Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn xuôi tự sự Việt Nam thời kỳ trung đại, thể loại truyện truyền kỳ viết bằng chữ Hán giữ một vị trí quan trọng, phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật và diện mạo của văn học dân tộc. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, giới nghiên cứu và giảng dạy thường tập trung khảo sát tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ mà chưa có sự đánh giá, nhìn nhận thỏa đáng đối với Thánh Tông di thảo – một tập truyện truyền kỳ tiêu biểu ra đời sớm hơn hoặc song hành trong dòng chảy văn học trung đại. Một trong những nguyên nhân khiến tác phẩm này ít được khảo sát toàn diện là do các cuộc tranh luận học thuật kéo dài về niên đại văn bản và vấn đề tác giả.

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Sư phạm Ngữ Văn với đề tài "Tìm hiểu những giá trị đặc sắc của Thánh Tông di thảo" do sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Thúy (Lớp Ngữ Văn K27B, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Thị Thu Vân (hoàn thành vào tháng 5/2005), xuất phát từ yêu cầu học thuật và thực tiễn sư phạm nhằm:

  1. Tiếp cận tập truyện Thánh Tông di thảo như một tổng thể nghệ thuật hoàn chỉnh, ổn định và có tính hệ thống.
  2. Khảo sát, phân tích làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc về mặt nội dung tư tưởng và phương thức nghệ thuật của tác phẩm.
  3. Xác định vị trí, đóng góp của Thánh Tông di thảo trong tiến trình vận động của thể loại truyện ngắn chữ Hán nói riêng và văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại nói chung.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ 19 đơn vị truyện chính và 2 truyện phụ chép trong văn bản dịch Thánh Tông di thảo do dịch giả Nguyễn Bích Ngô dịch và chú thích, Phạm Văn Thắm giới thiệu (NXB Văn học, Hà Nội, 2001). Đồng thời, khóa luận mở rộng phạm vi đối sánh với bản dịch xuất bản năm 1963 (do Nguyễn Văn Tú hiệu đính, Lê Sỹ Thắng giới thiệu) và các tập truyện trung đại tiêu biểu như Việt điện u linh tập, Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quáiTruyền kỳ mạn lục.

Cơ sở văn bản và phương pháp nghiên cứu

Về mặt văn bản học, khóa luận xác định các nguồn lưu trữ văn bản Hán Nôm hiện còn của Thánh Tông di thảo:

  • Bản chép tay lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội), mang ký hiệu A.202.
  • Bản phim Microfilm bảo quản tại Thư viện Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (EFEO), mang ký hiệu M.11/6/993.
  • Cấu trúc văn bản gồm 2 quyển: quyển Thượng (13 truyện) và quyển Hạ (6 truyện), đóng chung một tập khổ 30cm x 21cm, có một bài Tựa, gồm 198 trang; quy cách mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 19 chữ; kết cấu mỗi truyện gồm phần chính văn và phần lời bình của tác giả mang bút danh Sơn Nam Thúc.

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu văn học chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Đặt tác phẩm vào bối cảnh lịch sử - xã hội thế kỷ XV (thời kỳ Lê sơ và triều đại Lê Thánh Tông), phân tích mối quan hệ tương tác giữa môi trường văn hóa, tư tưởng thời đại với nội dung và hình thức nghệ thuật của tập truyện.
  • Phương pháp hệ thống: Khảo sát các yếu tố nội dung, nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian và giọng điệu trần thuật trong mối liên hệ hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh.
  • Phương pháp phân loại, thống kê: Thống kê tần số xuất hiện của các dạng nhân vật, môtip kỳ ảo, thể loại truyện để làm căn cứ định lượng cho các nhận định lý thuyết.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng so sánh đồng đại và lịch đại giữa Thánh Tông di thảo với các tác phẩm truyện ngắn chữ Hán trước và sau nó, làm nổi bật bước chuyển biến thi pháp của thể loại.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khảo sát chi tiết từng văn bản truyện, sau đó đúc kết thành các luận điểm khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương này tập trung tổng thuật lịch sử nghiên cứu văn bản, làm rõ các quan điểm trái chiều về tác giả, niên đại, đồng thời phục dựng bối cảnh lịch sử thời Lê sơ và chân dung tác giả Lê Thánh Tông.

