CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG 1. Vấn dé văn ban Thánh Tông di thảo: 1. Tình trạng văn bản Thánh Tông di thảo: Thánh Tông di thảo là một tác phẩm gồm 19 truyện vả 2 truyện phụ chép, hiện đang được lưu giữ với hai văn bản: - Một bản sao (bản chép tay) được lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.202 - Một ban Microfilm đang được bảo quản tại Thư viện Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (Ecole Francaise d`'Extrême Orient), ký hiệu M.11/6/993 Đó là một tác phẩm gồm có 2 quyển: quyển Thượng (13 truyện) va quyén Hạ (6 truyện) được đóng thành một tập khổ 30cm — 21cm, một bai Tựa, dày 198 trang, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 19 chữ. Hình thức sao chép của Thánh Tông di thảo được qui định thống nhất cho cả 19 truyện, mỗi truyện chia làm 2 phần: phần truyện và phần lời bàn của tác giả Sơn Nam Thúc.
Sau lời bàn truyện “Hoa Quốc kỳ duyên" có truyện phụ chép "Kim tằm", sau truyện "Mộng ky” có chép thêm hai truyện nhưng không có nhan đề, tạm gọi là “Phu chép 2” Hiện nay có bản dịch Thánh Tông di thảo của Nguyễn Bích Ngô được xuất bản 2 lần: - Lần 1: do Nguyễn Văn Tú hiệu đính, Lê Sỹ Thắng giới thiệu, NXB Văn hóa, Viện Văn học 1963 - Lần 2: do Phạm Văn Thắm giới thiệu, NXB Văn học, 2001 1. Vấn đề niên đại và tác giả của Thánh Tông di thảo: Hai van đề này tuy tach bạch nhưng lại có mối liên hệ với nhau vi cái này là cơ sở dé xác định cái kia và ngược lại, hiện đây đang là van đề gây nhiều tranh luận, mâu thuẫn trong giới nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam. Ý kiến của các nhà nghiên cứu trước đây: 1."Lởi giới thiệu vê Thanh Tông di thao” của Lê Sỹ Thắng va Hà Thúc Minh trích trong “Thanh Tông di thảo", NXB Văn hoa, Viện van SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Thúy 10 Khóa luận tốt nghiệp ; GVHD: PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân hoc, 1963 đã tống hợp ba loại ý kiến khác nhau về tác giả của Thánh Tông di thảo: - Loại ý kiến thứ nhất: một số người đã căn cứ vào lối tự xưng (dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhát, số ít "dw" là “tôi" ) cho rằng phù hợp với lối tự xưng của Lê Thánh Tông trong Thiên Nam dư hạ - một tác phẩm đã được xác định là của Lê Thánh Tông. Đồng thởi họ còn căn cứ vào sự xuất hiện các từ ngữ chỉ dùng cho vua chúa: “đông cung”, "tiềm dé”, căn cứ vào nội dung một số bài Lê Thánh Tông tự đặt mình vào truyện và sự đánh gia rat cao về mặt văn chương của tác phẩm để đi đến khẳng định Thánh Tông di thảo chính là do Lê Thánh Tông viết.
