Mở đầu chương một, người tự sự giới thiệu về Hứa Tam Quan và chuyến về thăm quê của anh bang cách kể hết sức khách quan “Hira Tam Quan là công nhân vận chuyển kén tam của nhà máy tơ thành pho, hôm nay ông về quê thăm ông nội .Nứa Tam Quan cẩm tay ông chạm vào mặt mình,”(20. Cách kê chuyện này khiến cho câu chuyện trở nên cụ thé, chân thật. Những chuyện người ké chuyện ké ra là những gi anh ta tận mắt nhìn thấy, nghe thấy. Chính vì vậy nhiều chỗ trong tiểu thuyết người tự sự vừa quan sát vừa ké như một người dẫn chuyện hết sức tài ba có sức lôi cuỗn kỳ lạ đối với người đọc.
Lời dẫn chuyện của người kế chuyện hết sức tự nhiên. Anh ta đóng vai trò là một người kế chuyện “biết tuốt”. Nên những sự việc, nhân vật được ké ra rất chi tiết và đầy đủ. Chúng ta hãy lắng nghe đoạn văn người kê chuyện kế về Hứa Ngọc Lan và Hà Tiểu Dũng: “Trong trái tim Hứa Ngọc Lan không thể bỏ người đàn ông có tên Hà Tiểu Dũng.
Người đàn ông ấy khi nói chuyện hai tay thích cam cổ tay mình, gan như ngày nào anh cũng mim cười đến nhà cô. Cách vài hôm lại xách đến một chai rượu nếp cái. Ngôi với bố cô, vừa uống rượu vừa nói chuyện, thỉnh thoảng cười hi hi. Ở đây, người kể chuyện không xuất hiện trực tiếp mà anh ta có vi trí quan sát ở bên ngoài thế giới nhân vật.
Người đọc không thể biết người kế ấy là ai, có mối quan hệ như thế nào với các nhân vật trong truyện khiến cho chuyện kế được khách quan, thu hút sự chú ý đối với người đọc. Vì thế lời kể mang giọng khách quan của một người đứng bên ngoài câu chuyện chứ không mang giọng chủ quan của nhân vật. Như chúng ta đã biết, truyền thống tự sự tiêu biểu của Trung Quốc là biện pháp “bạch miêu”. Tức kế mộc không tô vẽ.
Trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Dư Hoa cũng đã sử dụng bút pháp tự sự bạch miêu: “Hứa Tam Quan đã bán máu ở bệnh viện Lâm Phố, lại ăn một đĩa gan lợn xào và uống hai lạng rượu nếp cái ở khách sạn Lâm Phó, rồi anh đi trên đường Lâm Phó, gió lạnh mùa đông phả vào mặt anh, rót cả vào cổ anh. Anh bắt dau thay giá lanh. Cách kế này tạo nên sự khách quan cụ thể, chỉ tiết, chính xác, truyền thần làm cho người đọc biết được sự việc xây ra ra sao, nhân vật nghĩ gì, nói gi, làm gì. Có thé thấy người ké ở đây là người “biết tuốt”, ké mọi sự theo cái biết của mình, của người ngoài cuộc, khiến cho người đọc hình dung được một tình cảnh đầy bi dat của Hứa Tam Quan.
Anh biết rang mình đang bán dần hết khí nóng ở trong người, sức lực của minh đang bị sút dân nhưng không còn có cách nào khác bởi mạng sông của con anh 15 đang trông chờ vào anh. Như vậy chính cách kế mộc này đã khiến cho người đọc “Cảm thấy mọi thứ son phần được bỏ ngoài những trang viết, chỉ còn lại một hiện thực đau buốf (30). Cũng như tiêu thuyết truyền thống, người kể chuyện trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu của Dư Hoa đã dùng cụm từ chất van dé dẫn dắt câu chuyện: “Còn lan thứ ba thì sao3.60), khiến cho chí tò md của người doc được khêu gợi đưa người đọc tham gia vào quá trình đồng sáng tạo. Ngoài việc kế thừa truyền thống tự sự của tiểu thuyết cô điển Trung Quốc, người kể chuyện ngôi thứ ba của Dư Hoa trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu còn có sự tìm tòi đổi mới, sáng tạo riêng.
