Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa" của tác giả Đặng Thị Thanh Hoa (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số: 9229020) được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Hoàng và TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, nghệ thuật bài chòi là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian gắn bó sâu sắc với đời sống của cư dân các tỉnh Trung Bộ kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Ngày 07/12/2017, nghệ thuật bài chòi Trung Bộ Việt Nam đã được tổ chức UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong quá trình phát triển và lan tỏa địa lý, có sự phân hóa rõ nét về không gian văn hóa và phương thức diễn xướng giữa hai khu vực:
- Khu vực Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế): Diễn xướng trong không gian hẹp, quy mô cộng đồng nhỏ, mang tính chất trữ tình, chậm rãi, lời thai chủ yếu là vè, câu đố và ca dao.
- Khu vực Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng vào Bình Thuận): Tổ chức trong không gian mở, mức độ giao lưu và tương tác cộng đồng lớn, nghệ thuật diễn xướng giàu kịch tính, kết hợp nhiều làn điệu chuyên biệt và động tác hình thể.
Nhiều công trình trước đây đã tiếp cận bài chòi ở các khía cạnh lịch sử, nguồn gốc, cách thức tổ chức hội chơi, sân khấu hóa hay âm nhạc dân gian. Tuy nhiên, khía cạnh ngôn ngữ của bài chòi chỉ mới được đề cập một cách khái quát, sơ lược. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này bằng cách khảo sát có hệ thống diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ từ bình diện ngôn ngữ học và ngôn ngữ học văn hóa.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ và những đặc trưng văn hóa - ngôn ngữ được chuyển tải qua lời hô thai trong hội chơi bài chòi.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 4 nội dung:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận và nghiên cứu tổng quan làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
- Thu thập, khảo sát, thống kê ngữ liệu.
- Vận dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn, phân tích ngữ vực (trường, thức, không khí), liên diễn ngôn để miêu tả, phân tích diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ trong hoạt động diễn ngôn và chỉ ra đặc điểm của loại hình diễn ngôn này.
- Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ - văn hóa để phân tích các đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ được thể hiện bằng phương thức ngôn ngữ (lời thai) trong hoạt động hành chức, với quy mô 1.491 ngữ liệu diễn ngôn của 44 con bài.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Khu vực Nam Trung Bộ (tập trung khảo sát các địa bàn: Quảng Nam – Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa).
- Phạm vi tư liệu: Bao gồm 1.491 ngữ liệu lời thai bài chòi thu thập từ nguồn sưu tầm điền dã chuyên môn của sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Quy Nhơn (giai đoạn 2002 – 2008), nguồn tư liệu điền dã trực tiếp bằng máy ghi âm (được văn bản hóa, giữ nguyên các yếu tố ngữ âm khẩu ngữ) và các công trình sưu tầm, biên soạn của các tác giả Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang, Đoàn Việt Hùng, Hoàng Chương, Nguyễn Có, Nguyễn An Pha, Nguyễn Đình Chúc, Huệ Nguyễn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:
Nhóm nghiên cứu về nghệ thuật bài chòi:
- Về nguồn gốc, lịch sử và hình thức hội chơi: Tạ Chí Đại Trường trong bài viết "Bài chòi ở Bình Định" (1967) giới thiệu cách đánh bài chòi, các yếu tố của trò chơi và giả thuyết về thời gian xuất hiện. Thắng trong "Tiến trình văn nghệ miền Nam" (1990) phân tích hình tượng con bài và sự chuyển hóa sang sân khấu dân gian. Hoàng Lê (2001) trong "Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi" gắn sự ra đời của hội bài chòi với hoạt động lập ấp, canh thú rừng của Đào Duy Từ (1571–1634) tại Bình Định. Quách Tấn trong "Nước non Bình Định" (1971) ghi nhận điệu hô bài chòi xuất hiện muộn hơn bản thân trò chơi bài.
