Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Dân ca xường của người Mường ở Thanh Hóa - Tiếp cận từ góc độ văn học dân gian" do nghiên cứu sinh Mai Thị Hồng Hải thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế, bảo vệ năm 2003 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành: Văn học dân gian, Mã số: 5.07).

Trong kho tàng văn nghệ dân gian của tộc người Mường, bên cạnh hai thể loại sử thi (Đẻ đất đẻ nước) và truyện thơ đã có những công trình khoa học khảo cứu, thể loại dân ca xường giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần nhưng chưa có một công trình chuyên luận nào tập trung khảo sát một cách toàn diện. Thực tiễn biến đổi xã hội khiến diễn xướng xường không còn phổ biến trên các vùng Mường xứ Thanh; nguồn tư liệu chủ yếu chỉ còn lưu giữ trong các văn bản sưu tầm và trí nhớ của các nghệ nhân cao tuổi (phần lớn đã ngoài 70 tuổi). Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về phương thức sinh hoạt và nghệ thuật ngôn từ của xường là một yêu cầu cấp thiết nhằm xác định giá trị khoa học và góp phần bảo tồn di sản.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Phục dựng lại môi trường diễn xướng của xường giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa; làm sáng tỏ vai trò, vị trí của xường trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng.
  2. Làm rõ các giá trị nổi bật của xường từ góc độ nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ của sáng tác dân gian, qua đó chỉ ra những nét đặc thù của thể loại.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nguồn di sản xường của người Mường Thanh Hóa trong bối cảnh xã hội đương đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Điền dã, sưu tầm, khảo sát tư liệu thực địa, thẩm định và xác lập hệ thống văn bản xường cùng các hình thức diễn xướng liên quan.
  2. Cắt nghĩa, phân tích các đặc điểm thuộc hình thức sinh hoạt và phương thức thể hiện của xường trên cơ sở tiếp cận đặc điểm loại hình và khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
  3. Đề xuất các định hướng thực tiễn nhằm bảo tồn thể loại dân ca này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đi sâu khảo sát loại xường giao duyên (đặc biệt là xường bậc), bộ phận tiêu biểu và có giá trị nghệ thuật cao nhất trong dân ca Mường.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn miền núi tỉnh Thanh Hóa, tập trung vào bốn huyện có người Mường cư trú lâu đời và đông đảo nhất: Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc và Thạch Thành.
  • Phạm vi tư liệu: Văn bản nghiên cứu chính gồm 91 lời ca xường giao duyên (xường Thiết Ống) trong cuốn Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa của nhà nghiên cứu Minh Hiệu (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999), kết hợp với hệ thống văn bản điền dã do tác giả trực tiếp sưu tầm tại vùng Mường Trám (xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy) để đối chiếu, bổ sung.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử sưu tầm và nghiên cứu xường của người Mường ở Thanh Hóa qua hai chặng đường:

Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Đầu thế kỷ XX, Vương Duy Trinh biên soạn cuốn sách Thanh Hóa quan phong (1903), có ghi chép một số bài ca dao, dân ca của các tộc người thiểu số tại Thanh Hóa nhưng chưa ghi chép bài xường cụ thể nào của người Mường. Nhìn chung, ở giai đoạn này, việc sưu tầm và biên soạn xường Mường Thanh Hóa hầu như chưa được triển khai.

Giai đoạn sau năm 1945 đến thời điểm thực hiện luận án:

