Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa" của nghiên cứu sinh Đặng Thị Thanh Hoa (Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Mã số 9229020; do TS. Trần Hoàng và TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh hướng dẫn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2021) là công trình tiên phong tiếp cận nghệ thuật diễn xướng dân gian Bài chòi dưới lăng kính giao thoa giữa phân tích diễn ngôn đa phương thức và ngôn ngữ học văn hóa. Sau khi Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 07/12/2017, việc bảo tồn đòi hỏi một sự chuyển dịch căn bản: từ mô tả âm nhạc - sân khấu học thuần túy sang phân tích cấu trúc ngôn ngữ và cơ chế giải mã ý niệm văn hóa bản địa.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được xác định rõ nét: các công trình trước đây của Tạ Chí Đại Trường (1967), Hoàng Chương và Nguyễn Có (1997), Hoàng Lê (2001), Phan Ngạn (2010), Đinh Thị Hựu và Trương Đình Quang (2012) chủ yếu dừng lại ở góc độ lịch sử, sân khấu học, âm nhạc dân gian hoặc ghi chép sưu tầm văn học dân gian tản mạn. Ngược lại, chưa có công trình nào giải mã một cách hệ thống bản chất ngôn ngữ học của lời hô thai như một hệ thống liên diễn ngôn đa phương thức (interdiscursive and multimodal system).

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Ngữ vực (register) của diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ được cấu trúc và vận hành như thế nào thông qua ba biến số trường (field), thức (mode) và không khí (tenor)?
  2. Cơ chế liên diễn ngôn (interdiscursivity) và tính đa phương thức (multimodality) kiến tạo mối quan hệ giữa từ ngữ định danh, hình vẽ quân bài và lời thai ra sao?
  3. Các ý niệm hóa văn hóa (cultural conceptualizations) về không gian vật chất, không gian tinh thần và nhân sinh quan của cư dân duyên hải Nam Trung Bộ được mã hóa như thế nào trong ngôn ngữ bài chòi?

Khung lý thuyết nền tảng tích hợp ba trụ cột: Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Linguistics) của M.A.K. Halliday (1985, 2004), Lý thuyết Liên diễn ngôn và Đa phương thức của Kress & van Leeuwen (1996, 2001) và Ngôn ngữ học văn hóa (Cultural Linguistics) của Farzad Sharifian (2017) cùng Gary B. Palmer (1996).

Phạm vi khảo sát bao quát 1.491 ngữ liệu diễn ngôn (lời thai) thuộc 44 con bài thuộc 3 pho (Pho Văn, Pho Vạn, Pho Sách) và bộ Yêu tại địa bàn 4 tỉnh/thành phố trọng điểm: Quảng Nam – Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Nguồn ngữ liệu được xác thực qua hai kênh: khối tư liệu điền dã chuyên môn (2002–2008) lưu trữ tại Trường Đại học Quy Nhơn và các đợt điền dã ghi âm trực tiếp, xử lý chuyển ngữ từ khẩu ngữ sang văn tự có bảo lưu ngữ âm địa phương.

Literature Review và Positioning

Nghiên cứu diễn ngôn bài chòi nằm ở giao điểm của ba dòng học thuật chính:

Dòng nghiên cứu lịch sử - văn hóa dân gian và sân khấu truyền thống: Các học giả Tạ Chí Đại Trường (1967) trong Nước non Bình Định, Đoàn Việt Hùng (1987, 2003), và Hoàng Chương, Nguyễn Có (1997) đã đặt nền móng miêu tả nguồn gốc bài chòi từ hoạt động chòi canh bảo vệ mùa màng thời Đào Duy Từ (1571–1634) đến diễn xướng sân khấu trải chiếu. Điểm hạn chế chung là tiếp cận văn bản dân gian như những mảnh ghép rời rạc, thuần túy mang tính tư liệu học.

Dòng nghiên cứu phân tích diễn ngôn và ngữ pháp chức năng tại Việt Nam: Khởi phát từ Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban (1998, 2009), Nguyễn Hòa (2003, 2008), Đỗ Hữu Châu (2006). Đa số công trình tập trung vào diễn ngôn viết, tính liên kết hình thức hoặc ngữ dụng học giao tiếp chuẩn mực, chưa mở rộng sang diễn ngôn nghệ thuật dân gian có tính tương tác trực tiếp và biến thể phương ngữ phức tạp.