- Về tư liệu sưu tầm và phục hồi diễn xướng: Hoàng Chương và Nguyễn Có (1997) với "Bài chòi và dân ca Bình Định", "Bài chòi và dân ca Liên khu 5"; nghệ nhân Phan Ngạn (1993, 2010) với "Sưu tầm, nghiên cứu phục hồi bài chòi dân gian cổ truyền Bình Định"; Nguyễn Kiểm (2004) với "Xuân thất thập"; Nguyễn An Pha (2014) với "Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định"; Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn (2015) với "Dân ca Phú Yên".
- Về âm nhạc bài chòi: Hoàng Lê (1980), Trương Đình Quang (2009), nhà nghiên cứu âm nhạc người Pháp gốc Ba Lan Bouvier với chương "La chanson populaire de l'Annam" trong cuốn "La Rousse musicale".
- Về ngôn ngữ bài chòi: Đoàn Việt Hùng (1987, 2003) nêu tính chất dân gian thuần Việt và ngôn từ bình dân, mộc mạc; Đinh Thị Hựu và Trương Đình Quang (2012) trong "Bài chòi xứ Quảng" khảo sát sơ lược về thể thơ và cấu trúc lời ca.
- Kỷ yếu hội thảo: Hội thảo quốc tế "Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới" (2015), hội thảo về bài chòi tại Quy Nhơn, Nha Trang (1993, 2013, 2014, 2018).
Nhóm nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và ngữ vực:
- Lý thuyết phân tích diễn ngôn quốc tế: Z. Harris (1952), Halliday & Hasan (1976), G. Brown & G. Yule (1983), H.G. Widdowson (1984), Guy Cook (1989), D. Nunan (1993), J. Cutting (2002), R. Jones (2012).
- Ngữ pháp chức năng hệ thống và đa phương thức: M.A.K. Halliday (1985), R. Hasan, G. Kress & T. van Leeuwen (1996, 2001), T. van Leeuwen (1999), A. O'Toole (1994).
- Nghiên cứu diễn ngôn tại Việt Nam: Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban (1998, 2009), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Đỗ Hữu Châu (1998, 2006), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Nguyễn Hòa (2003, 2008), Nguyễn Chí Hòa (2006).
Nhóm nghiên cứu về ngôn ngữ học văn hóa:
- Nền tảng tư tưởng: W. von Humboldt, E. Sapir (1921), B. Whorf (giả thuyết Sapir-Whorf).
- Ngôn ngữ học văn hóa hiện đại: Gary B. Palmer (1996) với "Toward a theory of cultural linguistics" và Farzad Sharifian (2017) với "Cultural Linguistics".
- Tại Việt Nam: Hoàng Tuệ (1996, 2001), Nguyễn Lai (1993), Trần Ngọc Thêm (1993), Nguyễn Văn Độ (2004), Đỗ Hữu Châu (2000), Nguyễn Đức Tồn (2008), Nguyễn Quang (2008), Lê Tùng Hiếu (2012), Lê Đức Luận (2017).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Vận dụng đồng bộ lí thuyết phân tích diễn ngôn đa phương thức, phân tích ngữ vực (trường, thức, không khí), liên diễn ngôn và mô hình phân tích của ngôn ngữ học văn hóa (lược đồ văn hóa, phạm trù văn hóa, ẩn dụ văn hóa) để xử lý toàn diện hệ thống ngữ liệu lời thai bài chòi Nam Trung Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
-
Khái niệm diễn ngôn và diễn ngôn bài chòi: Luận án tiếp thu quan niệm của H.G. Widdowson xem diễn ngôn là toàn bộ quá trình giao tiếp hoàn chỉnh có tính mục đích, thống nhất, được hiện thực hóa qua văn bản và gắn liền với các điều kiện tình huống ngoài ngôn ngữ. Diễn ngôn bài chòi được định nghĩa là một phức thể đa phương thức (kết hợp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, cận ngôn ngữ, âm nhạc, tương tác cộng đồng) tồn tại trong môi trường diễn xướng của cư dân Trung Bộ.
