Chương 1 Thương 1ố Hồ Chí Minhề đặt ra từ thực tế việc t 1. T 1ố Hồ Chí Minhề đặt ra từ th Đời sống dân gian là một trong những nội dung quan trọng, khẳng định đặc trưng của bảo tàng. Do đó, đời sống dân gian và bảo tàng từ lâu được các nhà khoa học trên nhiều quốc gia quan tâm, chú ý. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về vấn đề này rất đa dạng, phong phú và chuyên sâu, chủ yếu được xuất bản dưới dạng sách tập hợp các bài viết hay các tạp chí chuyên ngành về Bảo tàng và đời sống dân gian, Lễ hội đời sống dân gian… Vẽ được bức tranh toàn diện nhất về Bảo tàng và đời sống dân gian phải kể đến tác phẩm Folklife and Museum – Selected Readings do Patricia và Charlie biên tập.
Các vấn đề như: sự tiến triển trong mối quan hệ tương tác giữa bảo tàng và đời sống dân gian từ những năm 1950; kết nối giữa quá khứ và hiện tại qua sự diễn giải ở các bảo tàng đời sống dân gian; ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn – đời sống dân gian và các bảo tàng lịch sử hiện nay… là những điểm nhấn mà công trình này mang lại. Tuy nhiên, các công trình của các tác giả Việt Nam đề cập trực tiếp đến đời sống dân gian và bảo tàng chưa nhiều và không mấy phổ biến. Trong nội dung trình bày dưới đây, luận án hệ thống hóa các công trình của các tác giả (trong và ngoài nước) theo thứ tự nội dung của các tác phẩm chứ không theo thời gian xuất bản. Cụ thể trước hết là nhóm công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian và đời sống dân gian, tiếp theo là đời sống dân gian đối với bảo tàng và cộng đồng - với vai trò là chủ thể văn hóa.
Các nghiên crlie biên tập. Các vấn đề như: sự tiến triể Nghiên cứu đời sống dân gian “dùng để chỉ một ngành học hay hoạt động học thuật và sự nhạy cảm của nó đối với việc đánh giá văn hóa của cuộc sống thường nhật ở các xã hội phức tạp,… Đời sống dân gian đặc biệt nhấn mạnh tới sự cần thiết phải hướng các chú ý học thuật vào tất cả các nền văn hóa 14 luan an trong phạm vi bối cảnh địa phương” [6060, tr 92]. Nghiên cứu đời sống dân góp phần tìm hiểu, lưu giữ, bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa của nhân loại, trong đó, quan trọng nhất là để duy trì bản sắc văn hóa độc đáo của mỗi cộng đồng, mỗi nhóm người. Tại châu Âu, đặc biệt là Anh, Ireland và các quốc gia vùng Scandinavia, nghiên cứu “đời sống dân gian” được gọi là “dân tộc học châu Âu”, chủ yếu được thực hiện bởi các bảo tàng dân gian.
Nền tảng cơ bản của ngành nghiên cứu đời sống dân gian ở châu Âu trong lịch sử là mối quan tâm của các tầng lớp xã hội với các cổ vật, đồ quý hiếm liên quan đến giá trị chính trị và kinh tế. Những tư liệu minh chứng cho điều này được thể hiện qua “Truyện kể về người Đan Mạch” (thế kỷ XIII), “Lịch sử các dân tộc phương Bắc” (Thụy Điển, thế kỷ XVI)… Những tư liệu này là hình thức đánh dấu việc ghi chép “văn hóa khu vực trong lịch sử và đương đại, với ý tưởng rằng phong tục đặc biệt có ý nghĩa với môi trường và đời sống vật chất” [6060, tr 93]. Nghiên cứu đời sống dân gian ở châu Âu bị chi phối bởi Chủ nghĩa lãng mạn châu Âu - “hăng hái khảo sát đời sống nông dân, những người vẫn duy trì phong cách sống đơn giản và ít phức tạp hơn, liên tưởng tới một quá khứ thôn quê mến thương”, [6060, tr 94] và Chủ nghĩa dân tộc châu Âu – “sự diện các hình thức riêng biệt của văn hóa có thể được sử dụng nhằm đề cao bản sắc dân tộc” [6060, tr 94]. Bên cạnh đó, nghiên cứu đời sống dân gian ở số quốc gia châu Âu đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng của các lý thuyết về lịch sử và văn hóa, cụ thể là sự biến đổi văn hóa trong bối cảnh mới, nhấn mạnh việc diễn giải hoạt động và lan truyền văn hóa, hình thành các bản đồ văn hóa – “một dấu xác nhận tiêu chuẩn cho phương pháp luận đời sống dân gian châu Âu”[6060, tr 94].
Nghiên cứu đời sống dân gian ở châu Âu đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng của ngành dân tộc học, nói khác đi là dân tộc học khu vực. Đại diện cho quan điểm này là nhà nghiên cứu đời sống dân gian ở Thụy Điển – Sigurd Erixon 15 luan an (1888 – 1968). Sau thế chiến lần thứ hai, dưới ảnh hưởng của thuyết chức năng, các học giả nghiên cứu về đời sống dân gian đã chuyển mối quan tâm sang bối cảnh văn hóa phức tạp. Trong giai đoạn hiện nay, các nhà nghiên cứu người Đức đã hướng đời sống dân gian là một ngành học nghiên cứu sự phong phú các truyền thống, đặc biệt là các vấn đề đương đại như tác động của phương tiện truyền thông đại chúng, tính xác thực và việc diễn giải truyền thống, du lịch, tộc người và văn hóa của cuộc sống hàng ngày.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Anh – Mỹ, có sự phân biệt giữa đời sống dân gian và văn hóa dân gian. Nếu như văn hóa dân gian chú trọng việc nghiên cứu các hình thức truyền khẩu, nhất là truyện kể và bài hát, trong khi việc nghiên cứu văn hóa vật chất bị gạt ra ngoài mối quan tâm của học thuật thì đời sống dân gian tập trung vào các truyền thống phong phú của văn hóa vật chất, tín ngưỡng tôn giáo, y học, phong tục, lễ hội, thực phẩm, trang phục… Tiêu biểu cho sự khởi đầu nghiên cứu đời sống dân gian ở Hoa Kỳ là Don Yoder (1921 -) và Alfred L. Với quan điểm của mình, các học giả đã bổ sung nhiều “chiều cạnh mới cho nghiên cứu lịch sử của Mỹ và bảo tồn di sản bản địa” [6060, tr 100]. Cách tiếp cận này mang tính chất dân tộc học lịch sử và đương đại Mỹ.