Về vấn đề tác giả và niên đại, khóa luận hệ thống hóa các luồng quan điểm trong giới nghiên cứu:

Nhà nghiên cứu / Công trình Luận cứ chính Kết luận về tác giả & niên đại
Lê Sỹ Thắng, Hà Thúc Minh (1963) Xuất hiện đan xen bài cứng cỏi và bài yếu; có địa danh/sự việc thời Lê sơ lẫn các chi tiết mang dấu ấn thời sau. Tập truyện gồm nhiều tác giả; có truyện của Lê Thánh Tông nhưng bị sửa chữa, thêm bớt qua các lần sao chép; nghi ngờ có bài viết vào thế kỷ XIX.
Trần Văn Giáp (1984) Xuất hiện miếu hiệu "Thánh Tông" (chỉ có sau khi vua mất); các địa danh Đoài Hồ (1645), Hà Nội (đời Minh Mạng); học vị Phó bảng, Cử nhân; sự kiện lụt Quý Tỵ (1713, 1773). Văn bản do người đời sau soạn vào khoảng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (sau 1893), tác giả có bút danh Sơn Nam Thúc gán tên cho Lê Thánh Tông.
Phạm Văn Thắm (1996) Khảo sát địa danh, nhân danh cuộc chiến Vũ Văn Hồi ở Hoa Quốc (đầu thế kỷ XVI), sự kiện đắp đê ngăn hồ Trúc Bạch năm 1615 trong Mộng ký. Tác phẩm xuất hiện từ đầu thời Lê - Mạc, hình thành và bồi đắp trong khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII.
Trần Thị Băng Thanh (1999) Khung cảnh xã hội và nghệ thuật dựng truyện gần gũi với Truyền kỳ mạn lục; văn bản chịu ảnh hưởng của các lần "bổ chính"; lời bình của Sơn Nam Thúc viết vào thập kỷ 70-80 thế kỷ XVIII sau khi tìm lại tập Thiên Nam dư hạ (1767). Tập truyện ký hình thành thời Lê hoặc hoàn thành vào nửa cuối thế kỷ XVIII trước khi nhà Lê sụp đổ; do Sơn Nam Thúc sưu tập và viết lời bình.
Nguyễn Đăng Na (1999) Khảo sát 19 thiên: có 6 thiên không ghi thể loại (31,57%), 13 thiên còn lại chia làm 6 thể (5 truyện, 4 ký, 1 lục, 1 phả, 1 chí dị, 1 từ). Tác phẩm được sưu tập muộn vào thế kỷ XIX khi tính nghiêm ngặt về quy phạm thể loại bị giải thể dần.

Tác giả khóa luận bày tỏ sự đồng thuận với kiến giải của Lê Sỹ Thắng, Hà Thúc Minh và Trần Thị Băng Thanh: Thánh Tông di thảo là tập truyện có cốt lõi sáng tác từ thời Lê Thánh Tông, phản ánh tư tưởng của vị vua này, nhưng văn bản hiện hành mang dấu vết nhuận sắc, bổ sung qua nhiều thời kỳ sao chép. Khóa luận chứng minh tính xác thực trong tư tưởng Lê Thánh Tông thông qua sự tương đồng trực tiếp giữa nội dung nhiều truyện (Hoa Quốc kỳ duyên, Hiếu đễ nhị thần truyện, Ngư gia chí dị, Nhất thư thủ thần nữ) với các điều khoản trong 24 huấn điều chấn chỉnh phong tục do chính vua Lê Thánh Tông ban hành. Tác giả cũng chỉ ra 7 truyện có dấu hiệu được người đời sau thêm thắt hoặc sửa đổi chi tiết: Mai Châu yêu nữ truyện, Lưỡng Phật đấu thuyết ký, Hoa Quốc kỳ duyên, Trần nhân cư Thủy Phủ, Lãng Bạc phùng tiên, Mộng ký, Nhất thư thủ thần nữ.

Khóa luận tái hiện bối cảnh thế kỷ XV sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Minh: chính sách quân điền (1429), củng cố chính quyền quân chủ chuyên chế quan liêu, hệ thống hành chính 13 xứ, 52 phủ, 172 huyện, 50 châu; việc ban hành Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức); chế độ khoa cử định kỳ 3 năm một khoa thi Hương và thi Hội. Về mặt văn hóa, Nho giáo giữ địa vị độc tôn, song Phật giáo và Đạo giáo vẫn duy trì ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian. Vua Lê Thánh Tông (1442–1497, trị vì 1459–1497) là một nhà chính trị tài năng và nhà văn hóa lỗi lạc, sáng lập Hội Tao Đàn (gồm 28 thành viên - Tao Đàn nhị thập bát tú), đề xướng quan niệm văn học "Văn dĩ tải đạo" phục vụ sự nghiệp trị nước và giáo hóa muôn dân.