  • Năm 1964, Ty Văn hóa Thanh Hóa thành lập đoàn khảo sát văn hóa Mường do ông Phạm Bá Ngọc (Phó Trưởng Ty) làm Trưởng đoàn, chọn vùng Mường Ống (xã Thiết Ống, huyện Bá Thước) làm trọng điểm khảo sát.
  • Nhà nghiên cứu Minh Hiệu bắt đầu sưu tầm xường từ năm 1954, tham gia đoàn khảo sát năm 1964, sau đó biên soạn và xuất bản bộ sách Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa gồm 2 tập (Tập 1: 1970, Tập 2: 1981), được chỉnh lý, bổ sung và tái bản vào năm 1999. Đây là bộ tư liệu có giá trị hệ thống, cung cấp văn bản của một cuộc xường giao duyên hoàn chỉnh (xường Thiết Ống) gồm 91 lời ca.
  • GS.TSKH Phan Đăng Nhật trong công trình Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách mạng Tháng Tám 1945) (1981) đã phân tích phương thức tiến hành cuộc hát giao duyên của người Mường, nhấn mạnh tính chất quy cách chặt chẽ của xường Thiết Ống với hàng trăm bài, chia làm 12 bậc.
  • Các tác giả Trần Thị Liên và Nguyễn Hữu Kiên (1998) khảo sát địa bàn Mường Đủ (xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành), cung cấp các cứ liệu phong tục và chứng tích văn hóa gắn liền với truyện thơ và dân ca Mường.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đó chủ yếu dừng lại ở khâu sưu tầm, khảo tả tư liệu hoặc đưa ra những nhận xét khái quát về mặt phong tục và lề lối sinh hoạt. Luận án của Mai Thị Hồng Hải là công trình chuyên luận đầu tiên tiếp cận xường giao duyên của người Mường Thanh Hóa dưới góc độ thi pháp thể loại và nghệ thuật ngôn từ, khảo sát một cách có hệ thống từ không gian văn hóa, cấu trúc diễn xướng đến quan niệm nghệ thuật, kết cấu và thể thơ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng quan điểm của lý thuyết folklore học hiện đại, nhìn nhận tác phẩm văn học dân gian trong tính chỉnh thể nguyên hợp: không tách rời văn bản ngôn từ khỏi môi trường diễn xướng, không gian sinh hoạt văn hóa và tâm thức cộng đồng tộc người.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  1. Phương pháp điền dã thực địa: Là phương pháp nền tảng. Tác giả trực tiếp học tiếng Mường, khảo sát thực tế tại các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành; gặp gỡ, phỏng vấn sâu các nghệ nhân cao tuổi (cụ Cao Ngọc Rạng, cụ bà Trương Thị Chiên, cụ bà Trương Thị Mán, cụ Bùi Kim Thanh tại làng Muốt, xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy); ghi âm, ghi hình và tham dự một cuộc xường giao duyên được tái hiện trong không gian nhà sàn truyền thống.
  2. Phương pháp hệ thống: Xem xét xường như một hệ thống nghệ thuật toàn vẹn, phân tích mối quan hệ giữa các thành tố: cấu trúc cuộc hát, các chặng, các bậc, lời ca và điệp khúc.
  3. Phương pháp phân tích lôgíc - lịch sử: Đặt thể loại xường trong mối liên hệ với điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử xã hội, thiết chế Lang đạo cổ truyền và đặc điểm cư trú của người Mường ở miền núi Thanh Hóa.
  4. Phương pháp so sánh loại hình: Đối chiếu xường Mường Thanh Hóa với xường Mường Hòa Bình, cũng như so sánh với các hình thức dân ca giao duyên của các tộc người khác (như khắp của người Thái, sli - lượn của người Tày, Nùng) để làm nổi bật nét tương đồng tộc người và đặc trưng khu vực.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Xường với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường ở Thanh Hóa

Chương 1 (từ trang 11 đến trang 49) tập trung trình bày bối cảnh địa lý - nhân văn, diện mạo văn nghệ dân gian và môi trường sinh hoạt của thể loại xường tại Thanh Hóa.

1. Địa bàn cư trú và dân số người Mường tại Thanh Hóa: Thanh Hóa có diện tích 11.168,1 km2, tọa độ 19°30' - 20°30' vĩ độ Bắc, 104° - 106°30' kinh độ Đông. Địa hình miền núi gồm 11 huyện, chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh với độ cao trung bình 1.000m, độ dốc trên 25°, có mạng lưới sông Mã, sông Chu, sông Âm, sông Bưởi chảy qua. Người Mường là tộc người thiểu số có số dân đông nhất trên địa bàn tỉnh. Dân số qua các thời kỳ: trước năm 1945 có khoảng 50.000 người (theo J. Cuisinier); năm 1960 có 113.000 người; năm 1996 có 300.000 người; đến ngày 01/4/1999 đạt 322.869 người.