Thuật ngữ đời sống dân gian phổ biến trong nghiên cứu các lễ hội đời sống dân gian (Folklife Festivals) ở Hoa Kỳ, với sự đầy đủ và đa dạng các văn hóa truyền thống bao gồm âm nhạc, múa, kể chuyện, hàng thủ công, trang phục, chế biến thức ăn, nghi lễ vòng đời và kỹ năng nghề nghiệp. Đời sống dân gian cũng bao gồm việc nghiên cứu hệ thống các niềm tin, tôn giáo dân gian, y học dân gian và tín ngưỡng dân gian. “Sự chú trọng của đời sống dân gian Mỹ vào tất cả các yếu tố của văn hóa và môi trường bản địa với tư cách là chiếc chìa khóa giúp hiểu được bức tranh tổng thể của nền văn minh Mỹ đã tác động đến việc nghiên cứu về địa lý, lịch sử nghệ thuật, lịch sử, bảo tàng nhân học, tôn giáo, bảo tồn lịch sử và nghiên cứu Mỹ” [6060, tr 100, 101]. 16 luan an Hiện nay, trên thế giới, việc nghiên cứu đời sống dân gian khá phổ biến.
Các hoạt động nghiên cứu này được tiến hành thông qua các viện nghiên cứu, các trường đại học, các bảo tàng. Ấn phẩm của các công trình nghiên cứu được giới thiệu trên nhiều sách tham khảo, bài giảng và các tạp chí chuyên ngành. Bên cạnh đó phải kể đế sự ra đời của các hiệp hội, các câu lạc bộ, các tổ chức tình nguyện. Ngoài các ấn phẩm được xuất bản, điểm mạnh của đời sống dân gian là các cuộc trình diễn giới thiệu các di sản văn hóa do chính chủ thể văn hóa đảm nhiệm.
Tác giả Mary Hufford với tác phẩm Folklore and Folklife (tạm dịch “Văn hóa dân gian và đời sống dân gian”) xuất bản năm 2000 [7070], nội dung bàn về khái niệm văn hóa dân gian; nghiên cứu đời sống dân gian. Công trình này đưa ra các quan điểm/tranh luận về lịch sử và những dấu ấn xã hội qua nghiên cứu ở Appalachian (Mỹ). Theo tác giả Mary Hufford, văn hóa dân gian và đời sống dân gian không bị đông đặc theo thời gian, thay đổi văn hóa dân gian và truyền thống thành các đạo luật mang mục tiêu chính trị. Qua tổng quan những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về đời sống dân gian, luận án sử dụng những lý thuyết, quan điểm, lập luận của các tác giả: Don Yoder (1921 -) và Alfred L.
Shoemaker Mary Hufford trong nghiên cứu đời sống dân gian và thực hành văn hóa gắn với cộng đồng và sự phát triển. Luận án sẽ vận dụng quan điểm xu hướng kết hợp các mối quan tâm về thẩm mỹ, truyền thống, chính trị và sinh thái của các tác phẩm này trong nghiên cứu, đánh giá, phân tích. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, chữ viết, kiến trúc, ẩm thực, trang phục, các ngành nghề thủ công, ca dao, tục ngữ… đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX. Tuy rằng, các học giả của các công trình này không sử dụng thuật ngữ đời sống dân gian như các học giả phương Tây và Mỹ, nhưng đối tượng, nội dung nghiên cứu của các công trình này chính là những thể loại của đời sống dân gian.
17 luan an Tác giả Mai Viên Đoàn Triển (1854 – 1919) với 2 công trình viết bằng chữ Hán và chữ Nôm “An Nam phong tục sách” và “Tiểu học bản quốc phong tục sách” ghi lại những phong tục tập quán của người dân Việt Nam. Các công trình này cung cấp nhiều tư liệu quý về phong tục tập quán người Việt Nam xưa gắn với đời sống văn hoá làng xã nông nghiệp lúa nước, nhiều tập tục đã mai một qua thời gian nhưng cũng nhiều lễ tục được thay đổi, tiếp biến để phù hợp với bối cảnh đời sống hiện đại. Việc thờ cúng tổ tiên, lễ tết, hội hè, cầu an, học hành thi cử, luật tục tang ma, cưới hỏi cho đến bài bạc, bói toán… được tác giả mô tả đơn giản, dễ hiểu. Bên cạnh đó, không thể không kể đến Phan Kế Bính (1875 – 1921) – một nhà báo, nhà văn Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Liên quan đến việc tìm hiểu và ghi chép các hình thức đời sống dân gian theo quan niệm của phương Tây và Mỹ, phải nói đến tác phẩm biên khảo"Việt Nam phong tục" (1915) của ông. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có tính phản biện về thuần phong mỹ tục của Việt Nam. “Qua những đoạn ngắn, súc tích, tác giả đã đề cập khá đầy đủ về phong tục trong gia tộc, thôn xóm, trong xã hội”[1111, tr 5].