Dòng nghiên cứu ngôn ngữ học văn hóa quốc tế: Khởi nguồn từ thuyết tương đối ngôn ngữ học (Linguistic Relativity) của Edward Sapir (1921) và Benjamin Lee Whorf, phát triển đột phá qua công trình của Gary B. Palmer (1996) với Toward a theory of cultural linguistics và Farzad Sharifian (2017) với mô hình tri nhận văn hóa (cultural cognition).

Các cuộc tranh luận học thuật tiêu biểu:

  1. Nguồn gốc và tính nguyên bản: Quan điểm của Đoàn Việt Hùng (1987) khẳng định bài chòi mang "tính cách hoàn toàn Việt Nam, do người Việt nghĩ ra, không hề bị ảnh hưởng ngoại lai", đối thoại với giả thuyết của một số nhà nghiên cứu sân khấu về sự giao thoa với văn hóa Chăm-pa và các trò chơi bài lá Trung Hoa du nhập qua các thương cảng miền Trung.
  2. Bản chất của lời hô thai: Tranh luận giữa việc xem lời thai là "câu đố thuần túy" (Đặng Hoành Loan, 2015) đối lập với nhận định của Phan Ngạn (1993) rằng câu hô bài chòi không phải là câu đố có độ trễ tư duy logic mà là phương tiện phụ họa, dẫn dắt tâm lý hồi hộp nhằm kích thích người chơi nhận diện con bài.

Định vị trong bức tranh nghiên cứu quốc tế: So với nghệ thuật hát kể sử thi Pansori của Hàn Quốc (vốn kết hợp giữa ca từ sori, lời thoại aniri và cử chỉ neoreumsae dưới nhịp trống buk) hay nghệ thuật hát đối đáp dân gian Lăm Lượng của Lào, bài chòi Nam Trung Bộ có tính tương tác cộng đồng mở rộng vượt trội. Lời thai bài chòi không chỉ là một văn bản nghệ thuật tĩnh mà là một "sự kiện giao tiếp đa phương thức" mang tính tương tác cao độ giữa người hô (anh/chị hiệu) và người tiếp nhận (người chơi trên chòi và công chúng thưởng ngoạn).

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và kiểm chứng ba tiền đề lý thuyết quan trọng trong bối cảnh ngôn ngữ học phi phương Tây:

  1. Mở rộng khung phân tích ngữ vực của Halliday: Chứng minh ba thành tố Trường (Field – hoạt động trò chơi, sinh hoạt, đạo lý), Thức (Mode – khẩu ngữ vần vè, thơ lục bát biến thể, làn điệu xàng xê, xuân nữ, cổ bản) và Không khí (Tenor – quan hệ bình đẳng, thân mật, ứng tác tức thời giữa anh hiệu và người chơi) không vận hành độc lập mà thẩm thấu hữu cơ để giải tỏa tính chất cờ bạc sát phạt, chuyển hóa thành sinh hoạt thẩm mỹ dân gian.
  2. Bổ sung cho lý thuyết Ký ức tập thể (Collective Memory) của Maurice Halbwachs (1925) và Thuyết Hồi tưởng (Serial Reproduction) của Frederic Bartlett: Luận án chứng minh người bình dân Nam Trung Bộ tái cấu trúc các văn bản ca dao, tục ngữ và tích truyện cổ (Lưu Bình – Dương Lễ, Thoại Khanh – Châu Tuấn) để kiến tạo những đơn vị diễn ngôn mới thích ứng với thực tiễn xã hội đương thời.
  3. Cụ thể hóa mô hình Ngôn ngữ học văn hóa của Sharifian (2017): Thiết lập mối liên hệ nhân quả giữa các phạm trù từ vựng địa phương với các mô hình tri nhận văn hóa biển, nông nghiệp và dấu ấn lịch sử khẩn hoang phương Nam.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ma trận 3 chiều:

  • Chiều chức năng - cấu trúc: Khảo sát cấu trúc 2 phần của lời thai: (1) Phần dẫn dắt/gợi mở ý niệm và (2) Phần xướng tên định danh con bài.
  • Chiều liên ký hiệu (Intersemiotics): Phân tích sự chuyển dịch mã giữa hình vẽ trực quan trên thẻ bài dó, tên gọi quy ước dân gian và lời hô hát mang tính ẩn dụ.
  • Chiều tri nhận văn hóa: Khai thác cơ chế ánh xạ ngữ nghĩa từ kinh nghiệm thực tiễn (lao động, ẩm thực, phong tục) sang các biểu tượng văn hóa tinh thần.

Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích này áp dụng tối ưu cho các loại hình nghệ thuật dân gian diễn xướng mang tính ứng tác cộng đồng, nơi ngôn từ gắn chặt với không gian văn hóa bản địa và các quy tắc trò chơi truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan hiện thực phê phán kết hợp diễn giải luận (Interpretivism), coi diễn ngôn là sự phản ánh có chủ đích của đời sống văn hóa xã hội. Thiết kế nghiên cứu kết hợp định tính (Qualitative textual and contextual analysis) và định lượng thống kê miêu tả (Descriptive statistical analysis) nhằm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao.

Quy trình nghiên cứu và Ngữ liệu

  • Chiến lược chọn mẫu: Thu thập toàn bộ các biến thể lời thai của 44 con bài thuộc 3 Pho (Văn, Vạn, Sách) và bộ Yêu lưu hành tại Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
  • Quy trình xử lý dữ liệu: Dữ liệu ghi âm điền dã được ký âm, chuyển sang dạng văn tự tiếng Việt có bảo lưu triệt để ngữ âm khẩu ngữ Nam Trung Bộ (ví dụ: thầy/thầy, quăng/quăn, dày/dùm/dụm).
  • Tam giác đạc (Triangulation):
    • Tam giác đạc dữ liệu: Đối chiếu giữa lời thai thu âm trực tiếp tại hội chơi đương đại với tư liệu lưu trữ thành văn từ các công trình nghiên cứu thế kỷ XX và tư liệu điền dã 2002–2008 của Đại học Quy Nhơn.
    • Tam giác đạc lý thuyết: Kết hợp ngữ pháp chức năng, ký hiệu học xã hội và ngôn ngữ học tri nhận văn hóa.
  • Độ tin cậy: Các phân loại từ ngữ khẩu ngữ, từ ngữ địa phương và thể thơ được kiểm định qua phân tích tần số xuất hiện trên tổng số 1.491 đơn vị khảo sát.

Đặc tính dữ liệu và kỹ thuật phân tích

Ngữ liệu 1.491 lời thai được phân tích qua các bảng thống kê tần suất và tỷ lệ phần trăm cụ thể:

  • Thống kê phân loại cấu trúc vần điệu và thể thơ (thể lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát, thể vè 4 chữ, nói lối).
  • Thống kê các lớp từ vựng khẩu ngữ, từ địa phương Nam Trung Bộ, từ láy tượng thanh/tượng hình.
  • Thống kê vị trí và phương thức xuất hiện của "từ ngữ được đánh dấu" (marked words) chỉ tên con bài trong cấu trúc chuỗi phát ngôn (đầu, giữa, hoặc cuối câu thai).
Nhóm dữ liệu phân tích Quy mô ngữ liệu Phương pháp/Kỹ thuật xử lý Tiêu chí phân tích chính
Hệ thống quân bài 44 con bài (3 Pho + Bộ Yêu) Thống kê, phân loại đối chiếu địa phương Danh xưng, biến thể tên gọi, mối quan hệ hình vẽ - từ ngữ
Lời thai (Diễn ngôn) 1.491 văn bản diễn ngôn Phân tích diễn ngôn chức năng (SFL) Trường nghĩa, thức giao tiếp, không khí tương tác
Yếu tố từ vựng - thi pháp Toàn bộ khối ngữ liệu Phân tích định lượng kết hợp miêu tả Từ khẩu ngữ, từ địa phương, thể thơ, luật bằng trắc
Liên văn bản & Ý niệm Khối liên diễn ngôn chọn lọc Phân tích ngữ nghĩa tri nhận (Cultural Linguistics) Dẫn dụng ca dao, tục ngữ, lược đồ không gian, ẩn dụ văn hóa

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án mang lại 5 phát hiện mang tính đột phá về cấu trúc ngôn ngữ và văn hóa:

  1. Cơ chế đa trị và tính tương thích âm - nghĩa trong định danh con bài: Khảo sát chỉ ra tên gọi của 44 con bài không đơn thuần là định danh số học mà gắn với trường liên tưởng phong phú. Mối quan hệ giữa từ ngữ định danh và lời thai vận hành qua 3 phương thức:

    • Đồng nhất vỏ ngữ âm hoàn toàn (chiếm tỷ lệ áp đảo trong các câu thai kết thúc bằng từ khóa).
    • Đồng âm khác nghĩa hoặc chơi chữ đồng âm (ví dụ: con Cửu Điều được dẫn dắt từ hình tượng "khăn điều vắt vai": "Chiều chiều tôi lại nhớ chiều chiều / Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai / Hô là… con Cửu Điều").
    • Biểu trưng hóa phi ngữ âm dựa trên trường liên tưởng ngữ nghĩa (ví dụ: con Ngũ Rún gắn với hình ảnh trào lộng về sự say mê hội hè: "Bài chòi bài chỏi bài choi / Ở nhà con khóc đến lòi rún ra / Rún ra thì kệ rún ra / Phải xem cho hết canh ba mới về").
  2. Cấu trúc ngữ vực đa tầng và chức năng giải tỏa tâm lý:

    • Trường diễn ngôn bao trùm 7 tiểu trường: trò chơi giải trí; đời sống sinh hoạt - lao động; quan hệ gia đình; tình yêu đôi lứa; truyền thống quê hương đất nước; đạo lý làm người; phê phán thói tật xã hội.
    • Thức diễn ngôn duy trì sự tương tác nói - hát ứng khẩu nhịp nhàng trên nền 6 làn điệu dân ca cốt lõi (xuân nữ cổ, xuân nữ mới, xàng xê lụy, xàng xê dựng, cổ bản, hò quảng), sử dụng thể lục bát biến thể linh hoạt để duy trì nhịp điệu.
    • Không khí diễn ngôn thiết lập mối quan hệ bình đẳng tuyệt đối giữa anh/chị hiệu và người chơi, tạo ra một không gian hội hè giải phóng ức chế tâm lý thường nhật.
  3. Hiện tượng tái cấu trúc ký ức tập thể qua cơ chế liên diễn ngôn: Lời thai bài chòi không sao chép nguyên xi ca dao, tục ngữ toàn dân mà "văn bản hóa lại" (re-contextualize) bằng cách ghép nối, thêm thắt các yếu tố thế sự địa phương, tạo nên tính chất vừa quen thuộc vừa bất ngờ cho người nghe.

  4. Ý niệm hóa không gian văn hóa Nam Trung Bộ: Ngôn ngữ bài chòi phản ánh chân thực không gian vật chất (địa hình sông - biển - gò đồi, sản vật địa phương mắm, cá, đỗ, mè) và không gian tinh thần (ý chí kiên cường chống chọi thiên tai bão lũ, tinh thần trượng nghĩa, lối sống bộc trực, thẳng thắn của cư dân miền duyên hải).

  5. Sự phân hóa địa phương trong hệ thống con bài: Bảng phân loại 44 con bài tại các tỉnh cho thấy sự chuyển dịch linh hoạt: Pho Văn (Bánh Hai, Ba Bụng, Tứ Tượng, Ngũ Rún/Ngũ Ruột, Sáu Ghe/Sáu Tiền, Bảy Liễu, Tám Miểng/Đỏ Mỏ, Chín Cu, Chín Gối, Ông Ầm); Pho Vạn (Học Trò/Nhứt Trò, Nhì Bí, Tam Quăng/Tam Quăn, Tứ Móc/Tứ Gióng, Ngũ Trợt, Lục Trạng/Lục Chạng, Bảy Dày/Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa/Ông Thầy, Bạch Tuyết/Bạch Huê); Pho Sách (Nọc Đượng/Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Xách/Sáu Hột, Ngũ Trưa/Năm Dụm, Bảy Sưa/Bảy Thưa, Tám Dây/Tám Dừng, Cửu Điều/Thái Tử, Tứ Cẳng/Ông Hương).

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Minh chứng tính khả dụng của việc tích hợp Ngữ pháp chức năng hệ thống với Ngôn ngữ học văn hóa để giải mã các hiện tượng ngôn ngữ nghệ thuật truyền thống phương Đông.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp quy trình mẫu về thu thập, số hóa, phân loại và phân tích ngữ vực cho các thể loại diễn xướng dân gian có nguy cơ mai một.
  • Về ứng dụng thực tiễn và giáo dục: Cung cấp ngữ liệu chuẩn xác phục vụ việc giảng dạy tích hợp văn học - ngôn ngữ địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn mới.
  • Về chính sách bảo tồn di sản: Đề xuất cơ chế bảo tồn "sống", tức bảo tồn môi trường diễn xướng và năng lực ứng tác ngôn ngữ của nghệ nhân (anh hiệu/chị hiệu) thay vì chỉ bảo tồn văn bản tĩnh trong bảo tàng.