Bảng phân bố dân số người Mường tại 11 huyện miền núi Thanh Hóa (theo số liệu của Ban Dân tộc và Miền núi Thanh Hóa năm 1999):

STT Huyện miền núi Số lượng người Mường (khẩu) Tỷ lệ trong dân số toàn huyện (%)
1 Thạch Thành 68.387 50,4%
2 Ngọc Lặc 55.581 44,0%
3 Cẩm Thủy 52.550 56,8%
4 Bá Thước 46.638 47,0%
5 Như Thanh 17.402 21,9%
6 Lang Chánh 12.820 37,43%
7 Quan Hóa 9.242 22,3%
8 Như Xuân 3.327 -
9 Thường Xuân 1.390 1,6%
10 Quan Sơn 625 1,97%
11 Mường Lát 231 0,83%

(Ngoài ra còn có 14.776 người Mường cư trú xen kẽ tại 26 xã thuộc các huyện đồng bằng và thị xã Bỉm Sơn).

2. Tổng quan văn nghệ dân gian Mường xứ Thanh: Khu vực này lưu giữ các thể loại: sử thi (Đẻ đất đẻ nước bản Thanh Hóa); mo; truyện thơ (Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương gắn với huyền thoại hoa bông trăng và núi Làn Ai tại xã Ái Thượng, huyện Bá Thước; Nàng Nga - Hai Mối gắn với di tích đền Mẫu và ba cây đa tại Mường Đủ, xã Thành Trực, huyện Thạch Thành; Út Lót - Hồ Liêu); lễ hội Pồn Pôông (diễn ra vào tháng ba âm lịch với cây bông đẽo từ gỗ cây chàng bạng, kết hợp đối đáp giữa ông/bà ậu, máy và người chơi bông); hội chùa Mèo (Mường Khô, xã Điền Trung, Bá Thước), hội chùa Rồng (Mường Phấm, xã Cẩm Thạch, Cẩm Thủy).

3. Khái niệm, phân loại và phương thức sinh hoạt của xường:

  • Khái niệm: Thuật ngữ "xường" (hay "thường") mang nghĩa kép: vừa có nghĩa là "thương" (biểu đạt tình cảm), vừa có nghĩa là "hát" (trong khẩu ngữ Mường cổ dùng từ "ti xướng" - đi xường). Về nghĩa rộng, xường là làn điệu chủ yếu của dân ca Mường; về nghĩa hẹp, xường là thể loại dân ca hát đối đáp giao duyên.
  • Phân biệt xường và rang: Xường chỉ hát trong các dịp vui mừng (mừng nhà mới, đầu xuân, giao duyên), kiêng hát khi gia đình có tang ma hoặc đau ốm. Rang được dùng trong hát kể truyện thơ hoặc trong các nghi thức ứng đồng.
  • Phân loại: Xường gồm các tiểu loại: xường chúc, xường kể, xường sắc bùa, xường giao duyên. Về mặt tổ chức diễn xướng, xường giao duyên gồm hai hình thức: xường tự do và xường bậc.
  • Quy cách sinh hoạt: Diễn ra khi có khách từ làng khác đến thăm; chỉ hát vào ban đêm trong không gian nhà sàn (nữ ngồi gian trong, nam ngồi gian ngoài, ngăn cách bởi bức phên, giao tiếp qua ánh lửa bếp hồng và lời hát); thời điểm hát phổ biến vào mùa xuân và mùa thu, kiêng hát vào tháng năm và tháng sáu âm lịch (mùa vụ bận rộn: "Tháng năm, tháng sáu máu bốc lên trốc / Tháng năm, tháng sáu, tháng máu con rồng").