- Loại ý kiến thứ hai: một số người lại căn cứ vao các tên dat như “Ha Nội” trong “Hoa Quốc kỳ duyên", "Đoái hồ" (tức là Hồ Tây) trong “Mai Châu yêu nữ truyện”, “Lang Bạc phùng tiên" và "Mộng ký”, vào các sự kiện lịch sử như nạn lụt năm Quy Ty trong *Lưỡng Phật đấu i ký", vào các danh từ chi hoc vị như “phó bang, cử nhân" trong “Tran nhân cư Thủy Phủ”, cỏ người dựa vào cách dùng các hư từ như “chi, nhí” còn nhiều sai sót, những cứ liệu này xuất hiện ở các thời đại sau nên khẳng định Thánh Tông di thảo không phải là tác phẩm của Lê Thánh Tông (tiêu biểu là ý kiến của Tran Văn Giáp). - Loại ý kiến thứ ba: một số người lại nhận thấy việc xuất hiện xen kẽ những bải văn yếu và những bài cứng cát, những bài văn có địa danh, sự việc không thuộc thời Lê Thánh Tông và những bài phản ánh sự thịnh trị của thời Lê Sơ, những bài có nội dung tư tưởng hoàn toàn xa lạ với tư tưởng của Lê Thánh Tông và những bài mang đậm "khẩu khí thiên tử”.đi đến kết luận Thánh Tông di thảo có những bài là của Lê Thánh Tông nhưng có cả những bài do người đời sau thêm vào. Lê Sỹ Thang va Hà Thúc Minh có ý nghiêng về ý kiến thứ 3 và nhận xét thêm: “Qua việc nhận xét bút pháp và một vai sự việc, chúng tôi còn ngờ rằng có một đôi bài được viết vào thé ky thứ 19”{13; 7]. “Thánh Tông di thảo” trích trong “Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam (Thư tịch chi Việt Nam)”, Tran Văn Giáp, NXB Văn hóa, 1984: tác giả lại dựa vào sự mâu thuẫn thể hiện qua văn tự, đưa ra những cứ liệu lịch sử để phủ nhận việc Lê Thánh Tông viết tác phẩm này: Trần Văn Giáp đã chứng minh rằng danh từ “Thánh Tông” là miéu hiệu mà Lê Tư Thành có được sau khi mắt 10 tháng 23 ngày nên Thánh Tông di thảo không phải là của Lê Thánh Tông vì danh từ “Thánh Tông” chưa xuat hiện lúc sinh thời tác giả Tác giả của công trình nghiên cứu nay còn cho rằng dia danh Tây Hồ xuất hiện vào năm 1573 và đổi thành tên Đoài Hồ vào năm 1645 do SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Thúy 11 Khóa luận tốt nghiệp _ GVHD: PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân tránh kiêng tôn hiệu chúa Trinh Tac.
Do đó tên Đoài Hồ xuat hiện sau khi Lê Thánh Tông mat được 166 năm nên Lê Thánh Tông không thé đem tên ấy viết vào sách của minh được. Mặt khác các địa danh Thượng Kinh và Hà Nội chỉ có từ thời Minh Mạng không có ở thời Lê Thánh Tông. Theo ông, các danh từ như “đông cung, tiêm đề” vốn dùng dé chỉ nơi ở của hoàng thái tử mà Lê Thánh Tông húy Tư Thành vốn là con thứ tư của vua Lê Thái Tông nhưng không phải là thái tử do vua Thái Tông lập. Lê Tư Thành trước khi làm vua hay ở Tây Để chứ không phải là Đông cung nên từ “đông cung” không thể gán cho Lê Thánh Tông được.
Bên cạnh đó ông còn viện dẫn theo lịch sử những năm Quý Ty có nạn lụt lớn là các năm 1713 và 1773, nên ở thời Lê Thánh Tông khô xảy ra trận lụt nào lớn vào năm Quý Tụ như “Lưỡng Phật đấu thuyết ký” dé cập. Vi vậy tác giả đã kết luận: “Thánh Tông di thảo hiện có không phải là của Lê Thánh Tông. Nó chỉ là một tập thân thoại hay đoản thiên tiểu thuyết, đúng tên nó là gì không rõ. viết về khoảng giữa thế kỷ XIX và XX gan đây, có thé là sau năm Quý Ty niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893), tác già bút danh Sơn Nam Thúc.