Chương 2: Những giá trị đặc sắc về nội dung của Thánh Tông di thảo

Khóa luận phân tích các bình diện nội dung tư tưởng mang tính khai phá của tác phẩm:

  • Đề cao vai trò của cá nhân Lê Thánh Tông và vị thế con người: Lần đầu tiên trong văn học trung đại, con người được khẳng định với tư cách chủ thể vũ trụ, có khí phách cương trực, tự tin, khiến ma quỷ phải né sợ và thần linh phải cầu cạnh. Trong Nhất thư thủ thần nữ, vị thần núi bị vu cáo phải nhờ đến chữ viết của người học trò trần gian để minh oan trước Thượng Đế; trong Trần nhân cư Thủy Phủ, người trần hiến kế dùng cam thảo để giải độc nước lũ cho thủy tộc; trong Ngư gia chí dị, tài năng chế biến ẩm thực và trí tuệ của con người được tôn vinh cao hơn mọi loài vật sinh ra giữa biển rộng non cao.
  • Chứa đựng các bài học ngụ ngôn, khuyên răn đạo lý:
    • Thiềm thừ miêu duệ ký: Bài học luân lý về sự tiết chế tham dục nhằm bảo toàn thân mệnh qua hình ảnh con cóc và con ếch.
    • Phú cái truyện: Phản ánh nghịch lý đời sống qua số phận người đàn bà ăn mày tích cóp của cải và châm biếm thói vô sỉ của những kẻ láng giềng đến tranh chia tài sản khi bà qua đời.
    • Sơn Quân phả: Sử dụng hình tượng "hổ thiện" (ẩn dụ các bậc lương tướng, công thần làm việc thiện chính) và "hổ ác" (ẩn dụ bọn quan lại bạo ngược, cắn hại dân lành) để răn đe kẻ ác tất bị trừng trị.
    • Văn thư lục: Lời đối thoại giữa muỗi đồng và muỗi nhà, khuyên con người trân trọng cuộc sống tự do, thanh đạm, tránh xa chốn xa hoa quyền quý đầy cạm bẫy hiểm nguy.
    • Vũ môn tùng tiếu: Mượn cuộc thi vượt Vũ Môn của tôm, cua, ếch, cá rô, lươn chạch để đả kích thói khoe khoang, tự phụ, ngạo mạn của người đời.
    • Lũng cổ phán từ: Cuộc phân xử giữa anh mù và anh điếc, đặt ra vấn đề nhận thức bản chất và hiện tượng, khẳng định quan niệm "trăm nghe không bằng một thấy" – một bài học sâu sắc đối với phép trị nước của bậc đế vương nhằm tránh nghe lời gièm pha phiến diện.
  • Thái độ ứng xử đối với Tam giáo (Nho - Phật - Đạo):
    • Đối với Nho giáo: Thể hiện sự coi trọng đạo học, phẩm cách thanh bần, lòng trung quân ái quốc (Hiếu đễ nhị thần truyện, Nhất thư thủ thần nữ, Ngọc nữ quy chân chủ, Trần nhân cư Thủy Phủ). Đồng thời, tác phẩm phê phán các nho sĩ sa đà nữ sắc, trễ nải việc học (Phụ chép 2) và phê phán lối học từ chương, sáo rỗng, phi thực tế qua hình tượng cậu bé Thúc Ngư trong Ngư gia chí dị.
    • Đối với Phật giáo: Phê phán gay gắt sự thoái hóa, bất lực, thói hưởng thụ và tranh giành địa vị của các biểu tượng tôn giáo qua hình ảnh hai tượng Phật đất và tượng Phật gỗ cãi nhau trong Lưỡng Phật đấu thuyết ký.
    • Đối với Đạo giáo: Thể hiện thái độ phê phán các tệ nạn mê tín dị đoan, song vẫn tiếp thu thế giới quan thần tiên, phóng khoáng của Đạo gia.
  • Ca ngợi phẩm chất phụ nữ, tình yêu đôi lứa và lòng tự hào dân tộc: Tôn vinh vẻ đẹp tài năng, tiết hạnh, đức hy sinh của người phụ nữ; đề cập đến tình cảm lứa đôi tự nhiên; cổ vũ những thuần phong mỹ tục và khẳng định ý thức độc lập, chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Đại Việt.