Bảng mô hình hóa cấu trúc cuộc xường giao duyên (xường bậc) do tác giả luận án xác lập:

Chặng Tên chặng / Bước Bên thực hiện Các lời ca và nội dung chi tiết
Chặng 1 Mở đầu cuộc hát Bên chủ hát trước Gồm 3 lời bắt buộc: Xường chào, Xường mời, Xường nài (nhằm khích lệ, mời gọi khách nhập cuộc).
Chặng 2 Thân bài (Đối đáp chính) - Gồm 2 bước kế tiếp nhau:
Bước 1: Xường dưới áng Khách hát trước, chủ đáp sau Các lời quy ước: Qua cầu (bài Qua cầu cây si bến một, cây si chằng chịt...), Trông mường (ngoái trông lên, trông xuống, trông khắp), Xem mường (Khen cơm ngó rạ, Khen song ngó tre), Nói cung xường, Dần xướng, Gieo trồng (Bắc bồng, Trồng kè), Phát đường (Chơi chợ sắm quạt, Quên quạt, Phát đường).
Bước 2: Xường lên bậc Chủ hát trước, khách đáp sau Gồm 12 bậc bằng tiếng Mường cổ: (1) Cu nhu cóp nhóp; (2) Từng phêng; (3) Dơm dớm; (4) Dằng dắng; (5) Poong soong; (6) Pọt xọt; (7) Pơng sơng; (8) Pợt xợt; (9) Lêu lao; (10) Lêu lôống; (11) Chim trả (tèn tén); (12) Mường Da. Mỗi bậc gồm 3 lời: Lời gọi tên bậc, Lời gài hoa (Lới cái va), Lời bắt tiếng chim (Pặt xiềng chim).
Chặng 3 Kết thúc cuộc hát Cả hai bên đối đáp Gồm các lời: Xường thề, Xường dặn, Xường tạm biệt (trao gửi ước hẹn thủy chung khi trời rạng sáng).

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong xường

Chương 2 (từ trang 50 đến trang 120) tập trung phân tích chiều sâu thi pháp của thể loại xường:

1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong xường (trang 50 - 71):

  • Con người trong xường được nhìn nhận trong tính chỉnh thể với cộng đồng và môi trường tự nhiên. Vẻ đẹp của con người được đo lường qua sự thuần thục trong lao động nông nghiệp (dệt vải, làm nương, phát rẫy) và sự lịch lãm, tài hoa trong ứng xử ngôn từ.
  • Xường tôn vinh giá trị tự do trong tình yêu đôi lứa. Lời ca thể hiện khát vọng vượt qua ranh giới đẳng cấp xã hội và những luật lệ hà khắc của chế độ Lang đạo phong kiến Mường để hướng tới sự gắn kết thủy chung.
  • Con người tinh thần trong xường là con người giàu xúc cảm, coi trọng danh dự bản mường, xem tiếng xường là một phẩm chất văn hóa thiết yếu để khẳng định tư cách trưởng thành trong cộng đồng.

2. Thế giới nghệ thuật trong xường (trang 72 - 120):

  • Không gian nghệ thuật: Không gian xường mang tính lưỡng hợp: vừa là không gian thực tế của bản mường miền núi Thanh Hóa (núi rừng, sông Mã, thung lũng, cầu si, nương ngô, khung cửi), vừa là không gian tâm tưởng mở rộng tới các mường huyền thoại (Mường Ma, Mường Trời, Mường Dưới Đất). Không gian nhà sàn với bếp lửa hồng là trung tâm ngưng đọng cảm xúc và nuôi dưỡng sự cộng cảm lứa đôi.
  • Thời gian nghệ thuật: Sự vận động của thời gian trong xường gắn chặt với thời gian vũ trụ (chu kỳ mùa vụ, các mùa xuân thu trong năm) và thời gian sinh hoạt (đêm hát thâu canh từ chập tối tới lúc rạng đông). Đồng thời, đó là thời gian tâm trạng kéo dài theo những cung bậc đợi chờ, lưu luyến và khát khao gắn bó.
  • Biểu tượng nghệ thuật và thi liệu: Xường xây dựng hệ thống thi liệu dân gian đặc trưng: hoa bông trăng (biểu tượng của tình yêu trinh bạch, thủy chung), dòng sông Mã, cây si nghìn nhánh, tiếng chim tèn tén, con sào phơi chỉ, hạt kè gieo nương. Đặc biệt, xường thần thánh hóa nghệ thuật ca hát thành hình tượng "Con xường" – một linh vật tinh thần biết chọn bạn tình xứng đáng để cất tiếng.

