Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất hình thành và khai phá muộn hơn so với các khu vực khác trên cả nước, song lại là nơi hội tụ, tiếp nhận và giao lưu văn hóa sâu sắc giữa nhiều cộng đồng tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer). Trong tiến trình xác lập đời sống tại vùng đất mới, người dân đã hình thành và lưu truyền nhiều phong tục tập quán gắn liền với đời người. Các câu chuyện dân gian giải thích sự tồn tại của những nghi thức từ khi sinh ra, kết hôn cho đến khi qua đời (phong tục vòng đời) giữ vị trí đặc biệt trong kho tàng văn hóa dân gian Nam Bộ. Tuy nhiên, nguồn tư liệu truyện dân gian về phong tục vòng đời tại đây còn tương đối ít ỏi, nằm rải rác trong các công trình tổng hợp chung, chưa được phân loại và khảo cứu một cách có hệ thống dưới góc độ một đề tài độc lập. Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học của tác giả Nguyễn Thị Thúy Ngoan (Trường Đại học Võ Trường Toản, 2013) được thực hiện nhằm tập hợp, khảo sát và phân tích mảng truyện này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nội dung chính được văn bản xác định:
- Tìm hiểu về lịch sử văn hóa vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đi sâu nghiên cứu những truyện về phong tục vòng đời, cũng như sự hình thành và lưu giữ những truyện về phong tục vòng đời ở Đồng bằng sông Cửu Long.
- Tập hợp những truyện dân gian ở Đồng bằng sông Cửu Long kể về nguồn gốc các phong tục vòng đời.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm truyện dân gian Đồng bằng sông Cửu Long giải thích hoặc phản ánh phong tục vòng đời, được ghi nhận trong các công trình sưu tầm, biên khảo và nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý Đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm 12 tỉnh thành Tây Nam Bộ thời điểm khảo sát), khảo sát diện mạo các phong tục (sinh nở, cưới hỏi, tang ma), bức tranh đời sống xã hội - gia đình và các phương diện thi pháp đặc trưng (cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật).
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng về văn học dân gian, phong tục và văn hóa tâm linh:
- Khái niệm truyện dân gian và truyện cổ tích: Luận văn tiếp cận định nghĩa truyện cổ tích từ Từ điển văn học, đồng thời tham chiếu nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đính (tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, 2006) để phân biệt giữa khái niệm truyện dân gian (toàn bộ sáng tác tự sự bằng văn xuôi truyền miệng từ xưa đến nay) và truyện cổ dân gian (giới hạn ở các truyện sáng tác thời cổ xưa). Tác giả định vị truyện dân gian ĐBSCL về phong tục vòng đời là các tác phẩm tự sự có cốt truyện, trực tiếp hoặc gián tiếp giải thích các tập tục trong đời sống con người.
- Khái niệm phong tục và nghi lễ vòng đời: Tác giả tổng hợp quan niệm từ nhiều công trình: Thục Anh (Phong tục cổ truyền người Việt), Đặng Văn Lung - Nguyễn Sông Thao - Hoàng Văn Trụ (Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam), Lê Văn Chưởng (Cơ sở văn hóa Việt Nam), Trần Ngọc Thêm (Cơ sở văn hóa Việt Nam), GS. TS Ngô Đức Thịnh (định nghĩa nghi lễ vòng đời là những nghi lễ liên quan đến cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết) và quan điểm của Phan Quốc Anh (2004) về việc nghi lễ vòng đời là cách ứng xử với tự nhiên bên trong con người.
- Văn hóa tâm linh và tín ngưỡng: Luận văn vận dụng các lý giải về tâm linh từ Nguyễn Duy Hinh (Tâm linh Việt Nam) và Nguyễn Đăng Duy (Văn hóa tâm linh) để làm rõ mối liên hệ giữa tín ngưỡng dân gian, ý thức sùng bái cái thiêng và các thực hành nghi lễ vòng đời.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản văn học dân gian, kết hợp liên hệ bối cảnh lịch sử - văn hóa địa phương.
Nguồn ngữ liệu khảo sát được trích xuất từ các công trình sưu tầm, biên khảo uy tín:
- Văn học dân gian Bạc Liêu, Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên).
