Dân Ca Xường Của Người Mường Ở Thanh Hóa: Nghiên Cứu Từ Góc Độ Văn Học Dân Gian

Luận án tiến sĩ khám phá dân ca xường của người Mường ở Thanh Hóa từ góc độ văn học dân gian, làm nổi bật giá trị văn hóa và nghệ thuật.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ ngữ văn

2003

209
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Dân Ca Xường Mường Thanh Hóa

Nghiên cứu dân ca Xường Mường Thanh Hóa là một lĩnh vực quan trọng, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Trải qua nhiều thế kỷ, dân tộc Mường đã sáng tạo nên một kho tàng văn hóa nghệ thuật phong phú, trong đó Xường giữ một vị trí đặc biệt. Việc nghiên cứu không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của Xường, mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị này trong bối cảnh xã hội hiện đại. Các nhà nghiên cứu đã tập trung sưu tầm và nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy vốn văn học dân gian truyền thống của các tộc người để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa của cả nước.

1.1. Văn Hóa Dân Gian Mường Thanh Hóa Giới thiệu chung

Văn hóa dân gian Mường Thanh Hóa là một bộ phận quan trọng của văn hóa Việt Nam. Nó bao gồm nhiều thể loại như sử thi, truyện thơ, ca dao, tục ngữ, và đặc biệt là Xường. Mỗi thể loại đều mang những đặc trưng riêng, phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm của người Mường. Văn học dân gian Mường có ý nghĩa không nhỏ trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa đa tộc người nước ta.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu Văn hóa Mường

Việc nghiên cứu văn hóa Mường, đặc biệt là dân ca Xường, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống là vô cùng cần thiết. Đồng thời, nghiên cứu còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử, xã hội và con người Mường. Tộc người Mường có một lịch sử hình thành sớm, lại là tộc người có cùng cội nguồn với tộc người Việt (Kinh). Trong quá trình phát triển, người Mường đã sáng tạo nên một tài sản văn học dân gian riêng biệt và khá đồ sộ.

II. Thực Trạng Nghiên Cứu Và Bảo Tồn Dân Ca Xường Mường

Mặc dù có giá trị to lớn, việc nghiên cứu và bảo tồn dân ca Xường Mường vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều giá trị văn hóa cổ truyền đang có nguy cơ bị mai một do tác động của đời sống hiện đại. Bên cạnh đó, việc sưu tầm và nghiên cứu Xường còn hạn chế, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại này. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tăng cường công tác nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa này. Việc làm rõ những đặc điểm về phương thức sinh hoạt, đặc biệt là phương thức thể hiện của xường, nhằm xác định giá trị của xường ở Thanh Hóa nói riêng, của tộc người Mường ở Việt Nam nói chung là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

2.1. Những khó khăn trong việc bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể

Sự thay đổi của xã hội hiện đại, sự xâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai, và sự thiếu quan tâm của thế hệ trẻ đang đặt ra những thách thức lớn đối với việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể nói chung và dân ca Xường nói riêng. Các hình thức diễn xướng Xường không còn phổ biến. Hầu hết những nghệ nhân xường mà chúng tôi tiếp xúc thì đều ở độ tuổi ngoài bẩy mươi.

2.2. Tình hình sưu tầm và nghiên cứu Nghệ thuật hát Xường

Việc sưu tầm và nghiên cứu Nghệ thuật hát Xường còn chưa được quan tâm đúng mức. Số lượng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Xường còn hạn chế. Đa phần các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu, mô tả. Cho đến nay, tuy xường của người Mường ở Thanh Hóa chưa được dành cho một công trình nghiên cứu có tính chất chuyên luận, nhưng đã có những nhà sưu tầm, nghiên cứu đề cập đến nó ở những phương diện khác nhau.