-
Phân tích ngữ vực (Register analysis): Dựa trên lý thuyết của M.A.K. Halliday, ngữ vực được phân tích qua ba thông số ngữ cảnh:
- Trường (Field): Bản chất tương tác xã hội, chủ đề và đề tài được phản ánh trong diễn ngôn bài chòi.
- Thức (Mode): Kênh truyền tải và vai trò của ngôn ngữ (ngôn ngữ nói, tính chất ứng khẩu có vần điệu, từ vựng khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, cấu trúc thể thơ và làn điệu).
- Không khí (Tenor): Mối quan hệ và vai giao tiếp xã hội giữa các bên tham gia (anh/chị hiệu, người chơi, ban tổ chức, công chúng thưởng thức).
-
Lý thuyết liên diễn ngôn (Interdiscourse) và ký ức tập thể: Diễn ngôn không tồn tại độc lập mà là sự giao thoa, tích hợp và tái cấu trúc từ các diễn ngôn có trước. Luận án sử dụng khái niệm ký ức tập thể của M. Halbwachs và thuyết Hồi tưởng của F. Bartlett để giải thích cơ chế dung nạp ca dao, tục ngữ, truyện dân gian, tích tuồng vào lời thai bài chòi.
-
Khung phân tích Ngôn ngữ học văn hóa (Cultural Linguistics): Áp dụng mô hình của Farzad Sharifian (2017) với ba công cụ phân tích trung tâm:
- Lược đồ văn hóa (Cultural schemas): Các cấu trúc tri thức nền tảng của tập thể được chia sẻ trong cộng đồng.
- Phạm trù văn hóa (Cultural categories): Sự phạm trù hóa và định danh các đối tượng, sự kiện theo kinh nghiệm văn hóa.
- Ẩn dụ ý niệm văn hóa (Cultural conceptual metaphors): Các ẩn dụ nhận thức được xây dựng dựa trên nền tảng văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp bốn phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê định lượng danh mục các con bài, phân loại từ vựng khẩu ngữ, từ láy, từ địa phương, thể thơ và các dạng thức đánh dấu con bài.
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả chi tiết các biểu hiện của trường, thức, không khí và đặc điểm văn hóa trong lời hô thai.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Xem xét văn bản trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể của hội chơi dân gian.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức ngôn ngữ học (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng học) với văn hóa học, nhân học và ký hiệu học xã hội.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Ngữ liệu gồm 1.491 diễn ngôn lời thai của 44 con bài, được tập hợp từ 3 nguồn:
- Tư liệu lưu trữ tại phòng Nghiệp vụ Ngữ văn, Trường Đại học Quy Nhơn (thu thập từ các đợt điền dã chuyên môn giai đoạn 2002–2008 tại Bình Định và Khánh Hòa).
- Tư liệu điền dã trực tiếp ghi âm tại các hội bài chòi dân gian ở Nam Trung Bộ, sau đó được chuyển tự sang dạng văn tự có bảo lưu phát âm địa phương.
- Tư liệu từ các công trình khảo cứu, sưu tầm đã xuất bản về bài chòi Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về phân tích diễn ngôn, liên diễn ngôn, ngữ vực, ngôn ngữ học văn hóa và tổng quan về bài chòi Nam Trung Bộ.
Về mặt khái niệm, luận án xác định bài chòi là trò chơi dân gian kết hợp giữa đánh bài, âm nhạc và diễn xướng. Lời hô thai bài chòi gồm hai phần: phần gợi dẫn tên con bài (tạo sự hồi hộp, kéo dài thời gian để người chơi phán đoán) và phần thông báo tên con bài (kết quả chính thức được anh/chị hiệu xướng lên). Quá trình phát triển của bài chòi trải qua các giai đoạn: từ hô tên con bài đơn giản đến đố thai, phát triển thành "bài chòi câu", "bài chòi lớp" (mô phỏng tích truyện), bài chòi trải chiếu và chuyển lên sân khấu ca kịch chuyên nghiệp.