- Văn học dân gian Châu Đốc (Nguyễn Ngọc Quang).
- Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ).
- Chuyện xưa tích cũ (Sơn Nam, Tô Nguyệt Đình).
- Nghi lễ đời người (Lê Trung Vũ).
- Tâm linh Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh).
- Phong tục làng xóm Việt Nam (Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu).
- Chuyện tâm linh Việt Nam (Lý Khắc Cung).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát truyện dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long về phong tục vòng đời
Chương này trình bày cơ sở lý luận, cơ sở lịch sử và văn hóa tâm linh chi phối sự hình thành của mảng truyện dân gian về phong tục vòng đời tại Nam Bộ.
Về cơ sở lịch sử, vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng 40.000 km², trải qua các thời kỳ lịch sử từ nền văn hóa Óc Eo - Ba Thê (quốc gia cổ Phù Nam thế kỷ II đến thế kỷ VII), thời kỳ Thủy Chân Lạp (thế kỷ XVI) với mật độ dân cư thưa thớt trên các vùng đất giồng. Từ thế kỷ XVII, các làn sóng di dân của người Việt từ miền Trung và miền Bắc bắt đầu tiến vào khai khẩn do biến loạn chiến tranh Trịnh - Nguyễn và áp bức phong kiến. Cùng với đó là sự nhập cư của người Hoa (như đoàn người của Mạc Cửu năm 1680 tại Hà Tiên, các nhóm cư dân Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam), người Chăm (vào giữa thế kỷ XVIII định cư quanh núi Bà Đen) cùng người Khmer bản địa. Quá trình khai hoang mở đất, đào kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà vào đầu thế kỷ XIX đã thúc đẩy việc mở rộng địa bàn cư trú, tạo tiền đề ra đời các tác phẩm dân gian phản ánh công cuộc sinh tồn trước thiên nhiên khắc nghiệt.
Về cơ sở văn hóa tâm linh, cư dân Đồng bằng sông Cửu Long duy trì đời sống tâm linh đa dạng mang tính dung hợp cao:
- Tín ngưỡng bản địa và đa thần: Thờ cúng tổ tiên, thờ thần linh tự nhiên, quan niệm "sống là nhân, chết là thần".
- Phật giáo: Đóng vai trò chủ đạo, được dân gian hóa theo tinh thần từ bi thực tế ("Tu đâu cho bằng tu nhà", "Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu tại chợ, thứ ba tu tại chùa"), phổ biến mô hình "tiền Phật hậu linh" trong gia đình và "tiền Phật hậu thần" trong chùa chiền.
- Các tôn giáo khác: Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Đạo Cao Đài (do Ngô Văn Chiêu sáng lập vào thập niên 1920 tại Tây Ninh) và Đạo Hòa Hảo (hình thành vào thập niên 1930 tại An Giang, chủ trương tu tại gia, báo đáp Tứ Ân, không cúng vàng mã hay đồ sát sinh).
Chính sự giao lưu tộc người và tính chất đa dạng tôn giáo đã tạo nên nét riêng cho truyện dân gian vùng này: nhiều truyện ma thuật, yếu tố thực đậm nét, các lớp văn hóa trầm tích chưa quá dày do lịch sử hình thành chỉ hơn ba thế kỷ.
Chương 2: Nội dung truyện dân gian ở Đồng Bằng Sông Cửu Long về phong tục vòng đời
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, đi sâu khảo sát diện mạo các phong tục qua văn bản truyện cụ thể và phân tích bức tranh sinh hoạt xã hội:
1. Diện mạo phong tục vòng đời qua truyện dân gian:
- Lễ sinh (sinh nở và trẻ thơ):
- Hiện tượng mang thai: Truyện Tại sao gọi là có bầu? (trong tập của Nguyễn Ngọc Quang) mượn chi tiết người mẹ sinh ra quả bầu để giải thích tên gọi hiện tượng thai nghén, đồng thời phân thích các biểu hiện sinh học như kinh nguyệt ở phụ nữ và trái cổ ở nam giới.
