Chương 1, người viết giới thuyết về các khái niệm văn hóa, văn hóa dân gian, các thành tố của văn hóa dân gian; chỉ ra mối quan hệ giữa văn học và văn hóa 9 cũng như mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết; giới thiệu về nhà văn Nam Bộ Bình Nguyên Lộc. YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG Trong Chương 2, người viết tập trung nghiên cứu các yếu tố văn hóa dân gian trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc như phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghệ thuật, lễ hội, tri thức và ngữ văn dân gian; khảo sát sự vận dụng cũng như sự sáng tạo, hiệu quả các yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc. YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT Với Chương 3, người viết nghiên cứu vai trò của các yếu tố văn hóa dân gian trong xây dựng nhân vật, không gian văn hóa; vai trò trong tổ chức giọng điệu và kết cấu truyện; sự sáng tạo, hiệu quả trong nghệ thuật vận dụng các yếu tố dân gian của Bình Nguyên Lộc. Ngoài ra, luận văn còn có ba phụ lục.
Bảng phụ lục 1 thống kê các yếu tố văn hóa dân gian dựa trên sự khảo sát tần số và bối cảnh yếu tố văn hóa dân gian được sử dụng. Bảng phụ lục 2 gồm hai bảng thống kê tần số vận dụng các yếu tố văn hóa dân gian trong tác phẩm của nhà văn. Phụ lục 3 là hình ảnh chân dung nhà văn và một số tập truyện, tiểu thuyết tiêu biểu của ông. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ NHÀ VĂN NAM BỘ BÌNH NGUYÊN LỘC 1.
Giới thuyết các khái niệm 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, là nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa có từ lâu đời và là sự kết tinh của những mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, con người với xã hội. Tuy nhiên, những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, văn hóa mới được quan tâm và tiến hành nghiên cứu một cách khoa học.
Từ năm 1952, hai nhà văn hóa bác học Hoa Kì là A.Kluckholn đã thống kê được 164 định nghĩa, khái niệm khác nhau về văn hóa (A. Con số đó hiện nay đã tăng lên khoảng trên 500 định nghĩa. Như vậy, chúng ta có thể thấy quan niệm về văn hóa không phải vấn đề đơn giản và có sức hấp dẫn nhiều thế hệ nghiên cứu. Dựa vào nhiều cách hiểu khác nhau và những đặc trưng của văn hóa, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, người viết chỉ đưa ra một số khái niệm tiêu biểu. Năm 1871 nhà nhân học văn hóa người Anh E. B Taylor (1832- 1917) là người đầu tiên đưa ra một quan niệm khá hoàn chỉnh mang tính “bách khoa toàn thư”. Ông đã liệt kê các sáng tạo của con người về văn hóa.
Ông cho rằng văn hóa là “một tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục, và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội” (Dẫn theo Chu Xuân Diên, 2001). Năm 1970, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đã đưa ra ý kiến bàn luận về văn hóa “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” (Dẫn theo Lê Văn Chưởng, 1999). Cách hiểu thứ hai của ông Federico Mayor làm cho văn hóa trở thành đối tượng đích thực của văn hóa học. Năm 1994, UNESCO tiếp tục đưa ra định nghĩa về văn hóa.
Hiểu theo nghĩa rộng: 11 Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và thể chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” (Dẫn theo Lê Minh Hạnh, 2006). Tuy nhiên, hai cách hiểu đều hướng đến tính đặc trưng của mỗi cộng đồng.
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Phan Ngọc đã thống kê có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và văn minh đó tức là văn hóa”.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 1999). Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa là do con người sáng tạo ra, là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa trở thành nền tảng cho sự phát triển của xã hội loài người. Vì là phương diện rộng của đời sống, văn hóa không có khái niệm duy nhất.
Nó ngày càng được mở rộng khái niệm hoặc hiểu theo 12 khuynh hướng của các nhà nghiên cứu. Xuất phát từ tình hình thực tế nghiên cứu, Chu Xuân Diên đã khái quát văn hóa với những nét cơ bản như : Văn hóa là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng của con người mới có. Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần. Thành tựu của những hoạt động sáng tạo ấy là giá trị văn hóa; các giá trị văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường giáo dục.