Về không gian địa văn hóa, vùng đất Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh thành ven biển (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), có địa hình hẹp, đồi núi đâm ngang ra biển, khí hậu khắc nghiệt và lịch sử tiếp xúc, cộng cư lâu đời giữa người Việt và người Chăm. Điều này tạo nên nét tâm lý cần cù, kiên cường, cởi mở, phản ánh trực tiếp vào nghệ thuật diễn xướng.
Bộ bài chòi gồm 27 hoặc 30 cặp (một số nơi dùng 33 cặp), chia làm 3 Pho chính (Pho Văn, Pho Vạn, Pho Sách) và bộ Yêu (Lão/Ông Ầm, Thang/Thái tử, Chi/Bạch Huê). Luận án tổng hợp bảng đối chiếu tên gọi con bài giữa các địa phương:
| PHO |
Quảng Nam – Đà Nẵng |
Bình Định |
Phú Yên |
Khánh Hòa |
| Pho Văn |
Bánh Hai |
Bánh Hai |
Tráng Hai |
Bánh Hai |
|
Ba Bụng |
Ba Bụng |
Ba Bụng |
Ba Bụng |
|
Tứ Tượng |
Tứ Tượng |
Tứ Tượng |
Tứ Tượng |
|
Ngũ Rún |
Sáu Ghe |
Ngũ Ruột |
Sáu Ghe |
|
Sáu Tiền |
Bảy Liễu |
Bảy Liễu |
Bảy Liễu |
|
Tám Miểng |
Tám Miểng |
Tám Miểng |
Đỏ Mỏ |
|
Chín Cu |
Chín Cu |
Chín Cu |
Chín Cu |
|
Chín Gối |
Chín Gối |
Chín Gối |
Chín Gối |
|
Ông Ầm |
Ông Ầm |
Ông Ầm |
Ông Ầm |
| Pho Vạn |
Học Trò |
Nhứt Trò |
Nhứt Trò |
Nhứt Trò |
|
Nhì Bí |
Tam Quăng |
Tam Quăng |
Tam Quăng / Tam Quăn |
|
Tứ Móc |
Tứ Móc |
Tứ Móc |
Tứ Gióng |
|
Ngũ Trợt |
Ngũ Trợt |
Ngũ Trợt |
Ngũ Trợt |
|
Lục Trạng |
Lục Chạng |
Lục Chạng |
Lục Chạng |
|
Bảy Dày |
Thất Vung |
Thất Vung |
Thất Vung |
|
Bát Bồng |
Bát Bồng |
Bát Bồng |
Bát Bồng |
|
Ông Thầy |
Cửu Chùa |
Cửu Chùa |
Cửu Chùa |
|
Bạch Tuyết |
Bạch Huê |
Bạch Huê |
Bạch Huê |
| Pho Sách |
Nọc Đượng |
Nhứt Nọc |
Nhứt Nọc |
Nhứt Nọc |
|
Nhì Nghèo |
Nhì Nghèo |
Nhì Nghèo |
Nhì Nghèo |
|
Ba Gà |
Ba Gà |
Ba Gà |
Ba Gà |
|
Sáu Hột |
Tứ Xách |
Tứ Xách |
Tứ Xách |
|
Ngũ Trưa |
Năm Dụm |
Ngũ Dụm |
Năm Dụm |
|
Bảy Sưa |
Bảy Thưa |
Bảy Thưa |
Bảy Thưa |
|
Tám Dây |
Tám Dừng |
Tám Dừng |
Tám Dừng |
|
Thái Tử |
Cửu Điều |
Cửu Điều |
Cửu Điều |
|
Ông Hương |
Tứ Cẳng |
Tứ Cẳng |
Tứ Cẳng |
Chương 2: Ngữ vực trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ
Chương này đi sâu phân tích ba thành tố của ngữ vực trong diễn ngôn bài chòi:
- Trường của diễn ngôn (Field): Thể hiện nội dung tương tác xã hội qua 7 trường đề tài cụ thể:
- Trường trò chơi, phương tiện giải trí: Phản ánh không khí náo nức, say mê của hội chơi mùa xuân.
