phần mở đầu và kết luận, luận án gồm năm chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Nội dung của chƣơng bao gồm các điểm luận về nữ thần, thực hành nghi lễ, các quan điểm hiện đại trong nghiên cứu ngƣời thực hành nghi lễ; các phát hiện mới về lý thuyết, phƣơng pháp nghiên cứu và xây dựng khung phân tích của luận án. Bối cảnh lịch sử, văn hóa và thờ cúng nữ thần ở Nha Trang Nội dung của chƣơng nêu lên một số nét khái quát về bối cảnh lịch sử, văn hóa của Nha Trang, quá trình di dân hình thành nên các thiết chế thờ cúng tại cộng đồng làng và tứ phủ, sự phát triển kinh tế thƣơng mại và đô thị hóa, từ đó hình thành nên tầng lớp thị dân với những ngành nghề phổ biến nhƣ thƣơng mại, dịch vụ, buôn bán. Từ bối cảnh cộng đồng, chƣơng này xem xét các yếu tố thờ thần linh trong cộng đồng nhƣ cơ cấu điện thần, mô hình thờ cúng, nguồn gốc, đặc điểm và xu hƣớng thờ thần linh; quan niệm thờ cúng nữ thần, tƣơng quan giữa nam thần và nữ thần; sự nổi trội của nữ thần Thiên Y A Na trong cấu trúc đình làng và mối tƣơng quan với các nam thần.
Thờ cúng thần linh của cộng đồng làng là nền tảng quan trọng cho sự hình thành và phát triển các quan niệm thờ cúng và thực hành nghi lễ của ngƣời hầu thiêng. Từ đây, bƣớc đầu khái quát về thờ cúng thần linh của cộng đồng để sáng tỏ việc ứng dụng quan niệm thờ cúng của ngƣời hầu thiêng. Hình thức thờ cúng tứ phủ và hầu thiêng tại Nha Trang Nội dung của chƣơng cung cấp một cái nhìn khái quát về hình thức thờ cúng tứ phủ và hầu thiêng, quá trình hình thành nhóm tứ phủ, hầu thiêng cho đến quan niệm về thần linh và thực hành nghi lễ. Đây là những tiền đề quan trọng để hiểu và đánh giá vị trí của nhóm tứ phủ và hầu thiêng trong bức tranh chung về thờ cúng nữ thần ở Nha Trang.
Hầu thiêng là nhóm thờ cúng phát triển song song với cộng đồng làng, dung hợp với một số quan niệm và cách thức thờ cúng của cộng đồng làng. Tứ phủ xuất hiện muộn hơn nhƣng đã có những ảnh hƣởng và đóng góp nhất định đối với việc kiến tạo quan niệm thờ cúng và thực hành nghi lễ. Bên cạnh nền tảng cộng đồng làng, ngƣời hầu thiêng còn kế thừa và tiếp nhận các quan niệm và thực hành thờ cúng của tứ phủ, từ đó hình thành nên phong cách thực hành mới. Trình diễn nghi lễ và chiến lƣợc thực hành trong đời sống hằng ngày Từ quá trình mô tả thực hành thờ cúng nữ thần tại ba địa điểm là tháp Po Ina Nagar, điện Định Phƣớc, đền Sòng Sơn trong chƣơng 3, cho phép khám phá đặc điểm thực hành nghi lễ, nhằm phát hiện các nghi lễ có tính ƣu thế và nổi trội, nhận biết các xu hƣớng biến đổi thực hành nghi lễ, đóng góp của ngƣời hầu thiêng vào 12 z thực hành nghi lễ tại các địa điểm này.
Đây là cơ sở để tìm hiểu thực hành nghi lễ của ngƣời hầu thiêng trƣớc và sau khi gia nhập vào tứ phủ. Chƣơng này cũng trình bày quá trình vận dụng nghi lễ của tứ phủ và chiến lƣợc sáng tạo tính hiệu nghiệm trong trình diễn của ngƣời hầu thiêng. Thông qua việc phân tích chiến lƣợc trình diễn, có thể xác định lý do, mục đích và động lực chuyển đổi sang tứ phủ của ngƣời hầu thiêng. Nội dung của chƣơng tiếp tục khám phá mục đích, lý do của quá trình chuyển đổi thực hành của ngƣời hầu thiêng nhìn từ chiến lƣợc thực hành hằng ngày, cụ thể là những vấn đề nhƣ sau: Quá trình lan tỏa và mở rộng của tứ phủ tác động đến tính dung hợp trong thực hành và chọn lựa thực hành của ngƣời hầu thiêng; Quá trình chấp nhận thực hành nghi lễ tứ phủ của ngƣời hầu thiêng và lý do chuyển đổi sang tứ phủ; Các chiến lƣợc thực hành của ngƣời hầu thiêng trong phát triển bản thân và hội nhập với tứ phủ.