Chương 3: Kết cấu, ngôn ngữ, thể thơ của xường

Chương 3 (từ trang 121 đến trang 184) đi sâu khảo sát các phương tiện hình thức mang tính đặc trưng thể loại của xường giao duyên:

1. Kết cấu của xường (trang 121 - 145):

  • Kết cấu đối đáp luân phiên chủ - khách: Quy định trật tự phát ngôn mang tính nguyên tắc, đảm bảo tính cân đối, nhịp nhàng trong toàn bộ tiến trình diễn xướng.
  • Kết cấu tầng bậc trùng điệp: Mô hình 12 bậc thang tạo nên một chu trình biểu cảm đi từ thăm dò, thử tài, giao cảm đến gắn bó keo sơn và minh thệ.
  • Hiện tượng lặp lại và điệp khúc: Luận án phân tích vai trò của các yếu tố lặp cấu trúc, điệp từ, điệp ngữ. Sự trùng lặp không phải là yếu tố thừa mà là cơ chế cố định hóa mô hình thể loại, giúp người hát duy trì mạch cảm xúc và ghi nhớ hệ thống văn bản diễn xướng dài hàng trăm câu.

2. Ngôn ngữ của xường (trang 146 - 163):

  • Sử dụng phong phú lớp từ vựng Mường cổ phản ánh tư duy hình tượng cụ thể, gắn bó với thế giới tự nhiên.
  • Nghệ thuật so sánh, ví von và ẩn dụ dân gian: Sử dụng các hình ảnh gần gũi trong đời sống thường nhật để biểu đạt các trạng thái tâm lý tinh vi (ví tình yêu như gốc si sâu rễ, sự chia cách như nước trôi đá mòn).
  • Cụm từ mở đầu công thức: Hầu hết các lời xường bắt đầu bằng ngữ cố định "Thương thiết..." được hát ngân dài, đóng vai trò như một mã tín hiệu định hình giọng điệu trữ tình tha thiết của cuộc hát.

3. Thể thơ (trang 164 - 184):

  • Khảo sát các thể thơ dân gian truyền thống trong xường Mường: câu thơ tự do linh hoạt về số lượng âm tiết nhưng tuân thủ nghiêm ngặt nhạc điệu nội tại.
  • Quy tắc gieo vần: Phổ biến là hình thức vần lưng (vần giữa câu sau bắt vào cuối câu trước hoặc vần cách tiếng), tạo nên sự liên kết âm thanh uyển chuyển, liền mạch.
  • Nhịp điệu câu thơ: Nhịp điệu chậm, trầm, sâu lắng, thích ứng với lối hát tự sự - trữ tình không cần dàn nhạc đệm phức tạp.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình chuyên luận đầu tiên khảo sát toàn diện và có hệ thống thể loại xường giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa dưới góc độ khoa học văn học dân gian.
  • Luận án đã mô hình hóa thành công cấu trúc diễn xướng của một cuộc xường giao duyên trọn vẹn gồm 3 chặng (với bước xường dưới áng và bước xường lên bậc 12 bậc chi tiết), khắc phục tính thiếu hệ thống trong cách sắp xếp của các văn bản trước đó.
  • Công trình kết hợp phương pháp nghiên cứu văn bản ngôn từ với việc khảo sát các yếu tố phi văn bản (không gian văn hóa, tâm thức tộc người, môi trường diễn xướng), đóng góp tư liệu và kinh nghiệm vào phương pháp luận nghiên cứu thể loại dân ca các dân tộc thiểu số.

Về mặt thực tiễn:

  • Bổ sung vào kho tàng tư liệu văn học dân gian nguồn văn bản xường điền dã thực địa tại vùng Mường Trám (xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy), ghi âm và ghi chép chân dung các nghệ nhân cao tuổi.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để phục dựng các hình thức sinh hoạt xường truyền thống, góp phần nâng cao ý thức tự hào và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Mường tại Thanh Hóa.

