phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Giá trị văn hoá của người Cao Lan. Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá người Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra. Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy hơn nữa các giá trị văn hoá người Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay.
6 z Chƣơng 1 GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƢỜI CAO LAN 1. Văn hoá và giá trị văn hoá Văn hoá là sản phẩm của người thông minh (Homosapiens). Cùng với quá trình tiến hoá sinh học và sự sáng tạo không ngừng của con người trong hoạt động thực tiễn, văn hoá ra đời. Thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện sớm trong ngôn ngữ nhân loại.
Từ “văn hoá” bắt nguồn từ chữ La tinh cultus. Culture trong tiếng Anh hoặc kultur trong tiếng Đức có 2 nghĩa: 1. trồng trọt, giữ gìn, chăm sóc; 2. Sau đó, từ nghĩa chăm sóc (cây cối) được mở rộng nghĩa thành chăm sóc, tạo dựng con người.
“Tạo dựng con người” ở đây có nghĩa hoạt động giáo dục để hình thành và phát triển bản chất người. Trong tiếng Hán, “văn hoá” có nghĩa khởi đầu từ chữ “văn”. Theo nghĩa hẹp ban đầu “văn” là nét hoa văn trên đá (vân đá), hoa văn trên da con hổ (vằn con hổ). qua đó người khác nhìn vào vào để nhận biết và phân biệt mình.
Sau này từ “văn hoá” được mở rộng ra với nghĩa là “cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc do giáo hoá mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt” [6, tr. Như vậy, cả quan niệm của phương Đông và phương Tây đều đề cập đến văn hoá như là sản phẩm hoạt động của con người. Văn hoá hướng đến “chăm sóc”, “giáo hoá” nhằm hoàn thiện con người, là cái để phân biệt giữa người với người. Khái niệm “văn hoá” được hình thành trong tư tưởng loài người từ rất sớm nhưng đến thế kỷ XVIII thuật ngữ “văn hoá” mới được đưa vào các tài liệu khoa học.
Cùng với những hoạt động và sản phẩm hoạt động phong phú, đa dạng của con người mà nội hàm của văn hoá được mở rộng ngày càng. Cho đến nay có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Nhiều khoa học đã lấy văn hoá làm đối tượng nghiên cứu. Do mục tiêu và góc độ nghiên 7 z cứu của các khoa học khác nhau mà thuật ngữ “văn hoá” đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Khoa học lịch sử nhấn mạnh quá trình kế thừa truyền thống văn hoá của các thế hệ người. Nhân loại học coi văn hoá là chính bản thân con người. Tâm lí học lại xem văn hoá như là quá trình hình thành thói quen, cách ứng xử của con người để thích ứng với môi trường sống. Để đưa hình thành khái niệm “văn hoá”, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng cần xuất phát từ những điểm quan trọng: “a) văn hoá phải là các giá trị; b) những giá trị phải do con người sáng tạo (phân biệt với cái tự nhiên); c) sự sáng tạo là cả một quá trình lịch sử liên tục; và d) những giá trị đó phải làm thành một hệ thống chặt chẽ” [43, tr.
Từ cơ sở xuất phát như trên, Ông đưa ra định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [43, tr. Với góc tiếp cận văn hoá từ cái nhìn giá trị, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm đã xem văn hoá là cái có giá trị, là thước đo của bản chất người trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người. Mỗi cách tiếp cận của các khoa học về văn hoá đều phản ánh những cách đánh giá khác nhau của mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Triết học tiếp cận văn hoá ở góc độ bao trùm gắn với hoạt động của con người.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không đưa ra định nghĩa văn hoá hay một tác phẩm kinh điển nào bàn riêng về văn hoá. Mác đã nhiều lần so sánh sự khác biệt giữa con người với con vật từ việc ăn thoả mãn cái đói đến hoạt động sản xuất “nhào nặn vật chất” để chỉ ra văn hoá chỉ có ở con người. Trên lập trường duy vật biện chứng, triết học Mác đã xem văn hoá như là sản phẩm hoạt động của con người, là cái mang đặc trưng cho tính người. Mác thừa nhận: con người là một bộ phận của giới tự nhiên.
Nhờ lao động, 8 z con người thoát thai khỏi thế giới động vật để trở thành “thực thể song trùng” thống nhất giữa “thực thể tự nhiên” và “thực thể xã hội”. Trong lao động, con người đã xác lập mối quan hệ bền chặt giữa con người với tự nhiên, con người với con người. Đây là hoạt động có tính cộng đồng của các cá thể, thông qua đó bản chất người được hình thành và hoàn thiện. Từ luận điểm xuất phát này, tác giả nêu lên một vài kết luận về văn hoá như sau: 1.