Limitations và Future Research

Hạn chế nghiên cứu:

  1. Phạm vi địa lý chủ yếu tập trung vào 4 tỉnh/thành phố trọng điểm Nam Trung Bộ (Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), chưa mở rộng toàn diện so sánh đối chiếu với vùng Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) về mặt tần số biến thể ngữ âm.
  2. Việc chuyển đổi từ diễn ngôn nói - hát trực tiếp sang văn bản viết phần nào làm suy giảm các yếu tố cận ngôn ngữ (ngữ điệu, cường độ, cao độ âm nhạc, tiếng trống đệm) và các hành vi phi ngôn ngữ (ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ của anh hiệu).
  3. Thiếu công cụ phần mềm xử lý khối liệu ngôn ngữ tự nhiên (Corpus Linguistics software) chuyên dụng cho phương ngữ tiếng Việt cổ để đo lường tự động độ phức tạp cú pháp.

Định hướng nghiên cứu tương lai:

  • Mở rộng xây dựng ngân hàng ngữ liệu số (Digital Spoken Corpus) về bài chòi toàn miền Trung với đầy đủ dữ liệu đa phương thức (video, audio, text annotation).
  • Phân tích đối chiếu xuyên văn hóa giữa Bài chòi Trung Bộ với các hình thức diễn xướng bài lá dân gian ở Đông Nam Á và Đông Á.
  • Ứng dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) để phân tích trường cảm xúc (Sentiment Analysis) trong các biến thể lời thai qua các giai đoạn lịch sử.
  • Đi sâu nghiên cứu biến đổi ngữ dụng học của diễn ngôn bài chòi trong không gian du lịch đương đại (bài chòi phục vụ du khách tại phố cổ Hội An).

Tác động và ảnh hưởng

  • Giá trị học thuật: Công trình tạo khung tham chiếu lý thuyết vững chắc cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Văn hóa học, và Văn học dân gian khi tiếp cận các hiện tượng diễn xướng nghệ thuật truyền thống.
  • Tác động văn hóa - xã hội: Đóng góp trực tiếp vào Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể "Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam" theo cam kết với UNESCO.
  • Tác động ngành du lịch và công nghiệp văn hóa: Chuẩn hóa tư liệu lời thai giúp các đoàn nghệ thuật dân gian, trung tâm văn hóa tại các địa phương (Bình Định, Quảng Nam, Khánh Hòa) nâng cao chất lượng trình diễn phục vụ du lịch di sản.
  • Tác động quốc tế: Giới thiệu mô hình phân tích diễn ngôn bản địa đặc thù của Việt Nam đến cộng đồng ngôn ngữ học quốc tế, khẳng định tính đa dạng văn hóa ngôn ngữ Đông Nam Á.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Thụ hưởng khung phương pháp luận liên ngành kết hợp giữa SFL và Ngôn ngữ học văn hóa để ứng dụng cho các đề tài nghiên cứu diễn ngôn dân gian khác.
  • Giáo viên Ngữ văn phổ thông: Sử dụng các bảng phân loại từ ngữ địa phương, thể thơ và các ngữ liệu lời thai làm tài liệu giảng dạy phần Giáo dục địa phương và Văn học dân gian.
  • Nghệ nhân dân gian và Đạo diễn sân khấu Bài chòi: Tiếp cận hệ thống 1.491 lời thai đã được thẩm định khoa học để làm giàu vốn liếng diễn xướng, nâng cao kỹ năng ứng tác trong các hội chơi.
  • Nhà quản lý văn hóa và Hoạch định chính sách: Có cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy để xây dựng hồ sơ di sản, quy hoạch không gian bảo tồn và tổ chức các liên hoan nghệ thuật bài chòi chuyên nghiệp.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc vận dụng thành công lý thuyết Ngôn ngữ học văn hóa (Cultural Linguistics) của Farzad Sharifian (2017) vào việc giải mã hệ thống lời thai dân gian Việt Nam. Luận án đã chứng minh từ ngữ định danh và lời thai bài chòi chính là "ngân hàng bộ nhớ tập thể" lưu trữ các lược đồ văn hóa (cultural schemas), phạm trù văn hóa (cultural categories) và ẩn dụ ý niệm văn hóa (cultural conceptual metaphors) phản ánh tâm thức thích ứng biển của cư dân Nam Trung Bộ.

