mở đầu cho một xu hướng của nhiều nhà nghiên cứu như Cao Huy Đỉnh, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Đổng Chi… Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi khi biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học đã khẳng định: “Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương” [ 26, tr 249]. Như vậy, ở định nghĩa, các tác giả đã phát triển quan điểm của Nguyễn Đổng Chi nhưng bổ sung cụ thể thêm về khu vực, tầm vóc phản ánh và cung cấp khái niệm với nội hàm đươc mở rộng hơn. Trong sách Văn học dân gian người Việt, góc nhìn thể loại, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đưa ra định nghĩa về truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là một thể tài chuyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian. Nội dung cốt truyện kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân.
Biện pháp nghệ thuật phổ biến là khoa trương phóng đại, đồng thời nó sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích, thần thoại. Nó khác cổ tích thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng tưởng tượng ”[30, tr19]. Ở định nghĩa này, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch nhấn mạnh tới đặc điểm phản ánh lịch sử của truyền thuyết dân gian. Ông viết: " Dân gian bao giờ cũng có loại lịch sử truyền miệng, bia miệng của riêng mình.
Thứ lịch sử này thì các nhà sử học khó mà giải thích nổi. Song nó lại tồn tại hơn thứ lịch sử chính thống - nó chính là truyền thuyết dân gian" [30, tr100]. Dù hiểu theo cách nào thì truyền thuyết vẫn là một loại truyện kể lịch sử thuộc loại hình tự sự dân gian. Theo nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu trong công trình Một vài vấn đề về văn học dân gian thì truyền thuyết là sự thay thế, hóa thân cho sử thi, là mắt xích quan trọng nối liền giữa thần thoại Việt với các thể loại truyện cổ dân gian khác.
c 15 Nếu thần thoại hướng tới thế giới tự nhiên, cổ tích hướng tới cuộc sống bình thường và những xung đột trong xã hội phân chia giai cấp thì đối tượng được kể lại trong truyền thuyết là lịch sử. Truyền thuyết thường kể về những việc có thực, nhân vật lịch sử, những sự kiện lịch sử liên quan đến vận mệnh cộng đồng trong quá khứ. Đây là phần lõi lịch sử của truyền thuyết. Dựa vào phân kì lịch sử dân tộc, Hoàng Tiến Tựu phân truyền thuyết thành các bộ phận: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang; Truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc; Truyền thuyết thời kì phong kiến tự chủ; Truyền thuyết thời kì Pháp thuộc[55].
Dựa vào nội dung phản ánh, đặc điểm nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của truyền thuyết, nhà nghiên cứu Lê Chí Quế trong tác phẩm Văn học dângian Việt Nam [46, tr 62]chia truyền thuyết thành ba loại: Truyền thuyết anh hùng; Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch chia truyền thuyết người Việt thành ba loại lớn: Truyền thuyết nhân vật;Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phong - vật. Dựa vào cách phân chia của các nhà nghiên cứu, chúng tôi xác định truyền thuyết Phạm Ngũ Lão thuộc loại truyền thuyết lịch sử, phản ánh công cuộc chống ngoại xâm xuất hiện thời phong kiến tự chủ, thuộc vương triều nhà Trần. Khái niệm “Truyện Nôm” Theo tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học, truyện Nôm là “thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm”[26, tr 253].
Theo cắt nghĩa trên của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì truyện Nôm thuộc thể loại tự sự, kể chuyện bằng thơ và dùng chữ Nôm làm phương tiện sáng tác. Nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn nhận định: “Truyện Nôm là loại hình tự sự bằng thơ dùng ngôn ngữ văn tự dân tộc - chữ Nôm để sáng tác ”. Đồng thời, ông khẳng định “các tác phẩm truyện thơ trong văn học trung đại đều viết bằng c 16 chữ Nôm. Vì vậy, truyện thơ được gọi là truyện Nôm” [52, tr 237].Theo cách cắt nghĩa trên thì truyện Nôm là khái niệm thuộc loại hình tự sự dân gian dùng chữ Nôm và thể văn vần làm phương tiện sáng tác, phổ biến hoặc diễn xướng.
Đây là tên gọi khác của thể loại truyện thơ. Theo nghiên cứu của Kiều Thu Hoạch trong công trìnhTruyện Nôm, lịch sử hình thành và bản chất thể loại, thì truyện Nôm “là một thể loại sinh thành và phát triển từ cội nguồn văn học dân gian” [34, tr 174]. Các nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên trong Văn học dân gian tập I, cho rằngsự nở rộ truyện Nôm trong khoảng thế kỉ XVI trở đi, đặc biệt từ thế kỉ XVIII bởi sự trỗi dậy của tư tưởng dân chủ tiến bộ trong bối cảnh xã hội phong kiến khủng hoảng, suy tàn. Sự phát triển mạnh mẽ của văn học chữ Nôm và truyền thống văn hóa dân gian là nguyên nhân hình thành và phát triển của thể loại này.