Như chúng ta đã biết, những năm 80 của thế kỷ XX, Du Hoa là một trong những nhà văn chủ yếu của phái Tiên phong luôn có ý thức sáng tạo cái mới rõ rệt và bước đầu đã hình thành phong cách tự sự riêng của mình. Nhưng đến năm 1995, từ tác phẩm Chuyện Hứa Tam Quan bán máu “lý tưởng thẩm mỹ và sách lược tự sự của Dư Hoa có những biến hoá rõ rệt (như trở lại với văn học truyền thông)”(6). Điều này, Ngô Nghĩa Cần cũng đã khăng định “Chuyện Hứa Tam Quan bán máu là một văn bản độc đáo biểu hiện sự chuyển hình từ phương pháp hiện đại sang hiện thực ”(S). Điểm mới của người tự sự ngôi ba của Dư Hoa trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu không phải cách tân hoàn toàn truyền thống mà ở đây tác giả đã từ bỏ cách tự sự quý tộc của phái Tiên phong chủ nghĩa dé trở về với tự sự dân gian.
Những tác phẩm Dư Hoa viết theo phong cách phái Tiên phong xưa kia, chủ thể người kê chuyện - tác giả đứng ra phê phán nên bộc lộ rất rõ cảm xúc của họ còn ở đây người ké chuyện hình như biến mất tác giả thủ tiêu thân phận của mình và dường như trở thành độc giả để lắng nghe, nhiều lúc người kế không hề bộc lộ trưc tiếp những cảm xúc của mình và cũng không hề định hướng cảm xúc cho người đọc, khiến cho sự việc cứ tự nó được bộc lộ như nó vốn có tạo nên một cảm giác sinh động cho câu chuyện. Đoạn văn người dẫn chuyện kế về cảnh ông Phương đến bắt nợ nhà Hứa Tam Quan và những diễn biến tâm trạng của Hứa Tam Quan đã thê hiện khá rõ điều này.ứa Tam Quan nhìn ngôi nhà hai vợ chong tích luỹ trong mười năm bị chất gan hết trên hai xe bò, chong chà chong chành, va vào nhau xing xoảng. Di ra dau ngõ, khi hai xe bò rời khỏi ngõ và đi khuất, nước mắt Hứa Tam Quan cũng tự dưng tuôn trào, anh cúi xuống, ngồi cùng với vợ trên ngưỡng cửa khóc hu hu”(20. 16 Cách tự sự này, Dư Hoa cũng đã tự nhận trong lời nói đầu bản tiếng Trung Văn: “Ở đây có khi tác giả chỉ ngôi chơi.
Bởi vì ngay từ lúc bắt đầu anh đã phát hiện nhân vật hư cấu cũng có tiếng nói như mình, anh nhận thấy nên tôn trọng tiếng nói ấy dé nó tự di tìm câu trả lời trong gió. Thể là tác giả cứ việc ngôi chém chệ rung đài, không còn là kẻ xâm lược trong kề chuyện mà là một người lắng nghe, một người lắng nghe bên bi, kỹ càng, hiểu đời và thông cảm. Anh cố gắng làm như thé, khi kể chuyện, anh muốn bỏ thân phận tác giả của minh, anh cảm thấy minh nên làm một người đọc (20. Trong tác phẩm nhiều lúc người kể chuyện đã ân đi đứng dang sau nhân vật và các sự kiện để kề, bằng cách đây nhân vật ra trước độc giả vì thế trước mắt độc giả không thấy người nói chỉ thay hiện thực được trình bay: “Sau khi ngủ một đêm trong căn nhà trồng không của mình, Hứa Tam Quan cảm thấy không tiếp tục sống như thé này được nữa.