Kiến nghị và giải pháp bảo tồn:

  • Đưa dân ca xường vào các chương trình sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống tại các địa phương miền núi Thanh Hóa.
  • Tổ chức các câu lạc bộ nghệ nhân xường để truyền dạy cho thế hệ trẻ; ghi âm, số hóa các bài xường cổ từ các nghệ nhân cao tuổi nhằm lưu trữ tư liệu lâu dài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào bộ phận xường giao duyên (xường bậc) tại vùng Mường Thanh Hóa; chưa thể mở rộng khảo cứu chi tiết toàn bộ các tiểu loại xường khác (xường chúc, xường kể, xường sắc bùa) cũng như chưa có điều kiện khảo sát thực địa toàn bộ tất cả các vùng Mường ngoài phạm vi tỉnh Thanh Hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa hệ thống xường Mường Thanh Hóa với xường Mường Hòa Bình, Phú Thọ, Ninh Bình; khảo sát sự biến đổi và tiếp biến của dân ca xường trong môi trường đời sống văn hóa đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học văn hóa.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến thi pháp thể loại dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là văn hóa dân gian tộc người Mường.
  • Các cán bộ quản lý văn hóa, bảo tồn di sản tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa và các huyện miền núi trong công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Từ "xường" trong tiếng Mường mang ý nghĩa cụ thể là gì? Trong tiếng Mường, từ "xường" (hay "thường") mang nghĩa kép: nghĩa trong đời sống là "thương" (biểu đạt tình cảm yêu thương, gắn bó), nghĩa trong sinh hoạt văn hóa là "hát" (bắt nguồn từ khẩu ngữ cổ "ti xướng" nghĩa là đi hát). Khi người Mường nói "xường" là biểu đạt hành động hát những lời thương.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa làn điệu "xường" và "rang" trong văn hóa Mường là gì? Về mặt phong tục, xường được sử dụng trong các dịp vui tươi (mừng nhà mới, đầu xuân, hát đối đáp giao duyên) và kiêng kỵ tuyệt đối khi gia đình có chuyện buồn, ốm đau hay tang ma. Ngược lại, rang là làn điệu dùng để hát kể truyện thơ (Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương, Nàng Nga - Hai Mối...) và dùng trong các nghi lễ có sự ứng đồng, giao tiếp tâm linh giữa người trần và cõi âm.

3. Cấu trúc một cuộc xường giao duyên mẫu mực theo mô hình hóa của luận án gồm những chặng nào? Một cuộc xường giao duyên hoàn chỉnh gồm 3 chặng: Chặng 1 là phần mở đầu của bên chủ (Xường chào, Xường mời, Xường nài); Chặng 2 là phần đối đáp chính gồm 2 bước: Xường dưới áng (khách hát trước qua các lời Qua cầu, Trông mường, Xem mường, Gieo trồng, Phát đường) và Xường lên bậc (chủ hát trước qua 12 bậc bằng tiếng Mường cổ); Chặng 3 là phần kết thúc gồm Xường thề, Xường dặn, Xường tạm biệt.

4. Vì sao người Mường xưa kiêng hát xường giao duyên vào tháng năm và tháng sáu âm lịch? Người Mường có câu thành ngữ: "Tháng năm, tháng sáu máu bốc lên trốc / Tháng năm, tháng sáu, tháng máu con rồng". Đây là khoảng thời gian cao điểm của chu kỳ mùa vụ sản xuất nông nghiệp, thời tiết khắc nghiệt, con người bận rộn làm ăn trên nương rẫy nên không tổ chức các sinh hoạt văn hóa văn nghệ cộng đồng. Xường giao duyên chủ yếu nở rộ vào mùa xuân và mùa thu khi thời tiết mát mẻ và người nông dân có thời gian nông nhàn.

Kết luận

Luận án của Mai Thị Hồng Hải đã phục dựng hệ thống và toàn diện bức tranh diễn xướng cùng thi pháp thể loại của dân ca xường Mường tại Thanh Hóa. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã thực địa với tiếp cận thi pháp học folkloric, công trình đã xác lập mô hình 3 chặng của xường giao duyên và phân tích các giá trị nghệ thuật ngôn từ đặc sắc. Đây là tài liệu khoa học có đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số và bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của người Mường xứ Thanh.