phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận án đƣợc triển khai trong bốn chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề chung 12 Trong chƣơng này, chúng tôi trình bày những vấn đề cơ bản có liên quan đến việc triển khai nghiên cứu đề tài nhƣ: một số lí thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, ngữ vực trong diễn ngôn, liên diễn ngôn; văn hóa, ngôn ngữ học văn hóa; bài chòi, quá trình phát triển của bài chòi và sơ lƣợc về vùng đất, con ngƣời Nam Trung Bộ. Chƣơng 2: Ngữ vực trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ Trƣờng (field), thức (mode) và không khí (tenor) trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ là những nội dung chính của chƣơng 2. Bài chòi là hình thức sinh hoạt cộng đồng, tồn tại trong môi trƣờng diễn xƣớng.
Vì vậy, việc nghiên cứu ngữ vực trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ nhằm làm sáng tỏ những nét riêng, độc đáo của loại hình nghệ thuật dân gian này. Chƣơng 3: Vấn đề liên diễn ngôn trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ Trên cơ sở vận dụng lí thuyết liên diễn ngôn, chúng tôi xác lập cơ chế liên diễn ngôn trong diễn ngôn bài chòi. Sau đó tập trung miêu tả và phân tích diễn ngôn, các hình thức liên diễn ngôn trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ. Chƣơng 4: Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ Ở chƣơng này, thông qua ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa, chúng tôi cũng tiến hành làm sáng tỏ những nét văn hóa đặc sắc của cƣ dân Nam Trung Bộ đƣợc thể hiện trong ngôn ngữ của diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ.
13 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề hữu quan 1. Khái niệm diễn ngôn - diễn ngôn bài chòi Đƣợc đề xƣớng từ những năm 50 và đặc biệt phát triển vào những năm 80 của thế kỉ XX, phân tích diễn ngôn đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có định nghĩa thống nhất giữa các nhà ngôn ngữ học về khái niệm diễn ngôn.
Ngƣời đầu tiên sử dụng thuật ngữ Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) là Z. Harris khi ông đề cập đến trong một loạt bài viết vào năm 1952. Ông đã đề xuất khái niệm diễn ngôn - discourse là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu, và là đối tƣợng của phân tích diễn ngôn. Những bài viết này đã góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu phƣơng diện chức năng của ngôn ngữ, góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản lúc bấy giờ.
Coulthard (1975) cũng đề cập đến thuật ngữ này. Và phải đến công trình Discourse Analysis (1983) của G. Yule thì phân tích diễn ngôn mới đƣợc nghiên cứu đầy đủ. Trong Discourse Analysis, các tác giả trình bày một cách cụ thể những vấn đề về phân tích diễn ngôn nhƣ: khái niệm, phƣơng pháp để phân tích diễn ngôn.
Công trình này đã nghiên cứu ngôn ngữ trong ngữ cảnh giao tiếp, đặt ngƣời nói/ ngƣời viết vào trung tâm quá trình giao tiếp và vì vậy đã đạt đƣợc những thành tựu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ. Barthes (1970) xem diễn ngôn là đối tƣợng của ngành học mà ông đề nghị gọi là Ngôn ngữ học diễn ngôn. Ông viết “… diễn ngôn - tƣơng tự văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng tôi sẽ định nghĩa nó (hãy còn là sơ bộ) nhƣ là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, đƣợc truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nhau nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” (nhƣ trích dẫn ở Diệp Quang Ban, 2009, tr. Khi phân biệt diễn ngôn và văn bản, Widdowson trong Explorations in applied linguistics 2 (1984) cho rằng: “diễn ngôn là một quá trình giao tiếp.
Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể, thông tin đƣợc chuyển tải, các ý định đƣợc làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản” 14 (tr.100); Guy Cook (1989) lại định nghĩa: “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ đƣợc nhận biết là trọn nghĩa, đƣợc hợp nhất lại và có mục đích” (tr. Yule trong Phân tích diễn ngôn (1983) thì lại khẳng định: “diễn ngôn nhƣ một tiến trình” (tr. Crystal trong Introducing Linguistics (1992) cho rằng: “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thƣờng cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu nhƣ một bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” (tr.Foucault, Paul Gee, Nunan, Lyons… cũng có đề cập đến khái niệm diễn ngôn từ những góc nhìn khác nhau. Ở Việt Nam, vấn đề diễn ngôn cũng đã thu hút sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học nhƣ Đỗ Hữu Châu, Trần Ngọc Thêm, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hòa… và cho đến nay vẫn chƣa thống nhất trong cách hiểu thuật ngữ bởi tính chất phức tạp, đa nghĩa của nó.
Từ những khái niệm về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu, chúng tôi thống nhất với quan niệm về diễn ngôn của Widdowson. Diễn ngôn, với tƣ cách là toàn bộ sự kiện giao tiếp (một quá trình giao tiếp) hoàn chỉnh có tính mục đích, thống nhất và có mạch lạc đƣợc ghi nhận lại bằng toàn bộ văn bản. Bên cạnh đó, khái niệm còn nhấn mạnh đến sự tác động của các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với sự hoạt động của ngôn ngữ nhƣ các yếu tố văn hóa, yếu tố dụng học và sự tác động của chúng đối với các chiến lƣợc giao tiếp của ngƣời sử dụng ngôn ngữ. Trên cơ sở nhận thức về diễn ngôn, chúng tôi nhận thấy rằng: Bài chòi là một loại diễn ngôn đa phƣơng thức và đề xuất cách hiểu về diễn ngôn bài chòi nhƣ sau: - Diễn ngôn bài chòi là một sản phẩm sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng dân cƣ vùng Trung Bộ; - Diễn ngôn bài chòi là một phức thể của nhiều hệ thống phức tạp: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ…), cận ngôn ngữ (âm nhạc, làn điệu, tƣơng tác); - Diễn ngôn bài chòi tồn tại trong môi trƣờng diễn xƣớng, có sự tƣơng tác giữa những ngƣời tham gia cuộc chơi (anh/chị hiệu - ngƣời chơi, anh/chị hiệu – anh/chị hiệu, ngƣời chơi - Ban tổ chức…); - Diễn ngôn bài chòi vừa có tính chất cá nhân vừa mang tính chất cộng đồng, vừa kế thừa, ảnh hƣởng các loại hình diễn ngôn khác (ca dao, tục ngữ, tuồng…) vừa có sự sáng tạo làm nên đặc trƣng của diễn ngôn bài chòi.