Chƣơng này cũng so sánh chiến lƣợc thực hành giữa ngƣời hầu thiêng đang chuyển đổi và chƣa chuyển đổi sang tứ phủ nhằm bổ sung, đối chứng và phát hiện các luận điểm mới về vai trò của thực hành nghi lễ trong chuyển đổi. Chiến lƣợc thực hành cũng giúp giải thích quá trình biến đổi và chuyển đổi thực ngƣời hầu thiêng, mối quan hệ giữa chuyển đổi thực hành và quá trình sáng tạo các hiệu ứng của nghi lễ. Bàn luận về tính hiệu nghiệm của nghi lễ trong tƣơng quan với chuyển đổi thực hành Chƣơng 5 tổng kết, đánh giá về đóng góp của khung phân tích tính hiệu nghiệm trong chuyển đổi thực hành. Qua đó, chƣơng này bàn luận về mối quan hệ giữa tính hiệu nghiệm của nghi lễ và chuyển đổi thực hành thông qua động lực, xu hƣớng thực hành, tính kịch của trình diễn và kiểm soát rủi ro.
Cuối cùng, chƣơng 5 gợi mở một số hàm ý xã hội nhƣ tính chiến lƣợc và chủ động của cá nhân, sự hình thành và phát triển của các nhóm xã hội mang dấu ấn tôn giáo tín ngƣỡng. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về nữ thần dưới góc độ thần tích, giao lưu tiếp biến văn hóa, vai trò và giá trị Các nghiên cứu về nữ thần dƣới góc độ giao lƣu tiếp biến văn hóa đã cung cấp các luận điểm về tính dung hợp giữa biểu tƣợng nữ thần của ngƣời Việt và nữ thần của các tộc ngƣời khác dựa trên tính chất tƣơng đồng của các quan niệm về thờ cúng tính nữ, quan điểm phồn thực và nền tảng văn hóa sinh kế lúa nƣớc.
Đầu tiên là cách tiếp cận về nữ thần thông qua thần tích để xác định căn tính tộc ngƣời của nữ thần. Tạ Chí Đại Trƣờng (2006) trong “Thần ngƣời đất Việt” đã có những lý giải hệ thống về nguồn gốc Chăm của một số nữ thần Việt. Nguồn dữ liệu dùng cho những kiến giải này lấy từ các câu chuyện thần thoại, từ đó tác giả khái quát thành các motif truyền thuyết. Nguồn gốc Chăm của thần linh Việt là nguyên cớ sâu xa cho những khám phá về căn tính tộc ngƣời và những diễn ngôn về giao lƣu tiếp biến văn hóa giữa các tộc ngƣời Chăm, Hoa, Khmer với ngƣời Việt.
Khi di cƣ vào các đồng bằng miền Trung và miền Nam, ngƣời Việt không ngần ngại tiếp nhận các hình thức văn hóa của cƣ dân tại chỗ, nhất là thần linh và tập tục thờ cúng của cƣ dân tiền trú để tìm kiếm sự an toàn cho bản thân và đời sống tâm linh (Nguyễn Hữu Hiếu, 2004; Nguyễn Đăng Duy, 1997; Nguyễn Hữu Thông, 2001). Từ đó hình thành nên diễn ngôn về ba biểu tƣợng nữ thần đại diện cho ba vùng miền nhƣ Liễu Hạnh (miền Bắc), Thiên Y A Na (miền Trung) và Bà Chúa Xứ (miền Nam). Nữ thần quan trọng của cƣ dân miền Trung là Thiên Y A Na nhƣ một biểu tƣợng đáp ứng nhu cầu tâm thức và hiện sinh. Liên quan đến căn tính tộc ngƣời của nữ thần, dƣới góc nhìn về tính nội tại, gồm có xu hƣớng đề cao tính “thuần Việt” của đạo mẫu và xu hƣớng gắn kết các giải thích về nguồn gốc ngoại lai của nữ thần.