- Tục kết hôn cho nam nữ song sinh: Truyện Nam nữ song sinh (Chu Xuân Diên) giải thích việc trẻ sinh đôi khác giới tính phải làm lễ kết hôn hình thức (sử dụng sính lễ cưới như người lớn) do quan niệm hai người kiếp trước có duyên nợ nhưng không thành đôi nên đầu thai cùng lúc.
- Lễ đầy tháng và cúng Mụ: Truyện Truyện 12 bà mụ và 3 đức thầy (Chu Xuân Diên) giải thích nguồn gốc các đồ lễ cúng tạ ơn 12 bà Mụ đã nặn hình hài và bảo bọc đứa trẻ đến năm 12 tuổi.
- Lễ cưới:
- Biểu tượng trầu - cau - vôi: Khảo sát qua Truyện cây cau (Truyện cổ tích thần kì) và Cau - Trầu - Vôi (Chu Xuân Diên), lý giải sính lễ bắt buộc trong đám cưới bắt nguồn từ sự tích tình nghĩa anh em, lòng chung thủy vợ chồng hóa thân thành tảng đá, cây cau, dây trầu và khi nhai hòa quyện sắc đỏ.
- Ý nghĩa hoa cau: Truyện Hoa cau (Chu Xuân Diên) giải thích tục lệ cài hoa cau lên vách nhà sau lễ cưới để ghi dấu sự kết dính vợ chồng. Truyện Ba bông cau trắng (Nguyễn Ngọc Quang) lý giải phong tục của người Khmer tặng ba bông cau trắng trong ngày cưới để tri ân những người có công giúp đỡ.
- Tục tế tơ hồng: Truyện Tích Nguyệt lão tơ hồng (Sơn Nam - Tô Nguyệt Đình) giải thích nghi thức tạ ơn Nguyệt lão se duyên trong lễ tân hôn.
- Phong tục tang ma và nghi lễ hậu tử:
- Tục cúng lục tuần (mừng thọ 60 tuổi): Khảo sát qua Tại sao người già được sống lâu? (Nguyễn Ngọc Quang) và Vì sao người già được nuôi? (Khoa Ngữ văn & Báo chí ĐH KHXH&NV TP.HCM), giải thích sự bãi bỏ luật lệ giết người già 60 tuổi của nhà vua nhờ trí tuệ cứu quốc của người cha già, từ đó hình thành lễ chúc thọ.
- Tục đặt nải chuối xanh lên bụng người chết: Truyện Sự tích nải chuối trên bụng người chết kể về lòng hiếu thảo của nàng Mai. Văn bản đối chiếu quan niệm dân gian (ngăn chó ngao/Thiên cẩu ăn ruột người chết) với lý giải khoa học (chuối xanh hút mùi xú uế, làm chậm phân rã thi thể theo tài liệu của Lê Trung Vũ).
- Tục giăng mùng: Truyện Con Linh Miêu (Nguyễn Ngọc Quang) giải thích việc kiêng kỵ, giăng mùng hoặc nhốt mèo khi có tang để tránh hiện tượng quỷ nhập tràng.
- Tục lệ để tang và phục trang tang lễ: Khảo sát Vì sao con gái để tang cha mẹ lại che mặt? (ĐH Cần Thơ), Nghi lễ đưa tang (Chu Xuân Diên), Vì sao có khăn tang trong đám ma. Các truyện giải thích chi tiết con trai đội mũ mấn, thắt dây lưng chuối; con dâu búi tóc chịu tang; con gái ruột phải xổ tóc, đội khăn che mặt do cảm giác hổ thẹn vì thiếu tròn đạo hiếu so với dâu và con nuôi.
- Nghi thức mai táng và chiêu hồn: Truyện Vì sao người chết lại đem chôn? giải thích bước tiến nhận thức từ bỏ hủ tục sang địa táng; Tích cây mía và lễ chiêu hồn (Sơn Nam - Tô Nguyệt Đình) ca ngợi lòng trung thực và sự tích lễ cầu siêu, chiêu hồn; Chuyện đốt vàng mã (Lý Khắc Cung) phản ánh tục hóa vàng; Sự tích bia mộ giải thích việc người con tên An ân hận khắc tên mẹ lên cây gỗ; Tục cúng ma chay giải thích các tuần cúng cơm 49 ngày và 100 ngày để vong hồn siêu thoát.