- Trường đời sống sinh hoạt, lao động: Miêu tả cảnh làm nông, đánh bắt hải sản, buôn bán, sinh hoạt làng quê.
- Trường quan hệ gia đình: Tình cảm vợ chồng, quan hệ mẹ chồng nàng dâu, nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ.
- Trường tình yêu đôi lứa: Lời tỏ tình, hò hẹn, nỗi nhớ nhung, trắc trở duyên tình.
- Trường truyền thống quê hương, đất nước: Lịch sử đấu tranh, danh lam thắng cảnh, sản vật địa phương.
- Trường đạo lí làm người: Lòng hiếu thảo, thủy chung, nhân nghĩa, sự trung thực.
- Trường phê phán thói tật xã hội: Châm biếm thói cờ bạc, lười biếng, trăng hoa, nghiện ngập, thói hư tật xấu.
- Thức của diễn ngôn (Mode):
- Từ vựng khẩu ngữ và từ láy: Sử dụng phong phú lớp từ xưng hô dân dã, trợ từ, tình thái từ và hệ thống từ láy tượng thanh, tượng hình (Bảng 2.1, Bảng 2.2).
- Từ ngữ địa phương: Sử dụng dày đặc phương ngữ Nam Trung Bộ (từ vựng chỉ sự vật, hoạt động, tính chất mang đậm sắc thái vùng miền).
- Thể loại và thể thơ: Thể thơ lục bát và lục bát biến thể chiếm ưu thế tuyệt đối (Bảng 2.3), kết hợp các biến thể tự do để phù hợp với việc ngắt nhịp và hô hát ứng tác.
- Làn điệu bài chòi: 6 điệu thức chính được vận dụng linh hoạt gồm xuân nữ cổ, xuân nữ mới, xàng xê lụy, xàng xê dựng, cổ bản và hò Quảng.
- Không khí của diễn ngôn (Tenor):
- Phân tích mối quan hệ tương tác trực tiếp giữa anh/chị hiệu với người chơi, giữa người chơi với nhau và giữa người diễn xướng với nhạc công.
- Vai trò trung tâm của anh/chị hiệu: Vừa là người dẫn dắt trò chơi, vừa là nghệ nhân trình diễn; sử dụng ngôn ngữ ứng tác linh hoạt, hài hước, tạo sự hồi hộp và duy trì không khí hội hè sôi nổi.
Chương 3: Vấn đề liên diễn ngôn trong diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ
Chương 3 tập trung khảo sát tính đa phương thức và cơ chế liên diễn ngôn:
- Tính đa phương thức và cơ chế tạo lập - tiếp nhận:
- Mối quan hệ ba góc giữa: Hình vẽ trên con bài (kênh thị giác) – Từ ngữ định danh con bài (kênh ngôn ngữ danh xưng) – Diễn ngôn bài chòi/lời thai (kênh âm thanh - diễn xướng).
- Phân tích các trường hợp một con bài có nhiều cách định danh khác nhau tùy địa phương (Bảng 3.1, Bảng 3.2).
- Mối quan hệ giữa từ ngữ định danh con bài và diễn ngôn:
- Cơ chế "đánh dấu" (marking): Lời thai sử dụng từ ngữ được đánh dấu để gợi ý về tên con bài.
- Thống kê tỷ lệ từ ngữ được đánh dấu có cùng hình thức ngữ âm với tên con bài (Bảng 3.3, 3.4).
- Vị trí xuất hiện của từ đánh dấu: Xuất hiện ở cuối câu thơ, giữa câu hoặc đầu câu (Bảng 3.5).
- Hiện tượng sử dụng từ đồng âm nhiều nghĩa (Bảng 3.6) và từ ngữ đánh dấu không cùng hình thức ngữ âm (liên tưởng ngữ nghĩa, trường từ vựng) (Bảng 3.7).
