các trường dạy nghề kết hợp chặt chẽ với các xí nghiệp công nghiệp và nông nghiệp, ở đó học sinh được đào tạo những kỹ năng thực hành và kinh nghiệm sản xuất cần thiết. Học sinh tốt nghiệp trường dạy nghề sẽ có ng phổ thông trung học và một chứng chỉ nghề cho phép họ ra làm việc như một công nhân kỹ thuật hoặc tiếp tục học lên đại học.
Vào năm 1974 ở Liên Xô ắt đầu lập ra các trung tâm đào tạo và sản xuất trong nhà trường hợp tác với các xí nghiệp, nh m đào tạo chuẩn ị cho nghề nghiệp cho những học sinh các lớp cuối của giáo dục phổ thông. [8, tr 51] Ở nước Đức, đầu thế kỷ 20 trường ổ túc xây dựng cấu trúc theo nghề, năm 1920 chuyển thành trường dạy nghề (Berufsschule) được công nhận rộng rãi như một loại trường phổ cập tiến hành đào tạo nghề tại nơi làm việc. [8, tr 78] Đào tạo nghề dựa trên cơ sở tồn tại song song một ên là các trường dạy nghề và kỹ thuật tập trung toàn thời gian và một ên là hệ thống kép hay còn gọi là “song tuyến” trong đó việc học nghề tại chỗ làm việc được ổ sung ng cách theo học một phần thời gian ở trường. Trong phạm vi so sánh quốc tế nước Đức có tỷ lệ thất nghiệp 20 Luan van ở thanh niên trẻ tương đối thấp, ởi vì đào tạo theo hệ thống song tuyến thông thường tạo nên một sự chuyển iến dễ dàng từ đào tạo sang việc làm.
[8, tr 79] Ở nước Anh, giáo dục kỹ thuật và dạy nghề là: đào tạo cần phải là một ộ phận của ậc thang liên thông, nghĩa là mỗi khóa học cần phải gắn liền với việc đào tạo tiếp sau hoặc với cơ hội có việc làm; các việc thiết kế khóa học cần phải đáp ứng được những sự thay đổi của địa phương và quốc gia về cơ hội có việc làm; các khóa học cần phải ao gồm cá thành phần dẫn tới sự phát triển các kỹ năng cả chung lẫn riêng liên quan đến một nghề riêng iệt. [8, tr 107] Theo hướng giáo dục nghề nghiệp từ những năm 80 ắt đầu có sự đổi mới, đó là xây sựng hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở nước Anh. Cơ sở đào tạo nghề trong hệ thống này là dựa trên năng lực thực hiện (Competence ased Vocational Training). Kết quả học nghề cần đạt được thể hiện ng khái niệm năng lực thực hiện (Compertence).
Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của việc mô đun hóa quá trình đào tạo nghề. [8, tr 108] Các nước Châu Á: Trung Quốc: Các cơ quan lao động ở địa phương Trung Quốc có khoảng 1.800 trung tâm dạy nghề và xúc tiến việc làm ở mọi trình độ để cung cấp cho những học sinh rời trường phổ thông và những người thất nghiệp những khóa đào tạo ngắn hạn. Có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo, nhà máy gắn liền với nhà trường, nông trại điều hành ởi trường trung học và dạy nghề. Mỗi học sinh được đào tạo thực hành 20 tuần mỗi năm trong 4 năm liền để có các kỹ năng cơ ản.
[8, tr 152] Ở Nhật Bản: Giáo dục chuyên nghiệp ở Nhật Bản được tiến hành trong khu vực giáo dục chính quy, khu vực giáo dục không chính quy và trong các xí nghiệp. Giáo dục chuyên nghiệp trong khu vực chính quy do các trường nghề trung học và trong các trường đào tạo nghề đặc iệt, còn trong khu vực không chính quy do các cơ sở đào tạo nghề riêng [8, tr 177]. Các khóa dạy nghề nông nghiệp đào tạo học sinh ở các trang trại trong khu vực công nghiệp liên quan đến nông nghiệp. Học sinh được đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp thực hành và các phương pháp quản lý 21 Luan van trang trại của nhà trường có trang ị các máy móc nông nghiệp hiện đại.
Học sinh sau khi tốt nghiệp các khóa dạy nghề trong nhà trường còn được đào tạo nghề tại xí nghiệp trước khi làm việc để có được kỹ năng phù hợp với tình hình sản xuất của xí nghiệp. [8, tr 178] Ở Hàn Quốc: Giáo dục chuyên nghệp ở Hàn Quốc trong khu vực chính quy tiến hành ở các trường nghề cao trung và các trường cao đẳng nghề sau trung học. Trong khu vực không chính quy, giáo dục chuyên nghiệp tiến hành ở các trường dạy nghề thuộc Bộ Lao động, trong các trung tâm dạy nghề, các xí nghiệp và các trung tâm đào tạo được ủy quyền. [8, tr 206] Giáo dục chuyên nghiệp n m ên ngoài hệ thống chính quy và có mục tiêu như luật Dạy nghề quy định là đóng góp vào sự phát triển nề kinh tế quốc dân ng cách nâng cao và phát triển năng lực của học sinh thông qua dạy nghề.