2. Bức tranh sinh hoạt gia đình và xã hội:
- Tái hiện đời sống nông nghiệp lúa nước, hoa màu gắn với những hình ảnh quen thuộc (trái bầu, nải chuối).
- Phản ánh những mâu thuẫn gia đình (anh em, vợ chồng, mẹ chồng - nàng dâu, con đẻ - con nuôi) và sự bất công giai cấp (lệnh vua chém đầu người già, thói tranh giành quyền lợi).
- Giá trị đạo đức: Phê phán thái độ bất hiếu của con cái, đề cao chữ Hiếu, lòng thủy chung và tinh thần nhân bản trong cách đối nhân xử thế.
Chương 3: Thi pháp
Chương này khái quát các đặc điểm nghệ thuật thể loại của mảng truyện khảo sát:
- Thi pháp cốt truyện: Cốt truyện mang tính chất tự sự dân gian ngắn gọn, gắn liền với mô típ giải thích nguồn gốc phong tục. Việc sử dụng các yếu tố thần kỳ (sự biến hóa thành cây cau, tảng đá, dây trầu; sự can thiệp của Diêm Vương, Ngọc Hoàng, linh miêu) đóng vai trò thắt nút hoặc giải quyết xung đột nghệ thuật.
- Thi pháp nhân vật: Hệ thống nhân vật được xây dựng theo phương thức phân tuyến chức năng rõ ràng:
- Tuyến nhân vật biểu hiện cho cái đẹp: Người con hiếu thảo (nàng Mai, người con giấu cha, người con nuôi), người vợ/người em thủy chung, người già giàu trí tuệ, người chủ vườn mía trung thực.
- Tuyến nhân vật biểu hiện cho cái xấu, cái ác: Những người con ruột bất hiếu, người con tên An (giai đoạn đầu), nhà vua với sắc lệnh tàn nhẫn, kẻ cướp bóc.
- Thời gian và không gian nghệ thuật:
- Thời gian nghệ thuật: Kết hợp giữa thời gian quá khứ phiếm chỉ ("ngày xưa", "thuở xưa") với thời gian sinh hoạt cụ thể theo chu kỳ đời người (ngày sinh, ngày cưới, khi 60 tuổi, tang lễ, các mốc 49 ngày, 100 ngày).
- Không gian nghệ thuật: Không gian đời thường vùng sông nước, xóm làng nông nghiệp xen lẫn không gian tâm linh, huyền bí (chốn âm phủ, cõi trời, chùa chiền) phản ánh tâm thức vạn vật hữu linh của cư dân vùng đất mới.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân loại các truyện dân gian tiêu biểu phản ánh hệ thống phong tục vòng đời tại Đồng bằng sông Cửu Long theo bảng hệ thống sau:
| Giai đoạn vòng đời |
Nhóm tập tục / Nghi lễ cụ thể |
Tác phẩm truyện dân gian khảo sát |
Nguồn tài liệu / Tác giả sưu tầm |
| Lễ sinh |
Thai nghén và phân biệt giới tính |
Tại sao gọi là có bầu? |
Nguyễn Ngọc Quang |
|
Hôn nhân hình thức cho trẻ song sinh |
Nam nữ song sinh |
Chu Xuân Diên |
|
Cúng Mụ và lễ đầy tháng |
Truyện 12 bà mụ và 3 đức thầy |
Chu Xuân Diên |
| Lễ cưới |
Sính lễ trầu, cau, vôi |
Truyện cây cau, Cau - Trầu - Vôi |
Viện NC Văn học / Chu Xuân Diên |
|
Tục cài hoa cau, tặng bông cau |
Hoa cau, Ba bông cau trắng |
Chu Xuân Diên / Nguyễn Ngọc Quang |
|
Lễ tế tơ hồng tạ ơn Nguyệt lão |
Tích Nguyệt lão tơ hồng |
Sơn Nam, Tô Nguyệt Đình |
| Tang ma & Hậu tử |
Mừng thọ và lễ cúng lục tuần |
Tại sao người già được sống lâu?, Vì sao người già được nuôi? |
Nguyễn Ngọc Quang / ĐH KHXH&NV TP.HCM |
|
Đặt nải chuối xanh lên bụng thi hài |