- Các hình thức liên diễn ngôn:
- Dẫn ca dao, tục ngữ: Tái sử dụng nguyên vẹn hoặc cải biến các câu ca dao, tục ngữ truyền thống nhằm tạo điểm tựa tri nhận quen thuộc cho người nghe.
- Dẫn truyện thơ, tích tuồng cổ: Vay mượn cốt truyện, nhân vật từ "Lưu Bình - Dương Lễ", "Thoại Khanh - Châu Tuấn", "Lâm Sanh - Xuân Nương".
- Sự thâm nhập của hiện thực đời thường: Đưa các sự kiện xã hội, tên địa danh, nghề nghiệp đương thời vào lời hô thai một cách ngẫu hứng.
Chương 4: Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ
Vận dụng khung phân tích của Sharifian (2017), chương 4 luận giải các bình diện ý niệm hóa văn hóa:
- Ý niệm hóa văn hóa thông qua định danh con bài:
- Định danh theo con số kết hợp yếu tố định tính (Bảng 4.1): Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Móc, Ngũ Trưa, Sáu Ghe, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa...
- Phân tích các con bài có cùng sở chỉ văn hóa hoặc phản ánh các biểu tượng sinh hoạt (Bảng 4.2).
- Ý niệm hóa không gian vật chất:
- Không gian tự nhiên duyên hải: Hình ảnh biển, đầm, phá, cù lao, gió bão, nắng hạn, các địa danh đặc thù Nam Trung Bộ.
- Không gian nông nghiệp và làng nghề: Cảnh chăn tằm, dệt vải, làm ruộng, đánh bắt cá, ghe thuyền, nón ngựa Gò Găng, chợ phiên.
- Ý niệm hóa không gian tinh thần:
- Triết lý nhân sinh và đạo đức: Tinh thần trượng nghĩa, hiếu học, sự coi trọng tình nghĩa xóm giềng.
- Tâm thức tín ngưỡng và thế giới quan dân gian: Thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, hình tượng chùa chiền.
- Nét tính cách cư dân Nam Trung Bộ: Tính bộc trực, thẳng thắn, lạc quan, giàu tính hài hước và tinh thần vượt khó trước thiên tai khắc nghiệt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Khẳng định tính hiệu quả và phù hợp của việc kết hợp mô hình phân tích ngữ vực (Halliday), lý thuyết liên diễn ngôn và khung phân tích Ngôn ngữ học văn hóa (Sharifian) vào việc nghiên cứu thể loại diễn xướng dân gian truyền thống của Việt Nam.
- Góp phần bổ sung luận cứ khoa học về cơ chế liên diễn ngôn và tính đa phương thức trong các loại hình nghệ thuật tích hợp (ngôn ngữ, âm nhạc, trò chơi, cử chỉ).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống dữ liệu định lượng cụ thể (1.491 ngữ liệu của 44 con bài) về ngôn ngữ diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ.
- Làm rõ đặc trưng từ vựng phương ngữ, ngữ âm khẩu ngữ, cấu trúc lời thai và mối liên hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa bản địa duyên hải Trung Bộ.
- Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã được UNESCO ghi danh.
- Làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập mảng văn học - văn hóa địa phương trong chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tăng cường số hóa, tư liệu hóa hệ thống lời thai bài chòi cổ truyền ở các địa phương nhằm tránh nguy cơ mai một.
- Xây dựng chương trình giáo dục di sản bài chòi trong nhà trường phổ thông tại các tỉnh Nam Trung Bộ thông qua các bài học tích hợp văn hóa địa phương.
- Duy trì không gian diễn xướng hội chơi dân gian tại cộng đồng gắn với hoạt động du lịch văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Do giới hạn về nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát phương tiện ngôn ngữ (lời thai) với 1.491 ngữ liệu của 44 con bài tại một số địa phương trọng điểm (Quảng Nam – Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), chưa thể bao quát toàn bộ lời thai ở tất cả các làng xã thuộc 8 tỉnh thành Nam Trung Bộ.