Văn hóa mỗi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu về yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một tác giả văn học, người viết chủ yếu đi vào những giá trị thuộc về văn hóa tinh thần, biểu hiện cụ thể ở những thành tố đặc trưng của văn hóa. Khái niệm văn hóa dân gian Văn hóa dân gian chính là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”, “văn hóa cội nguồn của mọi nền văn hóa. Văn hóa dân gian (folklore) là thuật ngữ có nghĩa ghép.
Folk: nhân dân, lore: trí tuệ, trí khôn, tri thức. Văn hóa dân gian trở thành một bộ phận quan trọng của văn hóa, là kho tri thức, trí tuệ được nhân dân lưu giữ và thực hành qua nhiều thế hệ. Thuật ngữ văn hóa dân gian được nhà khoa học người Anh, William J. Thomas đề cập lần đầu tiên trên tạp chí “The Atheneum” năm 1846.
Ngày nay, thuật ngữ này vẫn còn gây tranh cãi về nội hàm của nó. Ở phương Tây, khái niệm folklore được hiểu rất rộng. Từ điển bách khoa của Anh xác định: “Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến, đạo lí, nghi lễ, mê tín của dân gian. Những câu truyện cổ, những bản tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này…, nó bao gồm cả những yếu tố văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến” (Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), 2000).
Bonas Buleys thì lại cho rằng: “Folklore bao gồm những sáng tác truyền thống của dân tộc cả nguyên thủy và văn 13 minh. Những dạng sáng tác này có được bằng cách sử dụng âm thanh và từ ngữ dưới dạng thơ và văn xuôi. Chúng bao gồm cả các tín ngưỡng dân gian hay mê tín, phong tục và hội diễn các điệu múa và các trò chơi” (Dẫn theo GN. Trong khi đó, học giả người Mỹ George Hervey quan niệm “Folklore bao gồm những phương tiện văn học và tri thức của văn hóa được giữ gìn vĩnh viễn chủ yếu bằng truyền miệng: huyền thoại, truyện cổ dân gian và những hình thức khác của văn học truyền miệng truyền thống” (Dẫn theo GN.
Những quan niệm của phương Tây đã nêu lên những cách hiểu khác nhau về văn hóa dân gian. Từ điển bách khoa của Anh định nghĩa tương đối rộng về văn hóa. Trong đó, các nhà nghiên cứu khác đang mới chỉ đề cập folklore như là các sáng tác truyền thống, phương tiện văn học, tri thức văn hóa… Họ chưa đề cập đến bộ phận khác nhau về văn hóa dân gian: lối sống, đạo đức, văn hóa vật thể, kiến trúc… làm nên nét đặc sắc của văn hóa dân gian của các dân tộc. Ở Liên Xô, folklore được hiểu theo hai hướng.
Hướng thứ nhất, folklore được hiểu theo cách như của phương Tây. Hướng thứ hai, folklore được cho rằng về cơ bản là “nghệ thuật ngôn từ”. Ở đây, folklore có thể đồng nhất với văn học truyền miệng. Tuy nhiên, càng về sau này, quan niệm bó hẹp folklore trong nghệ thuật ngôn từ không còn nhiều.
Tổng bách khoa toàn thư Xô Viết xuất bản năm 1974 quan niệm rằng: “Folklore là sáng tác dân gian, hoạt động nghệ thuật của dân gian lao động. Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khấu, múa dân tộc, kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân gian sáng tạo ra và sống trong nhân dân. Folklore đã được giới nghiên cứu mở rộng ra bao gồm những yếu tố như ngôn từ, tạo hình, diễn xướng, phong tục, tín ngưỡng… Các yếu tố gắn kết lại với nhau thành một chỉnh thể nguyên hợp. Ở Việt Nam, văn hóa dân gian là cơ sở, nền tảng rất quan trọng chi phối đời sống văn hóa trên mọi phương diện.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng quan niệm văn hóa dân gian theo cách hiểu rộng. Giáo sư Đinh Gia Khánh, người mở đường ngành văn hóa dân gian ở Việt Nam quan niệm “Văn hóa dân gian gồm toàn bộ văn hóa tinh thần của nhân dân được tiếp nhận dưới giác độ thẩm mĩ” (Đinh Gia Khánh, 2009).