Chương 1 Xường với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường ở Thanh Hóa 1. Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường 1. Vài nét khái quát về Thanh Hóa Thanh Hóa có tọa độ địa lý 19o30' - 20o30' vĩ độ Bắc, 104o - 106030' kinh độ Đông, phía Bắc giáp Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình dài 175km; phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An dài hơn 160km. Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 192km.
Đông mở rộng ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ với đường biển dài hơn 102km [28, tr. Trên bản đồ Việt Nam, Thanh Hóa là vùng đất nối hai đầu Bắc Bộ và Trung Bộ ". bảo xứ Thanh ở địa đầu phía Bắc miền Trung cũng được mà cũng có giáo sư bảo xứ Thanh là sự nối dài của Bắc Bộ chắc cũng đúng, khí hậu giống Bắc Bộ nhiều hơn. Từ núi đến biển, Thanh Hóa không phải là một xứ biệt lập, hay cô lập mà là "mở" theo nhiều hướng" [137, tr.
Với diện tích tự nhiên là 11.168,1 km2, địa bàn Thanh Hóa có thể phân làm hai miền khá rõ rệt: miền núi và miền xuôi. Con sông Mã bắt nguồn từ Điện Biên Phủ, chảy qua Sơn La, Sầm Nưa (Lào) vào Thanh Hóa tại địa phận Mường Lát, dòng sông Mã xuyên suốt hai miền, từ Quan Hóa, Bá Thước, Cẩm Thủy, đổ xuống Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Hà Trung rồi ra biển Đông ở hai cửa sông: Lạch Hới và cửa sông Lèn. Các con sông khác như sông Chu, sông Yên, sông Âm, sông Bưởi. cùng nhiều nhánh sông nhỏ khác đã làm phong phú địa mạo đất Thanh "Có núi rừng, có miền thung lũng trung du, có đồng bằng và có biển.
Cư trú trên đất Thanh Hóa là các tộc người: Kinh, Thái, Khơ Mú, Mường, H'Mông, Dao, Thổ. Theo suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 12 Thanh Hóa luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc, bởi "Xứ Thanh là vị trí địa - chiến lược, địa - chính trị, địa - văn hóa quan trọng của Việt Nam" [137, tr. Một lịch sử dài lâu với nhiều cơ tầng văn hóa chồng lên nhau, thì chắc chắn sẽ là cơ sở để nảy sinh và hình thành một lịch sử văn hóa, văn học dân gian giàu sắc thái xứ Thanh. Miền núi Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường Trên bản đồ hành chính hiện nay, miền núi Thanh Hóa là phần địa dư gồm mười một huyện: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Thường Xuân.
Miền núi Thanh Hóa là khu vực rộng lớn, chiếm 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Độ dốc của địa bàn miền núi Thanh Hóa trên 25 o, có nơi trên 35o như Mường Lát. Độ cao bình quân 1.000m so với mặt nước biển. Vùng này có nhiều dãy núi cao, cao nhất là đỉnh Bù Chó (huyện Thường Xuân) 1.563m, còn lại phần lớn các đỉnh núi cao từ 1.
Với độ dốc kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam - đặc điểm địa hình vùng này là có nhiều ghềnh thác, dòng xiết của con sông Mã và các nhánh sông Chu, sông Lò, sông Luồng, sông Âm, sông Đạt, sông Đằng v. Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì đây là khu vực của vùng rừng nhiệt đới và hệ sinh thái phức tạp. Vì vậy, thảm thực vật, quần thể động vật ở khu vực này rất phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống định cư với sự xuất hiện sớm của nghề nông. Người ta gặp ở đây các thung lũng màu mỡ của vùng Mường Khoòng, Mường ống (Bá Thước), Mường Đanh (Lang Chánh).
Các cánh đồng, các thung lũng trồng lúa cũng là nơi cư dân đông đúc, nơi hình thành nên các mường lớn với các dòng họ nối đời làm Lang đạo. Các nguồn tài liệu khảo cổ học đều chứng tỏ rằng khu vực này (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 13 có con người cư trú từ rất lâu đời. Công cuộc khai quật các di chỉ khảo cổ đồ đá cũ ở hang làng Tráng huyện Bá Thước cho thấy con người có mặt ở vùng đất này đã hàng vạn năm [14, tr. Tộc người Mường có số dân đông nhất trên địa bàn miền núi Thanh Hóa.
Dân số người Mường ở Thanh Hóa qua các thời kỳ như sau: Theo tài liệu thống kê trong cuốn "Người Mường" của Cuisiner.J [15]: Người Mường ở Thanh Hóa trước năm 1945 là 50. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê thì người Mường ở Thanh Hóa năm 1960 là 113.000 người, năm 1996 là: 30 vạn người. Tính đến 1/4/1999, tổng số người Mường ở Thanh Hóa là: 322.869 người Theo thống kê của Ban Dân tộc và Miền núi Thanh Hóa (năm 1999), dân số người Mường phân bố ở các huyện miền núi như sau: Huyện Mường Lát: 231 khẩu = 0,83% (của cư dân toàn huyện) Huyện Quan Hóa: 9.242 khẩu = 22,3% Huyện Quan Sơn: 625 khẩu = 1,97% Huyện Bá Thước: 46.638 khẩu = 47% Huyện Lang Chánh: 12.820 = 37,43% Huyện Ngọc Lặc: 55.581 khẩu = 44% Huyện Thường Xuân: 1.390 khẩu = 1,6% Huyện Cẩm Thủy: 52.550 khẩu = 56,8% Huyện Thạch Thành: 68.387 khẩu = 50,4% Huyện Như Thanh: 17.402 khẩu = 21,9% Huyện Như Xuân: 3.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 14 Ngoài ra người Mường còn cư trú xen kẽ tại 26 xã thuộc các vùng thấp (Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định và Thị xã Bỉm Sơn) với tổng số là: 14. Từ số liệu thống kê trên ta thấy rằng, người Mường ở Thanh Hóa cư trú tập trung đông nhất tại địa bàn thuộc các huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành.