2.3. Các công trình nghiên cứu về Dân ca Xường

Có thể nói rằng, việc sưu tầm, biên soạn tư liệu về xường của người Mường ở Thanh Hóa được tiến hành tương đối muộn. Toàn bộ giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, việc sưu tầm, biên soạn giới thiệu về xường của người Mường ở Thanh Hóa hầu như chưa được đề cập đến. Năm 1964, thực hiện chủ trương sưu tầm, giới thiệu văn hóa Mường do Ty Văn hóa Thanh Hóa chủ trì, đoàn khảo sát văn hóa Mường đã được thành lập.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Lời Ca Xường Mường Hiệu Quả

Để nghiên cứu lời ca Xường Mường một cách hiệu quả, cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp điền dã, sưu tầm tư liệu là vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, cần áp dụng các phương pháp phân tích văn học, ngôn ngữ học để hiểu sâu sắc hơn về giá trị nghệ thuật của Xường. Ngoài ra, việc so sánh Xường với các thể loại văn hóa dân gian khác cũng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về di sản văn hóa này. Khi sưu tầm, ghi chép lại các lời xường, Minh Hiệu khảo tả trên văn bản hết sức khách quan và bám sát những điều kiện lịch sử - xã hội cũng như các yếu tố thuộc phong tục tập quán sinh hoạt văn hóa của người Mường.

3.1. Điền dã và sưu tầm tư liệu về Nhạc cụ Xường Mường

Điền dã và sưu tầm tư liệu là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu dân ca Xường. Cần đến các vùng Mường, gặp gỡ các nghệ nhân để thu thập các bài Xường cổ, các thông tin về phong tục tập quán liên quan đến Xường, và các nhạc cụ Xường Mường được sử dụng. Các phương pháp trên được sử dụng tổng hợp và có sự ưu tiên khác nhau cho mỗi phương pháp trong quá trình thực hiện luận án. Phương pháp điền dã thực địa là điều kiện tiên quyết để thực hiện luận án.

3.2. Phân tích Giá trị văn hóa dân ca Xường bằng phương pháp văn học

Phân tích văn học giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về nội dung, ý nghĩa của lời ca Xường, về các biện pháp nghệ thuật được sử dụng, và về tư tưởng, tình cảm của người Mường gửi gắm trong Xường. Ngoài ra, cần chú ý đến bối cảnh lịch sử, xã hội của Xường để có cái nhìn toàn diện hơn. Xường giao duyên của người Mường Thanh Hóa chưa từng được nghiên cứu dưới góc độ thể loại với những giá trị nổi bật của nó, xét trên những bình diện khác nhau.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Dân Ca Xường Trong Giáo Dục

Kết quả nghiên cứu dân ca Xường có thể được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục. Có thể đưa Xường vào chương trình giảng dạy ở các trường học, giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa dân tộc. Ngoài ra, có thể tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ liên quan đến Xường để tăng cường sự quan tâm và yêu thích của thế hệ trẻ đối với di sản văn hóa này. Toàn bộ văn bản xường giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa trong sách " Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa " [42] gồm 91 lời ca được sắp xếp theo trình tự diễn xướng một cuộc xường. Do đặc điểm phần lớn các lời ca đều rất dài, lời đối đáp của đôi bên thường được lặp lại, nên chủ yếu Minh Hiệu chỉ ghi chép lại phần lời của một bên.

4.1. Đưa Dân ca Xường Mường vào chương trình học

Việc đưa dân ca Xường Mường vào chương trình học giúp học sinh tiếp cận với văn hóa dân tộc một cách trực quan và sinh động. Điều này góp phần nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cho thế hệ trẻ. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân làng Muốt, chúng tôi đã có dịp tham dự một cuộc xường giao duyên được tạo dựng lại, đã tiến hành ghi âm lời ca, ghi lại một vài hình ảnh về các nghệ nhân xường, cảm nhận và quan sát không gian văn hóa tinh thần của cuộc xường.