- Luận án chủ yếu đi sâu vào bình diện ngôn ngữ và ngôn ngữ - văn hóa, chưa đi sâu phân tích kỹ thuật âm nhạc học chuyên sâu hoặc hệ thống cử chỉ, động tác múa của anh/chị hiệu dưới góc độ nhân học hình thể.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối chiếu diễn ngôn bài chòi giữa khu vực Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) và khu vực Nam Trung Bộ để làm rõ sự biến đổi diễn ngôn theo địa lý văn hóa.
- Nghiên cứu so sánh diễn ngôn bài chòi Việt Nam với các loại hình diễn xướng dân gian tương đồng trong khu vực châu Á như Lăm Lượng (Lào) hay Pansori (Hàn Quốc).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Văn học dân gian: Cung cấp khung lý thuyết ứng dụng về ngữ vực, liên diễn ngôn và ngôn ngữ học văn hóa; phương pháp xử lý ngữ liệu diễn xướng dân gian.
- Giảng viên, giáo viên Ngữ văn: Sử dụng tư liệu lời thai và phân tích văn hóa địa phương phục vụ giảng dạy phần Ngữ văn địa phương theo chương trình giáo dục phổ thông.
- Nhà quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác di sản: Cung cấp căn cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn, phục dựng các hội chơi bài chòi truyền thống đúng với bản sắc văn hóa bản địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu ngữ liệu và thuộc bao nhiêu con bài?
Luận án khảo sát tổng cộng 1.491 ngữ liệu diễn ngôn (lời thai) thuộc 44 con bài bài chòi tại khu vực Nam Trung Bộ.
2. Hệ thống con bài bài chòi Nam Trung Bộ được chia thành những Pho nào?
Bộ bài chòi gồm 3 Pho chính: Pho Văn, Pho Vạn, Pho Sách (mỗi Pho gồm 9 cặp con bài) và bộ Yêu gồm 3 cặp: Lão (Ông Ầm), Thang (Thái tử), Chi (Bạch Huê). Tùy quy mô 9 chòi, 10 chòi hay 11 chòi mà hội chơi sử dụng bộ bài 27 cặp, 30 cặp hoặc 33 cặp.
3. Khung phân tích ngữ vực trong luận án gồm những thành tố nào?
Ngữ vực diễn ngôn bài chòi được phân tích qua 3 thành tố của Halliday: Trường (7 trường chủ đề phản ánh đời sống, lao động, gia đình, tình yêu, đạo lý, quê hương, thói tật xã hội), Thức (kênh khẩu ngữ nói, từ ngữ địa phương, thể thơ lục bát/lục bát biến thể, 6 làn điệu âm nhạc) và Không khí (mối quan hệ tương tác giữa anh/chị hiệu, người chơi, ban tổ chức).
4. Khung phân tích Ngôn ngữ học văn hóa của Farzad Sharifian được ứng dụng như thế nào trong luận án?
Luận án ứng dụng 3 công cụ phân tích cốt lõi của Sharifian gồm: Lược đồ văn hóa (cultural schemas), Phạm trù văn hóa (cultural categories) và Ẩn dụ ý niệm văn hóa (cultural conceptual metaphors) để phân tích cách thức cư dân Nam Trung Bộ ý niệm hóa thế giới vật chất và không gian tinh thần thông qua cách định danh và lời thai bài chòi.
Kết luận
Luận án của tác giả Đặng Thị Thanh Hoa đã khảo sát một cách hệ thống diễn ngôn bài chòi Nam Trung Bộ trên cơ sở kết hợp lý thuyết phân tích ngữ vực, liên diễn ngôn và ngôn ngữ học văn hóa. Thông qua việc phân tích 1.491 ngữ liệu lời thai của 44 con bài, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc ngữ vực, cơ chế liên diễn ngôn và các dạng thức ý niệm hóa văn hóa của cư dân miền biển Nam Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho ngành ngôn ngữ học ứng dụng và công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể bài chòi trong đời sống đương đại.