Chương 3: Những giá trị đặc sắc về nghệ thuật của Thánh Tông di thảo

Khóa luận khảo sát hệ thống phương thức biểu đạt nghệ thuật tạo nên diện mạo truyền kỳ đặc trưng của tác phẩm:

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Đưa những con người bình thường trong xã hội (anh đồ nghèo, ông chài, người ăn mày, phụ nữ thôn quê) vào vị trí trung tâm phản ánh thay vì chỉ tập trung vào vua chúa, thần linh hay danh nhân lịch sử. Vận dụng linh hoạt thủ pháp nhân hóa các vật thể hữu hình và thế giới động vật. Nhân vật trong nhiều truyện trở thành hiện thân tư tưởng, phát ngôn cho quan điểm của tác giả.
  • Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố "kỳ" và "thực": Yếu tố "kỳ" (kỳ ảo) được khai thác đa dạng dưới dạng thức hóa thân, biến hình, sự trợ giúp của thế lực siêu nhiên, sự sắp đặt những cuộc "kỳ ngộ" và chi phối cách tổ chức không gian - thời gian nghệ thuật. Yếu tố "thực" là bối cảnh địa danh lịch sử có thật, hiện thực đời sống xã hội thời phong kiến và tâm lý chân thực của con người. Tác phẩm còn sử dụng yếu tố kỳ ảo linh hoạt ngay cả trong những truyện có tính chất hiện thực thuần túy như Phú cái truyệnLũng cổ phán từ.
  • Nghệ thuật cốt truyện, miêu tả tâm lý và giọng điệu: Cốt truyện mạch lạc, phát triển theo quan hệ nhân quả; nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật bắt đầu xuất hiện những nét sinh động; nghệ thuật trần thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời kể chuyện khách quan và lời bình luận mang đậm sắc thái triết lý đạo đức của Sơn Nam Thúc.

Chương 4: Vị trí và đóng góp của Thánh Tông di thảo trong thể loại truyện truyền kỳ

  • Bước phát triển vượt bậc so với các truyện ngắn chữ Hán trước đó: Khóa luận so sánh tác phẩm với Việt điện u linh tập, Thiền uyển tập anhLĩnh Nam chích quái để khẳng định: Thánh Tông di thảo đã vượt thoát khỏi tính chất ghi chép thần tích, phả ký tôn giáo hay sưu tập truyền thuyết dân gian thụ động, đánh dấu bước chuyển sang tư duy sáng tạo nghệ thuật hư cấu của văn học viết.
  • Tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn chữ Hán giai đoạn sau: Tác phẩm đặt nền móng thi pháp cho thể loại truyền kỳ, chuẩn bị các điều kiện về đề tài, phương thức xây dựng nhân vật và nghệ thuật kết hợp kỳ - thực để thể loại đạt đến độ chín muồi ở Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ vào thế kỷ XVI.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

  1. Khẳng định tính chỉnh thể của văn bản: Khóa luận đã tiếp cận và phân tích toàn diện 19 truyện chính và 2 truyện phụ chép của Thánh Tông di thảo, chứng minh tác phẩm là một cấu trúc nghệ thuật tương đối hoàn chỉnh, có sự thống nhất về tư tưởng thẩm mỹ và lời bình của Sơn Nam Thúc.
  2. Làm rõ mối quan hệ giữa văn học và tư tưởng trị quốc thời Lê sơ: Tác giả đã chỉ ra sự tương đồng mang tính bản chất giữa các chủ đề truyện với 24 huấn điều, tư tưởng đề cao pháp luật (Quốc triều hình luật), và chính sách trọng dụng hiền tài dưới triều đại hoàng đế Lê Thánh Tông.
  3. Xác lập vị trí lịch sử của tác phẩm: Khóa luận đã chứng minh Thánh Tông di thảo giữ vị trí cầu nối lịch sử văn học quan trọng: là bước chuyển tiếp từ lối ghi chép thần tích, truyền thuyết dân gian giai đoạn Lý - Trần sang giai đoạn truyện truyền kỳ phát triển đỉnh cao với tư duy hư cấu cá nhân.