4.2. Tổ chức các hoạt động văn hóa Phong tục tập quán Mường Thanh Hóa

Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ liên quan đến Xường, như các buổi biểu diễn, hội thi, các lớp học hát Xường, giúp tạo ra sân chơi lành mạnh, bổ ích cho mọi người, đồng thời góp phần lan tỏa tình yêu Xường trong cộng đồng. Người Mường ở Thanh Hóa tự hào một cách xứng đáng về nguồn vốn xường của mình, đặc biệt là xường giao duyên (còn gọi là xường Thiết ống). Mỗi người con trai con gái Mường trước đây, khi đến tuổi lớn khôn, nếu không biết xường thì bị coi như là một điều đáng xấu hổ.

V. Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Gắn Với Dân Ca Xường

Nghiên cứu dân ca Xường có thể đóng góp vào việc phát triển du lịch văn hóa ở Thanh Hóa. Tổ chức các tour du lịch khám phá văn hóa Mường, trong đó Xường là một điểm nhấn quan trọng, giúp du khách hiểu rõ hơn về văn hóa Mường. Bên cạnh đó, cần xây dựng các sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa Xường, như các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, các món ăn truyền thống, để thu hút du khách. Cách tiến hành một cuộc hát giao duyên rất sinh động và đa dạng. Có thể hát trong lúc đi nương, đi ruộng, trong tiệc rượu, lúc lấy củi. có thể tổ chức thành phe nhóm, bản làng này sang bản làng khác.

5.1. Xây dựng các tour du lịch khám phá Địa điểm diễn xướng Xường

Các tour du lịch khám phá văn hóa Mường nên tập trung vào các địa điểm diễn xướng Xường, như các nhà sàn, các lễ hội truyền thống, để du khách có thể trải nghiệm trực tiếp văn hóa Xường. Việc này giúp quảng bá văn hóa Mường và tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Xường giao duyên được tổ chức như một sinh hoạt văn hóa có tính chất phong tục. Cuộc xường thường diễn ra khi có khách là con trai hoặc con gái từ làng khác đến chơi.

5.2. Phát triển các sản phẩm du lịch gắn với Người hát Xường Mường

Các sản phẩm du lịch nên gắn với hình ảnh người hát Xường Mường, như các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do các nghệ nhân làm ra, các món ăn truyền thống do người Mường chế biến. Điều này giúp du khách có những trải nghiệm độc đáo và sâu sắc về văn hóa Xường. Có n hững kiểu hát tự do tiện đâu hát đấy, tùy theo trí nhớ và cảm xúc. Cũng có kiểu hát có qui cách chặt chẽ như xường Thiết ống (Thanh Hóa).

VI. Kết Luận Giá Trị Và Tương Lai Của Dân Ca Xường Mường

Nghiên cứu dân ca Xường Mường là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Xường không chỉ là một thể loại văn hóa dân gian độc đáo, mà còn là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy Xường không chỉ là trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có những chính sách, giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy dân ca Xường trong bối cảnh xã hội hiện đại. luận án đã góp thêm tiếng nói vào phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian vốn vẫn đang là một trong những vấn đề còn nhiều v iệc cần tiếp tục giải quyết.

6.1. Đánh giá giá trị của Dân ca Xường

Dân ca Xường có giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử, và nghệ thuật. Nó phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm của người Mường, đồng thời thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc. Luận án được thực hiện một phần từ các tư liệu điều tra thực địa, góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu về xường của người Mường nói chung.

6.2. Hướng tới tương lai của Bảo tồn dân ca Xường

Để bảo tồn dân ca Xường, cần có sự chung tay của toàn xã hội. Cần tăng cường công tác nghiên cứu, sưu tầm, và truyền dạy Xường cho thế hệ trẻ. Đồng thời, cần có những chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, các hoạt động văn hóa liên quan đến Xường, và việc tăng cường công tác nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa này.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ dân ca xường của người mường ở thanh hoá tiếp cận từ góc độ văn học dân gian

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Xường với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường ở Thanh Hóa 1. Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường 1. Vài nét khái quát về Thanh Hóa Thanh Hóa có tọa độ địa lý 19o30' - 20o30' vĩ độ Bắc, 104o - 106030' kinh độ Đông, phía Bắc giáp Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình dài 175km; phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An dài hơn 160km. Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 192km.