2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây là gì?
Trả lời: So với các nghiên cứu mô tả văn học dân gian thuần túy của Tạ Chí Đại Trường (1967) hay Đinh Thị Hựu & Trương Đình Quang (2012), luận án đổi mới căn bản bằng cách tiếp cận "Ngữ vực đa phương thức". Luận án không coi lời thai là văn bản tĩnh mà khảo sát nó trong mối tương tác động cơ hữu giữa 3 thành tố: Trường (hoạt động xã hội), Thức (kênh khẩu ngữ vần vè và âm nhạc chuyên biệt) và Không khí (quan hệ liên nhân bình đẳng, ứng tác giữa anh hiệu và người chơi).

3. Phát hiện nào trong dữ liệu gây bất ngờ nhất về mặt ngôn ngữ học?
Trả lời: Phát hiện về cơ chế "định danh phi logic số học nhưng chặt chẽ về mặt liên tưởng ngữ nghĩa - văn hóa". Điển hình là nhiều con bài có sự phân hóa tên gọi theo địa phương (ví dụ: Nọc Đượng ở Bình Định đổi thành Nhất Nọc ở Phú Yên, Sáu Ghe đổi thành Sáu Tiền, Bảy Dày thành Thất Vung) phản ánh sự kiêng kỵ ngôn ngữ hoặc sự chuyển dịch trọng tâm sinh hoạt kinh tế từ nghề biển sang nghề nông - thương nghiệp ở từng tiểu vùng.

4. Quy trình tái lập (Replication protocol) của nghiên cứu có bảo đảm tính khoa học không?
Trả lời: Quy trình hoàn toàn có thể tái lập nhờ vào phương pháp mã hóa rõ ràng: (1) Thu thập lời thai qua ghi âm thực địa; (2) Ký âm bảo lưu nguyên dạng ngữ âm phương ngữ; (3) Phân loại cấu trúc 2 phần của câu thai; (4) Thống kê tần suất xuất hiện của từ ngữ đánh dấu tên con bài; (5) Đối chiếu chéo giữa 4 địa phương khảo sát.

5. Luận án mở ra chương trình nghiên cứu (Research agenda) 10 năm tới như thế nào?
Trả lời: Mở ra 3 hướng đi dài hạn: (1) Số hóa toàn diện và xây dựng kho ngữ liệu đa phương thức mở (Multimodal Open Corpus) cho bài chòi miền Trung; (2) Nghiên cứu đối chiếu xuyên quốc gia giữa bài chòi với các nghệ thuật tự sự dân gian châu Á; (3) Ứng dụng AI/NLP phân tích sự biến đổi của diễn ngôn dân gian trong thời đại truyền thông số.

Kết luận

  1. Luận án là công trình ngôn ngữ học đầu tiên khảo sát quy mô, toàn diện và hệ thống về diễn ngôn Bài chòi Nam Trung Bộ trên cơ sở khối ngữ liệu thực chứng 1.491 lời thai của 44 con bài.
  2. Xác lập thành công mô hình phân tích liên ngành tích hợp Ngữ pháp chức năng hệ thống (Halliday), Phân tích đa phương thức (Kress & van Leeuwen) và Ngôn ngữ học văn hóa (Sharifian, Palmer).
  3. Chứng minh bản chất của diễn ngôn bài chòi là một "liên diễn ngôn đa phương thức", nơi ngôn từ, âm nhạc, tranh vẽ và hành vi diễn xướng cộng hưởng để tái cấu trúc ký ức tập thể của dân tộc.
  4. Làm sáng tỏ bức tranh văn hóa tinh thần, nhận thức không gian và phẩm chất tâm hồn của con người Nam Trung Bộ thông qua các lớp từ địa phương và thi pháp ứng tác độc đáo.
  5. Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong đời sống xã hội hiện đại.
  6. Mở ra những hướng tiếp cận mới đầy triển vọng cho ngành Ngôn ngữ học văn hóa và Phân tích diễn ngôn ứng dụng tại Việt Nam và khu vực.