Một người nào đó vì hiếu kỳ hoặc chủ ý lừa độc giả, đã đặt cho nó cái tên Thánh Tông di thảo” [34; 178] 3. “Nghiên cứu văn bản và đánh giá thé loại truyền kỳ viết bằng chữ Hán & Việt Nam thời trung đại”, Pham Văn Thắm, Luận án Phỏ Tiến Sĩ Khoa học Ngữ Văn, Hà Nội 1996: tác giả cũng tán thành ý kiến xen vào những bài chính của Lê Thánh Tông, có cả những bài của người đời sau và đưa ra một số lý lẽ, bằng chứng làm cơ sở cho lập luận: Theo Phạm Văn Thắm, văn bản Thánh Tông di thảo có 3 bộ phận: phần chính văn, cước chú và lời bình, trong đó cước chú và lời bình chỉ là những bộ phận góp phần nâng cao giá trị và tầm khái quát của chính văn, vì vậy khi xác định niên đại của văn bản chỉ nên căn cứ chủ yếu vào phần chính văn. Ngoài ra tac giả còn đề cập cụ thé đến ván đề địa danh và nhân danh trong hai truyện "Hoa Quốc kỳ duyên” và “Mộng ky”: - Trong “Hoa Quốc kỳ duyên”: Phạm Văn Thắm đã căn cứ vào từ "Hoa Quốc”, nhân vật “VG Văn Hồi" va những chi tiết miêu tả cuộc chiến do Chu Sinh lãnh mệnh triều đình đi dẹp giặc Vũ Văn Hồi ở Hoa Quốc được nhắc đến trong tác phẩm và đem so với những sự kiện được viết trong sách “Ba Đông vũ thị chép". tác giả nhận thấy: “Nội dung trong truyện “Hoa Quốc ky duyên" có nhiêu tinh tiết ghi về cuộc chiến tương dong với các tình tiết mà sử sách đã ghi vé cuộc giao tranh ở Hoa SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Thúy 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân Quốc (một vùng thuộc Tuyên Quang đã xảy ra cuộc giao tranh giữa 2 thé lực Lê - Mạc) dau thé ky XVI" [10; 13] nên đoán định "Hoa Quốc kỳ duyên" có thể được viết vào đầu thời Lê - Mạc.
- Trong "Mộng ký": Phạm Văn Thắm lại căn cứ vào sách “Tây Hỗ chí" và tam bia mang tiêu đề “Tran Quốc tự bí ký”, ký hiệu N° 245 - 246 mang niên đại Dương Hoa 5 (1639) hiện dựng tại chùa Tran Quốc ven Hồ Tây đã nhắc đến sự kiện năm Hoằng Định 16 (1615) triều đình cho đắp một con đê nhỏ từ Yên Phụ đến An Giang để ngăn hồ, phan phia Đông được gọi là hồ Trúc Bạch nên tác giả cho rằng "Mộng ký" có thể được viết khoảng từ năm 1615 trở về sau. Trên cơ sở đó Pham Văn Thắm kết luận "một bộ phận của truyện có thé được xuất hiện dau thời Lê - Mạc, từ thé ky XVI đến thế kỷ XVII" (10: 20). “Văn bản Thánh Tông di thảo” của Tran Thị Băng Thanh trích trong “Những nghĩ suy từ văn học trung đại”, Viện văn hoc, NXB Khoa học xã hội, 1999: tác giả cũng đã căn cứ vào một số cứ liệu đáng nghi ngờ về văn ban Thánh Tông di thảo như các tác giả trước đã đề cập nhưng lại đưa ra những cách kiến giải rất khác: Văn bản hiện còn lại của Thánh Tông di thảo là một bản chép tay do BEFEO thuê chép trong khoảng vào thập kỷ 20, 30 nên văn bản lưu giữ tại Thư viện Hán Nôm là văn bản mới xuất hiện đầu thế kỷ XX, do được sao đi chép lại nhiều lần nên văn chương không còn được giữ lại nguyên vẹn như cũ nên nếu so sánh văn phong tác giả e khó tránh khỏi cảm tính và võ đoán. Vì vậy việc căn cứ vào văn phong để xác định chưa hẳn là một chứng cứ thuyết phục.
Đối với vấn đề tác phẩm chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng không phù hợp với Lê Thánh Tông, người vi cho rằng không nên hs cach nhìn hiện dai để soi chiếu tác phẩm, vi con người ngày nay thôn mọi ranh giới phải rach ròi, yêu ghét phải phân định rõ rang, không nhập nhằng, lẫn lộn.