Sự tích nải chuối trên bụng người chết |
Dân gian ĐBSCL (đối chiếu Lê Trung Vũ) |
|
Kiêng kỵ linh miêu và giăng mùng |
Con Linh Miêu |
Nguyễn Ngọc Quang |
|
Tang phục và lệ con gái che mặt |
Vì sao con gái để tang cha mẹ lại che mặt?, Nghi lễ đưa tang, Vì sao có khăn tang trong đám ma |
ĐH Cần Thơ / Chu Xuân Diên |
|
Tục địa táng |
Vì sao người chết lại đem chôn? |
Dân gian ĐBSCL |
|
Lễ chiêu hồn và tụng kinh siêu độ |
Tích cây mía và lễ chiêu hồn |
Sơn Nam, Tô Nguyệt Đình |
|
Tục hóa vàng mã |
Chuyện đốt vàng mã |
Lý Khắc Cung |
|
Tục khắc tên lên bia mộ |
Sự tích bia mộ |
Dân gian ĐBSCL |
|
Lễ cúng cơm 49 ngày, 100 ngày |
Tục cúng ma chay |
Dân gian ĐBSCL |
Về mặt đóng góp học thuật, khóa luận đạt được các kết quả cụ thể:
- Hệ thống hóa nguồn ngữ liệu: Bước đầu tập hợp, phân loại các truyện kể nằm rải rác trong nhiều công trình biên khảo khác nhau thành một chỉnh thể nghiên cứu chuyên biệt về đề tài phong tục vòng đời tại Đồng bằng sông Cửu Long.
- Làm rõ tính đặc thù văn hóa: Phân tích sự tiếp biến văn hóa, cho thấy các truyện kể vừa mang tính kế thừa truyền thống của người Việt từ miền Bắc, miền Trung, vừa có sự dung hợp với văn hóa của người Khmer, người Hoa và yếu tố bản địa hóa tại Nam Bộ.
- Phân tích chức năng giáo huấn: Chỉ ra rằng đằng sau các chi tiết kỳ ảo, truyện dân gian phong tục vòng đời tại ĐBSCL chủ yếu phục vụ việc giáo dục đạo đức, răn dạy bổn phận hiếu nghĩa đối với ông bà, cha mẹ và gìn giữ kỷ cương gia đình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn tài liệu thành văn chuyên về truyện phong tục vòng đời tại Đồng bằng sông Cửu Long còn tương đối hạn chế, các truyện khảo sát chủ yếu dựa trên các tuyển tập đã xuất bản; dữ liệu lịch sử về giai đoạn cư dân Thủy Chân Lạp trước thế kỷ XVII chưa thật sự phong phú do giới hạn tư liệu cổ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng công tác điền dã sưu tầm thêm các dị bản truyền miệng tại các địa bàn sâu của 13 tỉnh thành Nam Bộ; thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa truyện kể phong tục vòng đời của người Việt với kho tàng truyện kể tương ứng của các dân tộc cùng cư trú như người Khmer, người Chăm và người Hoa.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Văn học, Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Lịch sử và Dân tộc học khi tìm hiểu về văn học dân gian Nam Bộ. Các nội dung đáng chú ý nhất bao gồm:
- Toàn bộ nội dung Chương 2 với việc giải mã căn nguyên tập tục dân gian thông qua từng truyện kể cụ thể.
- Bức tranh tổng quan về lịch sử hình thành vùng đất và tiến trình giao lưu văn hóa tâm linh (Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, tín ngưỡng dân gian) được khái quát tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo lý giải của truyện dân gian trong luận văn, tục cúng lục tuần (mừng thọ 60 tuổi) bắt nguồn từ sự kiện gì?