Thế là anh nghĩ đến bán máu. Chỉ can anh di bán máu, anh có thé lấy tiên, xin ông Phương cho chuộc lại bàn của anh, hòm cua anh và tat cả những cái ghé. Trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu người tự sự đã được Dư Hoa lựa chọn trở thành phương tiện đắc lực biểu hiện phẩm chất của nhân vật. Nhà văn rất thông cảm với những băn khoăn, lo lắng chạy vạy của nhân vật về cuộc sống của gia đình.
Song ở những trang viết của mình, cái tôi chủ quan ấy của nhà văn hoàn toàn biến mắt, không còn dấu tích. Dư Hoa đã thuật lại khá đầy đủ về lịch sử và hiện thực cuộc sống ở Trung Quốc. Vì cuộc sống sinh tồn, người Trung Quốc chỉ còn cách duy nhất là bán máu. Việc bán máu diễn ra ở nhiều nơi “Bán máu đã trở thành phương thức sinh tôn của những người nghèo khổ.
xuất hiện hết thôn bán máu này đến thôn bán máu khác ”(20. Nên cuốn tiêu thuyết này “đã khơi gợi lên ký ức của rất nhiều người” (20.6) và gieo vào long người đọc bao sự thương cảm cho số phận con người. Nhưng điều đáng nói ở đây là “không có truyền thống phê phán thời xưa cũng không có sự thương hại bên trên của tự sự quý tộc ”( 5). Nếu như trước đây, tác giả hay phù phép làm cho tác phâm phức tạp, bây giờ tác phẩm trở nên giản di, người doc đã cảm nhận được cách tự sự ấm áp tình người của nhà văn.
Dư Hoa đã chuyền từ tự sự bộc lộ sang tự sự kín đáo, người tự sự ngôi ba hầu như giấu mình rất kín đằng sau suy nghĩ và hành động của nhân vật. Chính vì thế khiến cho người đọc cảm thấy cuộc sống trong tác phẩm như nó tự diễn ra với tất cả tính khách quan không có sự can thiệp của tác giả. Hầu hết các trường đoạn 17 người ké chuyện trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu thường an mình sau văn bản nhưng vẫn có một người chỉ dẫn ngầm dẫn dắt các biến cô của câu chuyện. Song người đọc khó có thé nhận biết được ngôi ba ấy: “Ngôi một lúc anh đứng dậy đi tiếp.
Anh nghĩ đến đường di Thượng Hải còn xa vời vợi. Sự chuyển dịch ngôi kể Trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu chủ thé của người tự sự đã chuyên sang tính chủ thé của nhân vật. Tác giả trao ngòi bút cho nhân vật tự ké và dường như bỏ hết những cái trang sức có tính chất kỹ thuật và dường như không phải làm tiểu thuyết mà viết rất tự nhiên chân thật. Nên nhà nghiên cứu Ngô Nghĩa Cần đã nói “Đọc tiểu thuyết này, chúng ta cảm thấy cái kỹ xảo của không kỹ xảo ”(5).
Trong tiêu thuyết có những lúc tác giả trao ngòi bút cho nhân vật khiến người doc cảm thấy người ké chuyện dường như ké ở ngôi một nhưng thực ra không phải mà là lời trần thuật của tác giả “trượt” sang chủ thể của nhân vật. Nhiều lúc Dư Hoa đã dùng thủ pháp hư hoá người kê chuyện, gần như không có người ké chuyện, nhân vật tự nói, tác giả đứng ngoài nghe và nhìn việc giao đãi. Có người đã nói Chuyện Hứa Tam Quan bán máu như một vở kịch, đôi thoại chi phối tat cả kết cấu, không gian, thời gian tâm lý. Đó là đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại giữa người tự sự và các nhân vật khác, người tự sự với người đọc hàm an.
Thông thường vận dung quá nhiều đối thoại là một điều cắm ky trong tiểu thuyết, bởi nếu không xử lý tốt sẽ gây nên sự cách biệt giữa cốt truyện và tự thuật. Nhưng Dư Hoa đã có sự khéo léo trong việc sử dụng nhiều đối thoại và ông đã tạo nên một sự gắn kết giữa cốt truyện và tự thuật.