Hạn chế và hướng mở nghiên cứu

  • Hạn chế: Do tình trạng văn bản Hán Nôm của Thánh Tông di thảo còn nhiều dị bản chép tay và các cứ liệu lịch sử đan xen nhiều tầng thời gian chưa thể giải quyết triệt để, khóa luận chủ yếu tiếp cận tác phẩm thông qua bản dịch ngữ văn hiện hành (bản dịch năm 2001 và 1963) kết hợp phân tích thi pháp, chưa thể tiến hành giám định toàn diện các dị bản Hán văn nguyên gốc.
  • Hướng mở nghiên cứu:
    • Khảo sát, so sánh đối chiếu văn bản học chuyên sâu giữa bản chép tay A.202 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và bản Microfilm M.11/6/993 (EFEO).
    • Nghiên cứu so sánh loại hình giữa các truyện cụ thể trong Thánh Tông di thảo với tiểu thuyết truyền kỳ khu vực Đông Á (như đối chiếu truyện Hoa Quốc kỳ duyên với Liên Hoa công chúa trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho sinh viên, học viên cao học ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Hán Nôm học và các nhà nghiên cứu quan tâm đến tiến trình văn xuôi tự sự trung đại.
  • Giá trị ứng dụng: Cung cấp tư liệu dẫn chứng chi tiết, phân tích thi pháp phục vụ công tác giảng dạy các bài học về truyện truyền kỳ chữ Hán trong chương trình Ngữ văn THPT, hỗ trợ việc đối chiếu so sánh trực tiếp khi giảng dạy tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng ấn bản nào của Thánh Tông di thảo làm căn cứ khảo sát chính?
Khóa luận căn cứ trên bản dịch Thánh Tông di thảo do dịch giả Nguyễn Bích Ngô dịch và chú thích, Phạm Văn Thắm giới thiệu, Nhà xuất bản Văn học (Hà Nội) ấn hành năm 2001, gồm 19 truyện chính và 2 truyện phụ chép (tổng cộng 183 trang).

2. Nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp đã đưa ra những cứ liệu nào để phủ nhận việc Lê Thánh Tông là tác giả của tập truyện?
Trần Văn Giáp căn cứ vào việc miếu hiệu "Thánh Tông" xuất hiện sau khi vua Lê Tư Thành mất; địa danh "Đoài Hồ" xuất hiện từ năm 1645 do kiêng tên chúa Trịnh Tạc (sau khi vua mất 166 năm); địa danh "Hà Nội" chỉ có từ thời Minh Mạng; các học vị "Phó bảng", "Cử nhân" thuộc thời Nguyễn; và các trận lụt lớn năm Quý Tỵ xảy ra vào các năm 1713, 1773. Từ đó ông kết luận sách do tác giả Sơn Nam Thúc viết vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.

3. Tác giả khóa luận đã chứng minh tư tưởng của vua Lê Thánh Tông trong tác phẩm qua những dẫn chứng nào?
Tác giả khóa luận chỉ ra sự tương đồng trực tiếp giữa nội dung truyện với 24 huấn điều của vua Lê Thánh Tông: đạo huynh đệ (thay anh nuôi cháu) trong Hoa Quốc kỳ duyên, Hiếu đễ nhị thần truyện; bổn phận làm dâu giữ trọn đạo gia đình trong Ngư gia chí dị, Nhất thư thủ thần nữ; và quan niệm nghiêm túc trong việc cưới hỏi, giữ gìn danh tiết trong Hoa Quốc kỳ duyên, Nhất thư thủ thần nữ.

4. Theo thống kê của PGS. Nguyễn Đăng Na được dẫn lại trong khóa luận, 19 thiên truyện trong Thánh Tông di thảo phân chia thành những thể văn nào?
Theo PGS. Nguyễn Đăng Na, trong 19 thiên có 6 thiên không ghi tên thể loại (chiếm 31,57%), 13 thiên còn lại chia làm 6 thể văn cụ thể: Truyện (5 thiên), Ký (4 thiên), Lục (1 thiên: Mắn thư lục / Văn thư lục), Phả (1 thiên: Sơn Quân phả), Chí dị (1 thiên: Ngư gia chí dị), và Từ (1 thiên: Lũng cổ phán từ / Lung cỗ phán từ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thúy đã cung cấp một cái nhìn hệ thống, khách quan và toàn diện về tập truyện Thánh Tông di thảo trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật thi pháp. Công trình đã làm sáng tỏ vị thế trung tâm của hình tượng con người, thái độ ứng xử linh hoạt đối với Tam giáo và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố kỳ ảo và hiện thực. Qua đó, khóa luận khẳng định vị trí bản lề không thể phủ nhận của Thánh Tông di thảo trong bước chuyển mình từ văn học ghi chép chức năng sang văn học nghệ thuật hư cấu của truyện ngắn chữ Hán Việt Nam thời trung đại.