Về vấn đề thờ nữ thần tại miền 14 z Trung, Nguyễn Hữu Thông (2001) với nghiên cứu “Tín ngƣỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam” đã giải thích về hệ thống thần linh, cơ sở thờ tự và văn chầu tại Huế. Ngoài những vấn đề trên, đóng góp quan trọng của Nguyễn Hữu Thông là tập hợp, hệ thống hóa và phân tích huyền thoại Thiên Y A Na và mối quan hệ với các nữ thần của tộc ngƣời khác, nhất là làm rõ tính địa phƣơng trong thờ cúng thần linh của cộng đồng cƣ dân tại miền Trung. Xu hƣớng thứ hai đề cao tính “địa phƣơng” của nữ thần trong các hóa thân của Thiên Y A Na. Chẳng hạn, những nữ thần có gốc Chăm nhƣ bà Bô Bô, bà Thu Bồn ở xứ Quảng (Nguyễn Xuân Hƣơng, 2009).
Các nghiên cứu về nữ thần với mức độ đa dạng phong phú nhƣ hiện nay đã giúp ích rất lớn cho việc nhận diện nữ thần trên các phƣơng diện thần tích, tính thống nhất và tính địa phƣơng. Liên quan trực tiếp đến thờ mẫu tại Khánh Hòa, Nguyễn Văn Bốn (2010) đã công bố sách “Văn hóa tín ngƣỡng thờ mẫu ở Khánh Hòa” cùng một số bài viết khác về chủ đề này và bổ sung thêm nhận thức mới trong các năm 2015 và 2016. Công trình về văn hóa tín ngƣỡng thờ mẫu trên trình bày một cách tổng hợp các phát hiện về con ngƣời, vùng đất, lịch sử; di tích thờ mẫu; nghi lễ thờ mẫu; ý nghĩa và bảo tồn thờ mẫu ở Khánh Hòa. Tác giả tiếp cận chủ thể văn hóa, thời gian và không gian văn hóa để phân tích các phát hiện về mẫu thần, di tích và lễ hội thờ cúng.
Công trình này gợi mở một số quan điểm bình luận về giao lƣu văn hóa, sự gắn kết cộng đồng, trao truyền văn hóa, nhu cầu sáng tạo và hƣởng thụ văn, từ đó đề xuất bảo tồn các giá trị văn hóa trong thờ mẫu và phát triển du lịch liên quan tới thờ mẫu. Tác giả cũng trình bày khái quát về lễ hội tại tháp Po Ina Nagar, Am Chúa và đền Thánh Mẫu đệ nhất tiên thiên. Trong các công bố vào năm 2015 và 2016 là “Tín ngƣỡng thờ mẫu tứ phủ của ngƣời Việt ở Khánh Hòa” và “Tín ngƣỡng thờ Thiên Y A Na của ngƣời Việt ở Khánh Hòa”, Nguyễn Văn Bốn đã bổ sung thêm nhận thức mới vào bức tranh thờ mẫu trƣớc đó. Tác giả đã có thêm thông tin về các đền phủ tƣ nhân, nghi lễ hầu đồng và hát văn kèm theo, đồng thời cũng có một vài phác họa về tín đồ đạo mẫu với hoạt động thờ cúng bổn mạng.
Đóng góp quan trọng của Nguyễn Văn Bốn là đã chỉ ra các địa điểm thờ mẫu tƣ nhân. Tác giả cũng chƣa lý giải sự xuất hiện của Mẫu Thƣợng Thiên tại Khánh Hòa và mối quan hệ của mẫu 15 z thần này với các nữ thần của cƣ dân bản xứ mà chỉ khẳng định mẫu thần của ngƣời Việt ở Khánh Hòa bao gồm Mẫu thần Thiên Y A Na, Ngũ hành thần nữ và Mẫu Tứ phủ. Trong công bố tiếp theo, tác giả đã sử dụng tƣ liệu thực địa để minh họa cho các hình thức thờ cúng Thiên Y A Na tại Khánh Hòa.