Đông mở rộng ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ với đường biển dài hơn 102km [28, tr. Trên bản đồ Việt Nam, Thanh Hóa là vùng đất nối hai đầu Bắc Bộ và Trung Bộ ". bảo xứ Thanh ở địa đầu phía Bắc miền Trung cũng được mà cũng có giáo sư bảo xứ Thanh là sự nối dài của Bắc Bộ chắc cũng đúng, khí hậu giống Bắc Bộ nhiều hơn. Từ núi đến biển, Thanh Hóa không phải là một xứ biệt lập, hay cô lập mà là "mở" theo nhiều hướng" [137, tr.

Với diện tích tự nhiên là 11.168,1 km2, địa bàn Thanh Hóa có thể phân làm hai miền khá rõ rệt: miền núi và miền xuôi. Con sông Mã bắt nguồn từ Điện Biên Phủ, chảy qua Sơn La, Sầm Nưa (Lào) vào Thanh Hóa tại địa phận Mường Lát, dòng sông Mã xuyên suốt hai miền, từ Quan Hóa, Bá Thước, Cẩm Thủy, đổ xuống Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Hà Trung rồi ra biển Đông ở hai cửa sông: Lạch Hới và cửa sông Lèn. Các con sông khác như sông Chu, sông Yên, sông Âm, sông Bưởi. cùng nhiều nhánh sông nhỏ khác đã làm phong phú địa mạo đất Thanh "Có núi rừng, có miền thung lũng trung du, có đồng bằng và có biển.

Cư trú trên đất Thanh Hóa là các tộc người: Kinh, Thái, Khơ Mú, Mường, H'Mông, Dao, Thổ. Theo suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 12 Thanh Hóa luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc, bởi "Xứ Thanh là vị trí địa - chiến lược, địa - chính trị, địa - văn hóa quan trọng của Việt Nam" [137, tr. Một lịch sử dài lâu với nhiều cơ tầng văn hóa chồng lên nhau, thì chắc chắn sẽ là cơ sở để nảy sinh và hình thành một lịch sử văn hóa, văn học dân gian giàu sắc thái xứ Thanh. Miền núi Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường Trên bản đồ hành chính hiện nay, miền núi Thanh Hóa là phần địa dư gồm mười một huyện: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Thường Xuân.

Miền núi Thanh Hóa là khu vực rộng lớn, chiếm 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Độ dốc của địa bàn miền núi Thanh Hóa trên 25 o, có nơi trên 35o như Mường Lát. Độ cao bình quân 1.000m so với mặt nước biển. Vùng này có nhiều dãy núi cao, cao nhất là đỉnh Bù Chó (huyện Thường Xuân) 1.563m, còn lại phần lớn các đỉnh núi cao từ 1.

Với độ dốc kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam - đặc điểm địa hình vùng này là có nhiều ghềnh thác, dòng xiết của con sông Mã và các nhánh sông Chu, sông Lò, sông Luồng, sông Âm, sông Đạt, sông Đằng v. Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì đây là khu vực của vùng rừng nhiệt đới và hệ sinh thái phức tạp. Vì vậy, thảm thực vật, quần thể động vật ở khu vực này rất phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống định cư với sự xuất hiện sớm của nghề nông. Người ta gặp ở đây các thung lũng màu mỡ của vùng Mường Khoòng, Mường ống (Bá Thước), Mường Đanh (Lang Chánh).

Các cánh đồng, các thung lũng trồng lúa cũng là nơi cư dân đông đúc, nơi hình thành nên các mường lớn với các dòng họ nối đời làm Lang đạo. Các nguồn tài liệu khảo cổ học đều chứng tỏ rằng khu vực này (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 13 có con người cư trú từ rất lâu đời. Công cuộc khai quật các di chỉ khảo cổ đồ đá cũ ở hang làng Tráng huyện Bá Thước cho thấy con người có mặt ở vùng đất này đã hàng vạn năm [14, tr. Tộc người Mường có số dân đông nhất trên địa bàn miền núi Thanh Hóa.