Liên diễn ngôn Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, mỗi kí hiệu có hai mặt: hình thức âm thanh và ngữ nghĩa. Khi sử dụng trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ không bao giờ có một nội hàm ngữ nghĩa duy nhất. Mỗi ngƣời, trên cơ sở đã hiểu biết kí hiệu ngôn ngữ, có thể sử dụng sáng tạo theo cách riêng của mình để tạo ra những tầng nghĩa mới. Bởi ngôn ngữ không bao giờ ở trạng thái tĩnh mà tùy thuộc vào ngữ cảnh khác nhau nó sẽ thể hiện nội dung khác nhau.
Điều đó có nghĩa là ngôn ngữ luôn luôn vận động và biến đổi. Trên nền nghĩa ban đầu của ngôn ngữ, con ngƣời đã mở rộng, phát triển để lại những dấu ấn cá nhân, cộng đồng. Các diễn ngôn đều sử dụng hệ thống kí hiệu (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) để tạo nghĩa cho diễn ngôn. Diễn ngôn đa phƣơng thức là sự tƣơng tác của nhiều diễn ngôn: diễn ngôn ngôn ngữ, diễn ngôn phi ngôn ngữ và giữa các diễn ngôn có mối quan hệ với nhau, trong đó lấy diễn ngôn ngôn ngữ làm trung tâm.
Vì vậy để hiểu đƣợc diễn ngôn cần có sự kết hợp giữa việc hiểu nghĩa của ngôn ngữ với các yếu tố phi ngôn ngữ. Bài chòi là diễn ngôn đa phƣơng thức (multimodal discourse), bởi bài chòi là tập hợp của nhiều diễn ngôn nhƣ: làn điệu, môi trƣờng, ngôn ngữ, các th bài, phi ngôn ngữ (điệu bộ, nét mặt…), ban tổ chức, anh hiệu, tƣơng tác (ngữ cảnh văn hóa, ngữ cảnh ngôn ngữ)… cùng chịu sự quy định nhất định của mục đích của trò chơi, luật chơi, cách tổ chức chơi. Nhƣ vậy, bên cạnh diễn ngôn ngôn ngữ, bài chòi còn có nhiều loại diễn ngôn cùng song song tồn tại góp phần tạo nên độc đáo, đặc sắc của loại hình nghệ thuật dân gian này. Trong đề tài Diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ dƣới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa, chúng tôi tập trung nghiên cứu diễn ngôn sử dụng phƣơng tiện ngôn ngữ của bài chòi Nam Trung Bộ.
Và bản thân diễn ngôn ngôn ngữ của bài chòi là liên diễn ngôn bởi nó có khả năng dung nạp các loại hình diễn ngôn khác nhƣ: ca dao, tục ngữ. Diễn ngôn ngôn ngữ không thể tồn tại độc lập bởi khi xuất hiện chúng sẽ khơi gợi cho ngƣời đọc, ngƣời nghe về mối liên hệ nhất định với các diễn ngôn xuất hiện trƣớc. Rõ ràng, giữa các diễn ngôn có mối liên hệ với nhau. Mỗi diễn ngôn không ra đời một cách tách biệt mà có liên hệ với các diễn ngôn khác hoặc với thế giới bên ngoài.
Bởi bất kì diễn ngôn nào đƣợc sáng tạo ra luôn là sản phẩm hấp thụ và chuyển đổi của vô số các diễn ngôn khác đi trƣớc hoặc cùng song hành hiện diện mang kí ức tập thể. Kí ức tập thể là những vấn đề liên quan đến kí ức cộng đồng. Theo Halbwachs, kí ức tập thể là “tập hợp thông tin đƣợc tổ chức thành kí ức của hai hay nhiều thành viên của một nhóm đƣợc chia sẻ với nhau. Kí ức tập thể có thể 16 đƣợc chia sẻ, đƣợc tiếp tục và đƣợc kiến tạo bởi những nhóm nhỏ và lớn” (Kosikov, 2008).
Kí ức tập thể không nhất thiết phải là những sự kiện mà cá nhân phải trải nghiệm qua hoặc đƣợc chứng kiến trong cộng đồng bởi nó là một dòng chảy liên tục qua các giai đoạn lịch sử. Kí ức sẽ đƣợc lƣu giữ bằng cách những ngƣời, nhóm đi trƣớc sẽ truyền lại cho thế hệ, nhóm sau. Vì vậy, “kí ức của một xã hội kéo dài bằng kí ức của các nhóm tạo ra nó. Không có căn bệnh hay sự lãnh đạm nào khiến nó quên đi nhiều sự kiện và nhân vật quan trọng trong quá khứ có chăng chỉ là những nhóm giữ kí ức dần biến mất mà thôi” (wikipedia.