Nhiều nhà nghiên cứu về truyện Nôm như Dương Quảng Hàm, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn, Cao Huy Đỉnh, Lã Nhâm Thìn, Trần Nho Thìn… đã căn cứ vào sự thể hiện nội dung và nghệ thuật của thể loại để chia truyện Nôm thành hai nhóm: Truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học. Như vậy, truyện Nôm là truyện kể bằng văn vần nên đặc trưng nổi bật nhất của truyện Nôm là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình. Theo nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn, yếu tố tự sự thể hiện ở chỗ: truyện Nôm phản ánh cuộc sống xã hội thông qua việc trình bày, miêu tả, trần thuật gần như hoàn chỉnh vận mệnh, tính cách nhân vật bằng một cốt truyện với một hệ thống biến cố, sự kiện, chi tiết theo trình tự lớp lang hợp lý. Yếu tố trữ tình của truyện Nôm thể hiện qua phương thức biểu đạt cảm xúc, trạng thái tình cảm bằng thơ.
Qua lời thơ, tác giả trực tiếp bộc lộ cảm xúc, tham gia sắp xếp các sự kiện, hóa thân vào nhân vật để phản ánh phẩm chất tinh thần của đối tượng phản ánh. Giữa truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học có sự khác nhau. Trong khi truyện Nôm bác học ghi tên người sáng tác, địa chỉ cốt truyện thì truyện Nôm c 17 bình dân là sáng tạo của tập thể bình dân nên không rõ tên người sáng tác…Về nội dung, truyện Nôm bình dân thể hiện quan điểm đạo đức, nguyện vọng, ước mơ của người bình dân là đề cao tình nghĩa trong quan hệ giữa người với người, khẳng định công lí là cao cả, chính nghĩa thắng gian tà, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”. Trong truyện Nôm bình dân, từ ngôn ngữ đến cách kể chuyện đều rất giản dị, ít có sự trau chuốt về ngôn từ, nghệ thuật.
Khác với truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác học là sáng tác của các nho sĩ, ít nhiều có trình độ học vấn, biết sáng tạo nghệ thuật văn chương. Nếu truyện Nôm bình dân đề cao tình nghĩa, ngợi ca chính nghĩa thì truyện Nôm bác học thiên về khẳng định lễ giáo phong kiến, đề cao tình yêu tự do, ca ngợi khát vọng giải phóng tình cảm hoặc đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh xã hội sâu sắc. Truyện Nôm bác học thể hiện tài năng nghệ thuật của chủ thể sáng tạo qua khả năng lựa chọn ngôn từ, nghệ thuật kể chuyện độc đáo, nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế, nghệ thuật khắc họa hình tượng. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu được nhiều người biết đến như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự.
Trên cơ sở khảo sát tư liệu và tiếp xúc văn bản,chúng tôi nhất trí với 4 tiêu chí mà nhà nghiên cứu Vũ Tiến Kỳ đưa ra để khẳng định Tướng quân Phạm Ngũ Lão là truyện thơ Nôm khuyết danh hay loại truyện Nôm bình dân. Bốn căn cứ gồm: Thứ nhất là đội ngũ sáng tác Tướng quân Phạm Ngũ Lão là những trí thức bình dân địa phương. Thứ hai là phương thức bảo tồn, phổ biến Tướng quân Phạm Ngũ Lão là phương thức dân gian. Thứ ba là cứ liệu miêu tả trong tác phẩm Tướng quân Phạm Ngũ Lão là tư liệu lấy từ chính sử và truyền thuyết dân gian.
Thứ tư là giọng điệu ngôn ngữ nghệ thuật của Tướng quân Phạm Ngũ Lão là giọng điệu của thi pháp truyện thơ dân gian sau thế kỷ XVIII. Từ việc xác định tác phẩm dựa trên các tiêu chí như vậy, chúng tôi khẳng định Tướng quân Phạm Ngũ Lão - truyện thơ khuyết danh là tác phẩm văn học dân gian đích thực. Vấn đề thể loại c 18 Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại văn học là“dạng thức của tác phẩm văn học được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau và cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống đó” [26, tr 202]. Trong văn học, thể loại có vai trò quan trọng góp phần làm đẹp giá trị nội dung.
Bởi vậy, nhà nghiên cứu văn học người Nga M. Bakhtin đã nhận định rằng: “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là các nhân vật hạng nhì hoặc hạng ba ” [43, tr 28]. Có thể nói, thể loại được coi là " nhân vật chính " trong tiến trình văn học. Văn học dân gian là những sáng tác tập thể của người bình dân, được lưu truyền trong dân gian qua nhiều thế kỉ.
Vì thế, các nhà folklore học xác định lịch sử phát triển của văn học dân gian bằng dấu ấn sự phát triển của thể loại.