Theo Robequain: ở Thanh Hóa vùng người Mường thường là các cư dân có mặt đã lâu đời. Các chòm lúng ở đây, tuy có người Mường trong nội tỉnh, hoặc ở Ninh Bình, Hòa Bình di cư vào mà ở xen kẽ với nhau hoặc có nơi là người Kinh từ đồng bằng Thanh Hóa chuyển lên lâu đời rồi hóa thành người Mường. Nhưng xét kỹ thì các vùng thung lũng rộng và màu mỡ như Sa Lung, Thiết ống, Hồ Điền, Cổ Lũng, vùng có núi thấp (Ngọc Lặc, Cẩm Thủy) thì người Mường đã ở đây từ rất xưa [95, tr. Một loạt các di chỉ, địa điểm khảo cổ, nơi phát hiện có người Việt thời tối cổ cư trú phần nhiều là các hang động dọc theo triền sông Mã thuộc địa phận của các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Thạch Thành.
Các địa điểm khảo cổ trên địa bàn huyện Bá Thước: Mái Đá Điều, Mái Đá Nước, hang Anh Rồ thuộc xã Hạ Trung; hang làng Tráng I, II, III, IV thuộc xã Lâm Xa, hang làng Cốc thuộc xã Thiết ống.; trên địa bàn huyện Cẩm Thủy: hang Núi Một (xã Cẩm Giang); hang Trống, Mái Đá làng Bon (xã Cẩm Tú) [28, tr. Những dữ liệu trên cho ta thấy rõ, vùng trung lưu sông Mã ngày nay thuộc địa phận các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, trước đây là những vùng đất mà người Mường có mặt rất sớm. Cho đến ngày (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 15 nay, dân số người Mường ở các huyện trên vẫn là đông nhất. Vì vậy, việc chúng tôi chọn địa bàn điền dã thực tế để sưu tầm tìm hiểu xường ở bốn huyện trên là có cơ sở thực tế.
Khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa Người Mường cư trú trên một địa bàn khá rộng, tuy vậy Hòa Bình và miền núi Thanh Hóa vẫn là mảnh đất trên đó người Mường ở tập trung đông nhất so với các vùng Mường khác trên cả nước. Nhìn chung, nếp sống của người Mường là thống nhất, trong quá trình phát triển, văn hóa của họ luôn bảo lưu khá rõ và thành hệ thống các sắc thái đặc trưng tộc người. Việc nhìn nhận văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa sẽ được đặt trong tổng thể văn nghệ dân gian Mường trên cơ sở những nét tương đồng thống nhất là chủ yếu. Có nét nào riêng ở đây thì một phần là do sự chi phối của các yếu tố thuộc điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, phong tục tập quán.
Bởi chúng ta đang nói về một xã hội Mường cổ truyền, mà một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn hóa cổ truyền của các dân tộc Việt Nam là: "Nền văn hóa của xóm, làng, bản, buôn pơlây. Đó là nền văn hóa của những người nông dân trong cộng đồng làng xã, sống chủ yếu trong khuôn khổ của một làng, một bản, một buôn - pơlây. Nền văn hóa đó tự cấp tự túc và khá khép kín. Do đó nền văn hóa mang đậm các sắc thái địa phương" [104, tr.
Trên tinh thần ấy, khi nêu lên những nét khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa, chúng tôi không có ý so sánh với các vùng mường khác, bởi văn nghệ dân gian cũng là một lĩnh vực thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của con người, để chỉ ra những sắc thái riêng biệt, độc đáo trong lĩnh vực văn nghệ dân gian của người Mường Thanh Hóa phải cần đến một công trình lớn. Hơn nữa khi tiếp cận với văn nghệ dân gian của tộc người Mường, chúng ta nhận thấy nét tương đồng, thống nhất là chủ yếu. Và giá trị (LUAN.gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.gian 16 của nó lại chính là nằm ở trong những nét tương đồng ấy. Cho nên một vài điểm nêu ra ở đây chỉ là những nét chấm phá vào một toàn cảnh rộng lớn của văn nghệ dân gian Mường ở xứ Thanh.
Người Mường Thanh Hóa có một tài sản văn nghệ dân gian phong phú với sự hiện diện đa dạng của các thể loại như: Sử thi, xường rang, bộ mẹng, sắc bùa, mo, hát ru, đồng dao, đúm, truyện thơ, cổ tích. Sử thi là một giá trị lớn của nền văn hóa thế giới, bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước được sưu tầm tại Thanh Hóa [3] là niềm tự hào của người Mường nơi đây. Mo, xường rang là nguồn văn nghệ dân gian khá tiêu biểu của người Mường cũng đặc biệt phát triển mạnh trên các vùng Mường xứ Thanh. Quan niệm dân gian cho rằng, sau khi sáng tạo ra đất Mường, bà Dạ Dần đã sáng tạo mo, xường rang rồi gánh đi gieo giống các nơi trên đất Mường.
Trên đường đi, chẳng may bị đứt gánh nên xường rơi xuống không đều, nơi được nhiều, nơi được ít. Người Mường ở Thanh Hóa nói là gánh xường của bà Dạ Dần bị "đứt gánh ở Mường Ai, đứt quai ở Mường ống" nên bao nhiêu xường gốc đều trút xuống cả nơi đây rồi từ đó mới lan truyền đi các vùng Mường khác.