Văn hoá là sự phát huy năng lực bản chất người Văn hoá là một hiện tượng xã hội chỉ có ở con người được hình thành trong hoạt động thực tiễn. Nguồn gốc của văn hoá gắn liền với sự sáng tạo của con người trong lao động. Bằng hoạt động thực tiễn, con người đã cải biến tự nhiên để tạo ra “tác phẩm” của mình và hiện thực: “Con người nhân đôi mình không về mặt trí tuệ như đã xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực và con người ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” [33, tr. “Tác phẩm” con người tạo ra là giới tự nhiên đã được cải tạo mà thông qua đó, năng lực bản chất người được thể hiện.
Văn hoá là tấm gương phản chiếu trình độ khai thác và cải biến tự nhiên. Với mỗi bước tiến của sản xuất, trình độ văn hoá được nâng lên. Vượt lên sự chi phối của nhu cầu tồn tại bản năng như động vật, con người tạo ra văn hoá - sản phẩm đặc biệt của sản xuất. Con người đã tạo ra thiên nhiên thứ hai và “ngắm nhìn”, nhận biết được năng lực của chính mình.
Khi nói về bản chất người, Mác nhấn mạnh đến tính xã hội của con người. Tính xã hội được xem như là cái vốn có gắn với toàn bộ hoạt động sống của con người và xã hội loài người. Văn hoá không phải được tạo ra bằng hoạt động đơn lẻ của các cá nhân mà được tạo ra có tính xã hội, tính cộng đồng. Văn hoá có tính xã hội được tạo nên từ quan hệ giữa người với 9 z người trong hoạt động sống.
Trong những hoạt động đó, con người xây dựng nên những quy tắc ứng xử, tôn giáo, nghệ thuật, các thiết chế xã hội. mang đậm dấu ấn của cộng đồng. Vì vậy, khi nói, văn hoá thể hiện năng lực bản chất người không phải là cái tồn tại trừu tượng mà có thể nhận thấy năng lực, sức mạnh cải tạo tự nhiên của một cộng đồng dân tộc, giai cấp. Mỗi dân tộc có những nét văn hoá riêng.
Văn hoá trở thành biểu tượng để so sánh, phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Con người sáng tạo ra văn hoá trong hoạt động thực tiễn nên văn hoá cũng có tính lịch sử được hun đúc, tích luỹ và chuyển tiếp qua nhiều thế hệ. Thực tế đời sống xã hội cho thấy, có những giai đoạn lịch sử luôn có 2 hiện tượng vận động ngược chiều nhau. Một mặt, trình độ sản xuất đi lên, nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất tạo năng suất lao động cao hơn kéo theo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần.
Mặt khác, hiện tượng đánh mất đánh mất văn hoá truyền thống hay đối xử giữa người với người có biểu hiện thiếu văn hoá lại xảy ra phổ biến. Vì thế, cần phải xem xét văn hoá không chỉ là sản phẩm của hoạt động sản xuất vật chất mà còn gắn với bản chất người. Văn hoá được xem như thước đo bản chất người của con người và xã hội. Văn hoá là kết quả được kết tinh từ hoạt động sản xuất ra vật chất và tinh thần của con người hướng tới Chân - Thiện - Mĩ.
Bắt đầu đi từ hoạt động thực tiễn sản xuất vật chất để kiến giải nguồn gốc, bản chất của văn hoá, Mác phân biệt hoạt động sản xuất giữa con người với súc vật để chỉ ra văn hoá do con người sáng tạo ra và chỉ có ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt mình với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [31, tr.29] 10 z Con người không chỉ tạo ra các sản phẩm thoả mãn nhu cầu ăn, mặc, ở. mà còn sáng tạo ra các sản phẩm bằng toàn bộ sự “thăng hoa” của tinh thần “theo quy luật của cái đẹp”.
Khi quan niệm văn hoá là sản phẩm của hoạt động con người có thể chia văn hoá thành văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Các giá trị văn hoá tinh thần có thể được thể hiện dưới một hình thức vật chất nào đó. Ngược lại, văn hoá vật chất luôn mang trong nó những giá trị tinh thần. Trong các hoạt động sáng tạo và các sản phẩm của hoạt động sống của con người đã chứa đựng những yếu tố tinh thần, thể hiện khát vọng của con người vươn tới sự hoàn thiện.
Văn hoá là kết quả của lao động mang giá trị thẩm mỹ được sáng tạo không ngừng. Sự phát triển không ngừng của hoạt động sống sẽ làm nảy sinh yêu cầu ngày càng cao về cái đẹp. Bản chất người thể hiện tham vọng thoát khỏi bản năng hoang dã của động vật để hướng đến chuẩn mực của cái đẹp, đó là Chân - Thiện - Mỹ, hay nói cách khác, văn hoá là kết quả kết tinh từ hoạt động sống mang bản chất người thực sự đó là lý tưởng mang đầy tính nhân văn cao cả, vươn đến sự tiến tiến bộ, sự hoàn thiện.