Tục cúng lục tuần bắt nguồn từ các truyện Tại sao người già được sống lâu? và Vì sao người già được nuôi?. Truyện kể về việc ngày xưa triều đình ban lệnh giết tất cả những người già từ 60 tuổi trở lên vì cho là vô dụng. Nhờ người con hiếu thảo giấu cha dưới hầm và sử dụng mưu trí, kinh nghiệm sâu rộng của người cha già để giúp nhà vua giải đố, cứu đất nước khỏi họa ngoại xâm, nhà vua đã bãi bỏ sắc lệnh tàn nhẫn này. Từ đó, người dân tổ chức lễ cúng lục tuần khi tròn 60 tuổi để tri ân và mừng thọ.
2. Tục đặt nải chuối xiêm sống lên bụng người chết được luận văn lý giải dưới những góc độ nào?
Văn bản đưa ra hai cách giải thích:
- Góc độ dân gian: Truyện Sự tích nải chuối trên bụng người chết xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo của nàng Mai. Đồng thời, dân gian tin rằng con chó ngao giữ cửa trời (Thiên cẩu) hay xuống trần ăn ruột xác chết nhưng lại thích ăn chuối, nên việc đặt nải chuối giúp no bụng chó ngao để thi thể người chết được nguyên vẹn.
- Góc độ khoa học (dẫn theo tài liệu PGS. Lê Trung Vũ): Chuối xiêm xanh có tác dụng hút mùi xú uế thoát ra từ ổ bụng, giúp hạn chế sự phân rã nhanh của thi hài.
3. Tại sao trong các truyện kể về tang ma, con gái ruột để tang cha mẹ lại phải che mặt?
Dựa trên các truyện Vì sao con gái để tang cha mẹ lại che mặt? và Nghi lễ đưa tang, truyện phê phán hiện thực người con gái sau khi đi lấy chồng thường xem trọng chồng hơn cha mẹ ruột, lơ là việc phụng dưỡng, trong khi người con dâu hoặc con nuôi lại hết lòng chăm sóc. Khi cha mẹ qua đời, người con gái cảm thấy hổ thẹn, không dám nhìn thẳng vào thi hài nên phải xõa tóc và dùng khăn che kín mặt.
4. Phong tục kết hôn cho trẻ sinh đôi một nam một nữ xuất phát từ quan niệm nào trong truyện "Nam nữ song sinh"?
Theo truyện Nam nữ song sinh (sưu tầm bởi Chu Xuân Diên), dân gian quan niệm hai đứa trẻ khác giới tính sinh đôi là do kiếp trước yêu nhau sâu sắc nhưng không lấy được nhau hoặc có duyên nợ chưa dứt nên cùng đầu thai chung một bọc. Gia đình phải làm lễ kết hôn hình thức với sính lễ như người lớn để tránh việc một trong hai đứa trẻ bị chết yểu.
5. Yếu tố giao lưu văn hóa tộc người tại ĐBSCL được thể hiện qua truyện phong tục cưới hỏi nào?
Yếu tố giao lưu văn hóa thể hiện rõ qua truyện Ba bông cau trắng (nguồn gốc từ người Khmer tại Châu Đốc, sưu tầm bởi Nguyễn Ngọc Quang) giải thích tục dùng ba bông cau trắng trong đám cưới để ghi nhớ công ơn cứu giúp, và truyện Tích Nguyệt lão tơ hồng (gốc văn hóa Trung Hoa du nhập vào Nam Bộ, dẫn theo Sơn Nam - Tô Nguyệt Đình) giải thích nghi thức tế tơ hồng trong lễ cưới của cả người Hoa và người Việt.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thúy Ngoan đã tổng hợp và khảo sát một cách có hệ thống mảng truyện dân gian về phong tục vòng đời tại vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. Thông qua việc phân tích chuỗi nghi lễ từ lúc sinh ra, cưới hỏi cho đến tang ma, công trình làm nổi bật bức tranh sinh hoạt đời thường, đạo lý hiếu nghĩa và tâm thức văn hóa dung hợp của cư dân Nam Bộ. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên đề có giá trị tư liệu rõ ràng, góp phần làm sáng tỏ mối liên hệ giữa văn học tự sự dân gian và các thực hành tập tục truyền thống trong đời sống người Việt tại Tây Nam Bộ.