Dạy nghề không chính quy mấy loại sau: 1, dạy nghề công lập; 2, dạy nghề tại xí nghiệp và 3, dạy nghề ủy quyền tiến hành ở các trường hay trung tâm dạy nghề ở khắp nơi trong nước [8, tr 208-209]. Sự phát triển một mạng lưới các cơ sở đào tạo không chính quy song song với mạng lưới chính quy đã cung cấp việc đào tạo nghề hướng vào việc làm trên cơ sở phân tích nghề và với các chương trình đào tạo có cấp chứng chỉ nghề ên ngoài đã giúp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo trong cả khu vực chính quy và không chính quy [8, tr 212]. Ở Ấn Độ, hệ thống giáo dục chuyên nghiệp khác các nước đang phát triển trong vùng. Hệ thống đào tạo không chính quy ở đây phát trển rất tốt chủ yếu trong các nghề công nghiệp có trách nhiệm đáp ứng đòi hỏi về nhân lực ngày càng tăng và đang mở rộng trong ngành công nghiệp.
Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp Ấn Độ do 4 cấp quản lý là quốc gia, vùng, ang, và địa phương. [8, tr 230] Việc trang ị những kỹ năng làm việc dành cho những học sinh trong luồng chuyên nghiệp ở trình độ sau trung học. Ở trình độ trung học ậc cao có giới thiệu các chương trình dạy nghề gắn với việc làm cụ thể. [8, tr 232] Một số nước trên thế giới cho thấy phát triển đào tạo chuyên nghiệp nói chung và đào tạo nghề phục vụ cho nông nghiệp nông thôn luôn được Chính phủ các nước 22 Luan van quan tâm đặc iệt với vai trò là một thành tố chính trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó.
Chính phủ các nước thường có các chính sách nhất quán và đồng ộ về phát triển đào tạo nghề lồng ghép trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, Chính phủ sẽ giao các cơ quan quản lý xác định và thiết lập hệ thống tiêu chuẩn để quản lý thống nhất chất lượng đào tạo trên phạm vi cả nước tương ứng với hệ thống ng cấp. Phát triển nguồn đào tạo nghề được nhất quán từ khâu đào tạo, sử dụng và ồi dư ng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đảm ảo cân ng cung cầu lao động trên thị trường theo các ngành kinh tế, kỹ thuật công nghiệp hay nông nghiệp cũng như theo vùng địa lí. Phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn được thực hiện song song theo hai hướng là đào tạo để chuyển dịch cơ cấu lao động (là chủ yếu, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa) và đào tạo nghề để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp.
Đồng thời, đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh ngay từ cấp Phổ thông cơ sở để có định hướng học nghề ngay sau khi học hết Phổ thông trung học. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực hành tại cơ sở đào tạo với các công ty, xí nghiệp, thực hành tại nơi sử dụng lao động, đào tạo theo địa chỉ, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nơi sử dụng lao động. Trong nước Nền giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đã hình thành và phát triển những năm Trước Công Nguyên. Và cho đến thời đại văn minh gần đây, giáo dục nghề nghiệp Việt Nam ước đầu hình thành hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, rồi đến các trường cao đẳng, đại học.
Cụ thể: năm 1898, Pháp mở 3 trường thực nghiệm dạy nghề thợ rèn, thợ khóa, thợ máy, thợ mộc, thợ điện tại Bắc – Trung – Nam; năm 1902, thành lập trường Y dược đào tạo y sĩ và dược sĩ phụ tá; năm 1918 trường Thú y Đông dương thành lập; và một số trường khác tiếp tục được thành lập như Trường Nông lâm, Trường Cao đẳng sư phạm, v. Và giáo dục nghề nghiệp 23 Luan van Việt Nam thời kỳ này có tính tổ chức cao hơn, phân ố rộng khắp cả nước và bao gồm cả các trường cao đẳng kỹ thuật. Tổng cục dạy nghề được thành lập vào ngày 21/6/1978, trên cơ sở tách từ tổng cục Đào tạo công nhân kỹ thuật. Từ những năm 1983 đã mở nhiều lớp dạy nghề trong cơ sở sản xuất và mở ra các Trung tâm dạy nghề địa phương cấp Quận, Huyện.
Đến năm 1986 nước ta đã có 141 trung tâm dạy nghề. Ngành giáo dục nghề nghiệp nước ta sau 1975 là một nền giáo dục chính qui, thống nhất, phát triển nhanh từ những năm 1975 đến 1980 do tiếp quản các trường lớp của miền Nam và để đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước. Đến nghị quyết 90/CP ngày 24/11/1993 Giáo dục chuyên nghiệp gồm có Trung học chuyên nghiệp, Trung học nghề, Dạy nghề và tồn tại đồng thời 3 loại hình đào tạo là: Đào tạo nghề theo kiểu truyền thống, đào tạo nghề theo kiểu Modul, đào tạo nghề theo chương trình hóa.