Dân số người Mường ở Thanh Hóa qua các thời kỳ như sau: Theo tài liệu thống kê trong cuốn "Người Mường" của Cuisiner.J [15]: Người Mường ở Thanh Hóa trước năm 1945 là 50. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê thì người Mường ở Thanh Hóa năm 1960 là 113.000 người, năm 1996 là: 30 vạn người. Tính đến 1/4/1999, tổng số người Mường ở Thanh Hóa là: 322.869 người Theo thống kê của Ban Dân tộc và Miền núi Thanh Hóa (năm 1999), dân số người Mường phân bố ở các huyện miền núi như sau: Huyện Mường Lát: 231 khẩu = 0,83% (của cư dân toàn huyện) Huyện Quan Hóa: 9.242 khẩu = 22,3% Huyện Quan Sơn: 625 khẩu = 1,97% Huyện Bá Thước: 46.638 khẩu = 47% Huyện Lang Chánh: 12.820 = 37,43% Huyện Ngọc Lặc: 55.581 khẩu = 44% Huyện Thường Xuân: 1.390 khẩu = 1,6% Huyện Cẩm Thủy: 52.550 khẩu = 56,8% Huyện Thạch Thành: 68.387 khẩu = 50,4% Huyện Như Thanh: 17.402 khẩu = 21,9% Huyện Như Xuân: 3.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 14 Ngoài ra người Mường còn cư trú xen kẽ tại 26 xã thuộc các vùng thấp (Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định và Thị xã Bỉm Sơn) với tổng số là: 14. Từ số liệu thống kê trên ta thấy rằng, người Mường ở Thanh Hóa cư trú tập trung đông nhất tại địa bàn thuộc các huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành.

Theo Robequain: ở Thanh Hóa vùng người Mường thường là các cư dân có mặt đã lâu đời. Các chòm lúng ở đây, tuy có người Mường trong nội tỉnh, hoặc ở Ninh Bình, Hòa Bình di cư vào mà ở xen kẽ với nhau hoặc có nơi là người Kinh từ đồng bằng Thanh Hóa chuyển lên lâu đời rồi hóa thành người Mường. Nhưng xét kỹ thì các vùng thung lũng rộng và màu mỡ như Sa Lung, Thiết ống, Hồ Điền, Cổ Lũng, vùng có núi thấp (Ngọc Lặc, Cẩm Thủy) thì người Mường đã ở đây từ rất xưa [95, tr. Một loạt các di chỉ, địa điểm khảo cổ, nơi phát hiện có người Việt thời tối cổ cư trú phần nhiều là các hang động dọc theo triền sông Mã thuộc địa phận của các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Thạch Thành.

Các địa điểm khảo cổ trên địa bàn huyện Bá Thước: Mái Đá Điều, Mái Đá Nước, hang Anh Rồ thuộc xã Hạ Trung; hang làng Tráng I, II, III, IV thuộc xã Lâm Xa, hang làng Cốc thuộc xã Thiết ống.; trên địa bàn huyện Cẩm Thủy: hang Núi Một (xã Cẩm Giang); hang Trống, Mái Đá làng Bon (xã Cẩm Tú) [28, tr. Những dữ liệu trên cho ta thấy rõ, vùng trung lưu sông Mã ngày nay thuộc địa phận các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, trước đây là những vùng đất mà người Mường có mặt rất sớm. Cho đến ngày (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 15 nay, dân số người Mường ở các huyện trên vẫn là đông nhất. Vì vậy, việc chúng tôi chọn địa bàn điền dã thực tế để sưu tầm tìm hiểu xường ở bốn huyện trên là có cơ sở thực tế.

Khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa Người Mường cư trú trên một địa bàn khá rộng, tuy vậy Hòa Bình và miền núi Thanh Hóa vẫn là mảnh đất trên đó người Mường ở tập trung đông nhất so với các vùng Mường khác trên cả nước. Nhìn chung, nếp sống của người Mường là thống nhất, trong quá trình phát triển, văn hóa của họ luôn bảo lưu khá rõ và thành hệ thống các sắc thái đặc trưng tộc người. Việc nhìn nhận văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa sẽ được đặt trong tổng thể văn nghệ dân gian Mường trên cơ sở những nét tương đồng thống nhất là chủ yếu. Có nét nào riêng ở đây thì một phần là do sự chi phối của các yếu tố thuộc điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, phong tục tập quán.

Bởi chúng ta đang nói về một xã hội Mường cổ truyền, mà một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn hóa cổ truyền của các dân tộc Việt Nam là: "Nền văn hóa của xóm, làng, bản, buôn pơlây. Đó là nền văn hóa của những người nông dân trong cộng đồng làng xã, sống chủ yếu trong khuôn khổ của một làng, một bản, một buôn - pơlây. Nền văn hóa đó tự cấp tự túc và khá khép kín. Do đó nền văn hóa mang đậm các sắc thái địa phương" [104, tr.

Trên tinh thần ấy, khi nêu lên những nét khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa, chúng tôi không có ý so sánh với các vùng mường khác, bởi văn nghệ dân gian cũng là một lĩnh vực thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của con người, để chỉ ra những sắc thái riêng biệt, độc đáo trong lĩnh vực văn nghệ dân gian của người Mường Thanh Hóa phải cần đến một công trình lớn. Hơn nữa khi tiếp cận với văn nghệ dân gian của tộc người Mường, chúng ta nhận thấy nét tương đồng, thống nhất là chủ yếu. Và giá trị (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 16 của nó lại chính là nằm ở trong những nét tương đồng ấy. Cho nên một vài điểm nêu ra ở đây chỉ là những nét chấm phá vào một toàn cảnh rộng lớn của văn nghệ dân gian Mường ở xứ Thanh.

Người Mường Thanh Hóa có một tài sản văn nghệ dân gian phong phú với sự hiện diện đa dạng của các thể loại như: Sử thi, xường rang, bộ mẹng, sắc bùa, mo, hát ru, đồng dao, đúm, truyện thơ, cổ tích. Sử thi là một giá trị lớn của nền văn hóa thế giới, bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước được sưu tầm tại Thanh Hóa [3] là niềm tự hào của người Mường nơi đây. Mo, xường rang là nguồn văn nghệ dân gian khá tiêu biểu của người Mường cũng đặc biệt phát triển mạnh trên các vùng Mường xứ Thanh. Quan niệm dân gian cho rằng, sau khi sáng tạo ra đất Mường, bà Dạ Dần đã sáng tạo mo, xường rang rồi gánh đi gieo giống các nơi trên đất Mường.

Trên đường đi, chẳng may bị đứt gánh nên xường rơi xuống không đều, nơi được nhiều, nơi được ít. Người Mường ở Thanh Hóa nói là gánh xường của bà Dạ Dần bị "đứt gánh ở Mường Ai, đứt quai ở Mường ống" nên bao nhiêu xường gốc đều trút xuống cả nơi đây rồi từ đó mới lan truyền đi các vùng Mường khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Dân Ca Xường Của Người Mường Ở Thanh Hóa" mang đến cái nhìn sâu sắc về văn hóa dân ca của người Mường, một trong những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ khám phá nguồn gốc và sự phát triển của dân ca Xường mà còn phân tích các yếu tố văn hóa, ngôn ngữ và ý nghĩa xã hội của nó trong đời sống cộng đồng. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu biết về dân ca không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào việc phát triển bản sắc dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa dân gian và các thể loại nghệ thuật truyền thống khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ nghệ, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về truyền thuyết dân gian tại Nghệ An. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu ca dao dân ca dưới góc nhìn bối cảnh trường hợp ca dao dân ca đồng bằng sông Cửu Long sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng trong thể loại ca dao dân ca ở các vùng miền khác nhau. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc sẽ mang đến cái nhìn về cách mà văn hóa dân gian ảnh hưởng đến các tác phẩm văn học hiện đại. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về văn hóa và nghệ thuật dân gian Việt Nam.